Phát huy quan hệ xã hội trong vấn đề giáo dục trẻ em tự kỷ

07/12/2016 | 3381 | Quản trị viên | Kiến thức - Phương pháp can thiệp

Bài học đầu tiên và lớn lao nhất, trong đời sống của mỗi con người, phải chăng là ý thức được rằng : tôi được thương yêu vô điều kiện và tôi được kính trọng, vì tôi là một con nguời có giá trị tuyệt đối ?

cover1

PHÁT HUY QUAN HỆ XÃ HỘI

Trong Vấn Đề Giáo Dục Trẻ Em Tự Kỷ

GS : NGUYỄN Văn Thành 

Khóa Đào Tạo Năm III

Mùa Hè 2007


NỘI DUNG

Lời Mở Đường :

Ưu Tiên Số Một của chúng ta là gì ?

Chương MỘT : HỘI CHỨNG TỰ KỶ :

Hướng đến một lối nhìn khoa học và toàn diện

Chương HAINhững sinh hoạt chính yếu của con người

Chương BA: Trí Thông Minh Xã Hội

Chương Bốn: Những Cơ Sở Thần Kinh của Trí Thông Minh Xã Hội

Chương Năm: Bẩm Sinh và Môi Trường Giáo Dục

Chương SÁU : Hai bộ mặt « Bóng tối và Ánh sáng »…trong mỗi quan hệ đối tác xã hội

Lời Nói Cuối :Tư Duy Cấu Trúc trong lãnh vực Giáo dục

Phụ Trương MỘT : Xây dựng Quan Hệ Đồng Cảm và Bao Dung  với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ

 

Phụ Trương HAI: Những bài học từ dễ đến khó Trong Chương Trình CAN THIỆP SỚM

(dành cho trẻ em có nguy cơ tự kỷ từ 0 – 7 tuổi)

 

Phụ Trương Ba: Phát Huy « Tư Duy  không lời » nơi trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ…

Phụ Trương Bốn : Để giúp trẻ em có « nguy cơ Tự Kỷ » sử dụng và phát huy Ngôn Ngữ

PHỤ TRƯƠNG NĂM

Bốn con “Yêu Tinh”…

Trên mọi nẻo đường của Đất Nước

PHỤ TRƯƠNG SÁU :

Xây dựng lòng tự tin nơi con cái dưới 6 tuổi

Phụ Trương BẢY :

Tâm sự của Ông Lái Đò…

Thay lời kết luận, 

Lời Mở Đường :

Ưu Tiên Số Một của chúng ta là gì ?

 

Nhằm trình bày và khảo sát về Hội Chứng Tự Kỷ, tôi đã được lần lượt xuất bản ba tác phẩm khác nhau :

Cuốn sách thứ nhất mang tựa đề « Trẻ Em Tự Kỷ », có mặt lần đầu tiên vào năm 2005, trên các tờ báo thông tin vi tính, ở trong và ngoài Nước. Một cách đặc biệt trong tác phẩm nầy, tôi đã khảo sát 5 triệu chứng, nhằm giúp đỡ cha mẹ và những những người có liên hệ xa gần, trong vai trò phát hiện những trẻ em mang hội chứng tự kỷ, từ những giây phút đầu tiên, khi một vài rối loạn vừa mới thoáng lộ diện.

Càng phát hiện sớm, như tôi đã nhấn mạnh, chúng ta càng hội tụ nhiều cơ may, khả dĩ giúp đỡ những trẻ em nầy mau chóng thích nghi với đời sống và môi trường xã hội.

Hẳn thực, từ 0 đến 6 tuổi, trẻ em đang còn ở trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển, trên mọi bình diện, thuộc đời sống cơ thể cũng như trong đời sống xã hội, từ những sinh hoạt vui đùa với bạn bè cùng trang lứa, đến những qui luật cần tuân hành ở môi trường học đường…Cũng trong thời gian và lứa tuổi nầy, hệ thần kinh trung ương hay là não bộ, với ba giai tầng khác nhau là Thân Não, Hệ Viền và Tân Vỏ Não, còn ở trong tình trạng mềm dẽo, dễ uốn nắn, chuyển hóa và điều chỉnh. Thậm chí những chương trình mang tên là bẩm sinh hay di truyền còn tùy thuộc vào khả năng tác động của môi trường giáo dục gia đình. Những quan hệ của cha mẹ, giống như nước tưới, đất màu hay là ánh sáng mặt trời, có thể mở ra hai con đường : làm cho hạt giống bẩm sinh phát triển thành cây lớn mạnh, hay là tàn lụi ung thối, vì không hội tụ đầy đủ điều kiện dưỡng sinh thuận lợi.

Cuốn sách thứ hai, xuất bản vào năm 2006, với tựa đề « Nguy Cơ Tự Kỷ , từ 0 đến 7 tuổi », đề xuất hai mục tiêu rõ rệt :

Thứ nhất, để can thiệp một cách khoa học và hữu hiệu, nghĩa là có khả năng mang lại những thành quả cụ thể và khách quan, cho trẻ em đang có những rối loạn thuộc hội chứng tự kỷ, chúng ta cần cưu mang trong nội tâm, thái độ sáng suốt và tỉnh thức. Người làm cha mẹ, các giáo viên cũng như chuyên viên thuộc nhiều ngành nghề khác nhau, không thể « chầm chày may rủi », nhắm mắt đưa chân, áp dụng một cách máy móc tự động những chương trình có sẵn trong tầm tay, hay là những phương pháp trừng trị và ức chế theo kiểu « xưa bày nay làm ».

Tư duy cấu trúc, trái lại, đề nghị chúng ta hãy ý thức một cách sáng suốt : Tôi đang ở đâu ? Bắt đầu từ khởi điểm nào ? Đi đến đâu ? Đi con đường nào ? Vì lý do gì ? Đi với phương tiện nào ? Đi theo những bước tiến lên từ dễ đến khó như thế nào ? Sau một thời gian tác động hay là can thiệp, chúng ta cần làm gì, nhằm đánh giá công việc và kết quả ? Khi nhận thấy mình đã đi sai đường, chúng ta sẽ vận dụng những biện pháp chuyển hóa như thế nào ?

Một câu hỏi cuối cùng, nhưng rất quan trọng mà chúng ta thường bỏ quên, nằm trong lãnh vực xúc động : chúng ta thực hiện bao nhiêu động tác đi lên ấy, với một thái độ và tâm trạng như thế nào ? Hạnh phúc và thoải mái, an lạc và tự tin ? Hay là xao xuyến, căng thẳng và loạn động, nhất là với một ý đồ toàn năng, siêu ý định và siêu ý chí ?

Với những điều kiện nội tâm như vậy, chúng ta dễ có xu thế áp đặt từ ngoài và từ trên, những chương trình phản ảnh tham vọng của chúng ta, thay vì lắng nghe, tìm hiểu nhu cầu chính đáng của trẻ em.

Ngoài ra – đây là mục tiêu thứ hai của tác phẩm – mỗi trẻ em tự kỷ là một thế giới đặc thù và riêng biệt. Vừa khi ra khỏi lòng mẹ, và thậm chí trong lúc còn ở trong tử cung, bất kỳ trẻ em nào không phải là một loại « vườn không nhà trống ». Chúng ta muốn trồng gì vào đó, thì trồng. Xây gì lên trên ấy, thì xây. Trái lại, trong mỗi tế bào thần kinh của não bộ, thể theo lối nhìn và kết quả nghiên cứu công phu của tác giả Douglas M. ARONE, bao nhiêu chương trình đã được cài đặt và khắc sâu đậm nét.

Trong tầm tay và điều kiện cụ thể của mình, môi trường có trách nhiệm làm những gì, từ khi trẻ em vừa ra chào đời ?

- Trước hết, vun tưới và củng cố những chương trình cần củng cố và vun tưới ?

- Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi, để chuyển hoá, uốn nắn lại hay là điều chỉnh những gì đã bắt đầu có hướng đi lệch lạc ?

- Sau cùng, khi mầm mống tự kỷ đã có mặt, môi trường giáo dục có trách nhiệm làm những gì, không chần chờ, hẹn rày hẹn mai, để cản trở mầm mống ấy ngày ngày trở nên một cây cổ thụ, « một sự đã rồi », lúc trẻ em lên 7 tuổi ?

Môi trường là ai, nếu không phải là chính chúng ta tất cả, không trừ sót một ai ?

Thay vì xuyên qua liếc nhìn lẫn tránh hay là lời nói xiên xẹo, nhằm đổ lỗi, tố cáo cho các bậc làm cha mẹ … ai trong chúng ta cảm thấy mình có vai trò nâng đỡ các bà mẹ trẻ đang khổ đau, tê liệt ? Phải chăng chúng ta hãy bước lại gần, giải thoát những mặc cảm tội lỗi vô căn cứ, đang đè nặng lên tâm tư của họ ?

Ngoài ra, nhằm chu toàn ba trách vụ vừa được nói tới, là : Vun tưới,  Chuyển hóa và  Cản trở, chúng ta không thể không học.

-         Học nhìn đứa con, với một lối nhìn trinh nguyên, trong trắng, chưa có vết tích của khổ đau bóp méo và xuyên tạc.

-         Học nghe đứa con, với vành tai xôn xao, chưa vướng mắc vào một nỗi lo sợ đang trấn áp mọi sức sống vươn lên.

-         Học tiếp xúc và trao đổi, thậm chí với đứa con đang gặp những khó khăn lớn lao, trong lãnh vực quan hệ xã hội thông thường, hằng ngày.

Hẳn thực, trước khi có khả năng phát huy ngôn ngữ đang được sử dụng trong môi trường gia đình, phải chăng đứa bé sơ sinh đã « chuyện trò » với người mẹ bằng cách nầy hay cách khác, bắt đầu với « tiếng khóc chào đời ». Trong câu chuyện đầu tiên ấy, phải chăng đứa con đã được đón nhận và chấp nhận vô điều kiện, với tư cách là một con nguời toàn bích và toàn diện, đang từ từ mở ra cánh cửa nội tâm, để thu hóa những đóng góp của môi trường và thế giới bên ngoài ? Mỗi đứa con có một tốc độ nhanh hay chậm khác nhau. Một gốc tre, chẳng hạn, từ ngày được trồng xuống lòng đất, phải đợi chờ chung quanh 3 năm, mới có thể nảy ra một chồi măng đầu tiên. Một người tự kỷ cũng vậy, như trường hợp của Sean BARRON, phải đợi chờ 25 năm, mới bắt đầu trao đổi chuyện trò qua lại với người mẹ sinh ra mình.

Chính vì bao nhiêu lý do vừa được giới thiệu một cách sơ phác, cuốn sách thứ ba nầy về Hội Chứng Tự Kỷ, mang tựa đề : « Phát huy những quan hệ xã hội, trong vấn đề giáo dục trẻ em tự kỷ ».

Lý do đầu tiên thúc giục tôi xếp đặt quan hệ xã hội, lên hàng ưu tiên số một, vì tất cả trẻ em tự kỷ đang gặp những khó khăn trầm trọng và chủ yếu, trong lãnh vực nầy.

Lý do thứ hai phản ảnh những thành quả mới nhất, trong các công trình nghiên cứu về Hội Chứng Tự Kỷ, ở Âu Tây cũng như ở Bắc Mỹ. Hẵn thực, đầu năm 2006, trong một tác phẩm có tầm cỡ quốc tế, tác giả Daniel GOLEMAN đã nhấn mạnh vai trò của Trí Thông Minh Xã Hội, trong mọi lãnh vực sinh hoạt thuộc đời sống làm người.

Trí thông minh xã hội bắt đầu chớm nở, khi trẻ sơ sinh nhìn thẳng vào hai mắt của người mẹ.

Trí thông minh xã hội đã có mặt, nảy mầm đâm mộng, vào những lúc hai mẹ con sung sướng trao đổi nụ cười với nhau, nhất là sau khi trẻ sơ sinh đi vào lứa tuổi 2-3 tháng.

Trí thông minh xã hội đã có mặt, khi đứa bé biết ngoảnh mặt nhìn nơi khác, trong một vài giây đồng hồ, nhằm giải tỏa những căng thẳng đang leo thang trong nội tâm của mình. Chính lúc ấy, nếu ý thức được rằng những kích thích hiện tại của mình đang vượt quá ngưỡng chịu đựng của đứa con, bà mẹ sẽ biết dừng lại, hay là sáng tạo những loại kích thích khác.

Làm được như vậy, bà đang giúp đứa con phát huy trí thông minh xã hội của mình, xuyên qua cách chọn lựa và quyết định « khi nào mở ra, khi nào đóng lại » khả năng tiếp thu và hội nhập của mình.

Bài học đầu tiên và lớn lao nhất, trong đời sống của mỗi con người, phải chăng là ý thức được rằng : tôi được thương yêu vô điều kiện và tôi được kính trọng, vì tôi là một con nguời có giá trị tuyệt đối ?

Ngoài ra, khi trí thông minh xã hội được ngày ngày phát triển như vậy, một đường giây thần kinh sẽ xuất hiện trong não bộ, nhằm nối kết các trung tâm khác nhau của Hệ Viền và Tân Vỏ Não. Nhờ vào đó, những sức ép hay là xung năng tự nhiên và bồng bột của Hạnh Nhân sẽ từ từ nhận được ánh sáng điều hướng và điều hợp của Thùy Trán thuộc Tân Vỏ Não đưa xuống. Ngược lại, Hạnh Nhân thuộc Hệ Viền gửi lên những tin tức, sau khi tham cứu Kho tàng hoài niệm là Hải Mã. Dựa vào đó, Thùy Trán có thể đề xuất những chương trình hành động vừa có tình vừa có lý, vừa phản ảnh những giá trị và ý nghĩa làm người, vừa thích ứng với những nhu cầu của thực tế và thực tại.

Khi hiểu rõ những cơ chế sinh hoạt của Trí thông minh xã hội, được thể hiện một cách cụ thể trong những đường dây thần kinh đi lên và đi xuống như vậy, cha mẹ, người giáo viên và các chuyên viên có thể hợp tác với nhau. Cùng nhau, họ sẽ sáng tạo những dụng cụ, những phương tiện, những cách làm, nhằm bổ túc những gì đang còn thiếu vắng, điều chỉnh lại những gì đang sai lệch và kiện toàn những gì chưa hoàn chỉnh, trong bản thân và đời sống của chính mình. Nhờ vào đó, một trẻ em tự kỷ sẽ thừa hưởng nhiều cơ may và điều kiện thuận lợi, khả dĩ chuyển hóa bản thân và cuộc đời có nguy cơ của mình.

Trong tinh thần và ý hướng giáo dục như vậy, cuốn sách thứ ba nầy sẽ lần lượt trình bày và giới thiệu trong những chương kế tiếp, những trọng điểm chính yếu như sau :

-         Trong chương Một, tôi sẽ trùng tuyên, một cách đầy đủ và tổng hợp về 3 Triệu Chứng chính qui và đặc hiệu thuộc hội chứng Tự Kỷ Cầu Vồng. Thay vì chỉ mô tả những hiện tượng bên ngoài, tôi sẽ nhấn mạnh một sự kiện có tầm mức quan trọng, trong lãnh vực quan hệ tiếp xúc và trao đổi. Hẳn thực, khi từ giả cung lòng ấm cúng của người mẹ, đứa bé sơ sinh cần một cung lòng ấm cúng khác, để lớn lên và phát triển, trong môi trường xã hội. Cung lòng ấm cúng nầy không còn là Tử Cung của bà mẹ. Cung lòng nầy được kết dệt bằng những nụ hôn, bằng những bàn tay xoa bóp. Bằng những giọng hò ru con, người mẹ và những ai « đại diện mẹ », gọi về trong giấc mơ và tâm tuởng của con, cả một giang sơn đất nước, bao nhiêu tầng tầng lớp lớp anh chị em đồng bào. Trong khung cảnh hồn thiêng sông núi ấy, khi nằm một mình trong nôi đứa bé đã biết nhếch miệng mỉm cười – một nụ cười sinh lý -  « với Bà Mụ, Bà Tiên, Bà Âu Cơ ». Nụ cười vô thức ấy sẽ từ từ chuyển qua nụ cười xã hội có ý thức, nếu có người đang có mặt với con, chớp thời cơ, để nhìn con, khen con, chuyện trò với con. Bắc lên cho con những nhịp cầu, với người có mặt, cũng như với người không có mặt, nhưng đang hiện diện tràn đầy, để kiến tạo một « cái KHUNG » bao bọc chiếc nôi của con và tạo an toàn cho con.

-         Chương Hai sẽ liệt kê và trình bày 5 loại sinh hoạt khác nhau, nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau, nhằm xây dựng và không ngừng tô điểm nội tâm của con người. Tôi đồng ý một phần nào với Simon BARON-COHEN, khi tác giả nầy khẳng định rằng trẻ em tự kỷ không có NỘI TÂM. Nhưng Nội Tâm, trong tầm nhìn của tác giả, không phải chỉ là Thinking hay là Thinking Mind, nghĩa là Tư Duy mà thôi. Thêm vào đó, tư duy chỉ là một công đoạn duy nhất, thuộc về một quá trình gồm có nhiều thành tố giao thoa và kết hợp với nhau, như : Năm giác quan, Xúc động, Ngôn ngữ và Quan hệ qua lại giữa người với người.

Vì lý do sư phạm và vấn đề trình bày, tôi không thể KHÔNG phân biệt trong và ngoài, truớc và sau, giữa 5 thành tố ấy. Tuy nhiên, trong thực tế sinh hoạt, năm thành tố mà tôi vừa liệt kê, tác động qua lại hai chiều, giao thoa chằng chịt với nhau, cưu mang và phát huy, nhưng cũng có thể cản trở và hạn chế lẫn nhau.

Bao nhiêu nhận xét ấy nhằm nhấn mạnh một sự kiện chất chứa nhiều ý nghĩa : khi trẻ em không có hay là từ chối quan hệ, phải chăng đó là một cách khẳng định rằng : Tôi muốn, tôi cần một loại quan hệ hoàn toàn khác. Thay vì những loại quan hệ độc chiều, như tố cáo, trừng phạt, áp đặt…để làm người và thành người, tôi cần nhất là những quan hệ đồng cảm và lắng nghe. Khi tôi không nói, không nhìn, chính khi ấy, tôi đang diễn tả mình, với một loại « ngôn ngữ không lời ». Sở dĩ tôi rút lui, thu mình trong vỏ ốc tự kỷ, phải chăng vì tôi đang cần một quan hệ an toàn.

Và loại quan hệ an toàn ấy đang còn vắng mặt, một cách trầm trọng, trong môi trường giáo dục ngày hôm nay. Ai trong chúng ta có khả năng nhạy bén, để lắng nghe, ghi nhận và tôn trọng ý nghĩa của « câu chuyện không lời » ấy ?

 -         Chương Ba phản ảnh công trình nghiên cứu và tổng hợp của Daniel GOLEMAN. Toàn bộ tác phẩm của tác giả nầy, nhằm trả lời một cách rốt ráo cho vấn nạn : Trí Thông Minh Xã Hội là gì ? Trong hiện tại, quan niệm về Trí Thông Minh Tổng quát, đang được dạy dỗ trong môi trường học đường, đã đẩy đưa toàn thể nhân loại khắp đó đây, từ đông qua tây, từ bắc xuống nam, vào vòng sản xuất, tiêu thụ, làm ô nhiễm môi trường, chế tạo vũ khí và bốc lột con người. Cho nên đã đến lúc, vấn đề cần được đặt ra và khảo sát về Trí Thông Minh Xã Hội, nhằm lột trần và phơi bày một cách can đảm, trước mắt mọi người, hai câu hỏi cơ bản.

Câu hỏi thứ nhất : Mục đích của con người sinh ra trong trời đất, phải chăng là SỐNG HẠNH PHÚC ?

Câu hỏi thứ hai : Khi hai con người lại gần, trao đổi và tiếp xúc với nhau, phải chăng họ tìm cách tạo ra cho nhau mọi điều kiện thuận lợi, để giúp nhau thành người ? Trong thực tế của xã hội ngày nay, con người khắp nơi, trên mặt địa cầu, có xu thế tranh chấp, tàn sát, hoại diệt lẫn nhau, trên mọi bình diện, thậm chí trong những cộng đoàn và cộng đồng mang tính cách tôn giáo, với chí hướng phục vụ nhân loại. Còn có chăng một loại người vẫn ngày ngày thắp sáng lý tưởng làm người và cố quyết sống tình người với nhau ?

-         Trong Chương Bốn, một câu hỏi quan trọng được nêu lên : Trí Thông Minh Xã Hội  có những cơ sở và tổ chức thần kinh như thế nào ?

Các nhà khoa học về Thần Kinh Não Bộ đã khẳng định : Không có ba loại cấu trúc thần kinh đặc thù và chuyên môn, dành cho ba loại Trí Thông Minh khác nhau như Tổng Quát, Xúc Động và Quan Hệ Xã Hội. Trái lại, khi hoạt động và phát triển, mỗi loại trí thông minh từ từ sáng tạo và củng cố những đường dây chuyên biệt cho mình. Nhằm gửi tin đi, hay là nhận tin đến, những đường dây thần kinh  nầy nối kết lại với nhau các trung tâm đã có sẵn thuộc 3 giai tầng cấu trúc là : Thân Não, Hệ Viền và Tân Vỏ Não. Một cách đặc biệt, Trí Thông Minh Xã Hội hoạt động với hai đường dây chính yếu. Đường thứ nhất mang tên là Đai lộ phía trên (High Road), nối kết Thùy Trán và các Thùy khác thuộc Tân Vỏ Não với Cấu Trúc Hạnh Nhận thuộc Hệ Viền. Đường thứ hai mang tên là Đại lộ phía dưới (Low Road), phát xuất từ Hạnh Nhân và có liên hệ với những cơ quan thuộc Giai tầng Thân Não và Tiểu Não. 

Điều đáng chúng ta quan tâm một cách đặc biệt là càng hoạt động một cách tích cực, Trí Thông Minh Xã Hội càng củng cố và tăng cường những đường dây thần kinh não bộ của mình, về mặt lượng cũng như về mặt phẩm.

Thêm vào đó, bao lâu trí thông minh xã hội càng được chúng ta vận dụng và kích hoạt, ngược lại với những tin tưởng và thành kiến trước đây, những tế bào thần kinh vẫn luôn luôn được tái sinh và đổi mới…

Ngoài ra, các điểm giao liên giữa các tế bào, còn mang tên chuyên môn là khớp xi-nắp, càng ngày càng nhân ra thêm nhiều, nếu có nhu cầu đổi mới hay là thay thế. Nói một cách vắn gọn, càng vận dụng một cách tích cực Trí Thông Minh Xã Hội, để đáp ứng những nhu cầu của cuộc sống, chúng ta càng tái tạo và đổi mới Hệ Thần Kinh Não Bộ.  

Chương Năm sẽ bàn thêm về quan hệ tác động qua lại giữa Bẩm sinh và Môi trường, hay là giữa Gên và ảnh hưởng của giáo dục.

Hẳn thực, nếu giả thuyết về « nguồn gốc hay là nguyên nhân của hội chứng tự kỷ là Gen hay là Bẩm Sinh » được chứng minh, một cách khoa học và khách quan, chúng ta cũng chưa thể nào khẳng định rằng : Một trẻ em mang Gen tự kỷ, sẽ suốt đời là người tự kỷ. Trường hợp Gen không được kích hoạt, để có thể nẩy mầm đâm mộng, nhờ vào ảnh hưởng giáo dục có khả năng tạo ra cho trẻ em những quan hệ xã hội tích cực, xây dựng, an toàn và vui tươi, sung sướng, làm sao một trẻ em có thể trở nên người tự kỷ ?

Nếu trong vòng 3 năm đầu tiên, chương trình tự kỷ có sẵn trong tế bào thần kinh, không được môi trường kích động, khởi động, nghĩa là được chuyển biến thành hiện thực, chương trình ấy sẽ bị vô hiệu hóa và tạn lụi vĩnh viễn. Tin tức nầy mở ra trước mặt chúng ta một Đại Lộ thênh thang đầy lạc quan và hứa hẹn. Nhưng đồng thời, tin tức khoa học ấy đang gây ý thức về một trách nhiệm lớn lao : Số phận và ngày mai của trẻ tự kỷ nằm trọn trong lòng bàn tay và quyết định của chính chúng ta.

Trong tinh thần phục vụ trẻ em tự kỷ, tiếp theo những nhận xét vừa được trình bày, tôi sẽ đề nghị một số sinh hoạt như sau :

Mục tiêu cần nhắm tới, và ngày ngày chuyển biến thành hiện thực, bằng những động tác cụ thể, là tạo cho trẻ em những quan hệ hài hòa, có mặt, lắng nghe, tôn trọng, đồng cảm và vui tươi.

Về mặt kỹ thuật, chúng ta sử dụng những hình ảnh của trẻ em và những người thân như cha, mẹ, anh, chị em…, những cuốn phim ghi hình trực tiếp, khi trẻ em buồn, sợ, giận, vui sướng.

Tất cả những phương tiện nầy, cọng với ngôn ngữ hồn nhiên và sống động của chúng ta, nhằm phản ảnh cho trẻ em thấy mình, nghe mình, nhìn vào khuôn mặt của mẹ và của cha, trên các tấm hình.

Mục dích cuối cùng mà chúng ta luôn luôn nhắm tới, trong những sinh hoạt vui chơi và phản ảnh, như vừa được trình bày, là kích thích những tế bào hình suốt (spindle cells), cũng như những tế bào phản ảnh (mirror neurons), có mặt trong các đường dây thần kinh sau đây :

-         Đường dây nối kết Hạnh Nhân với Thùy OFC (Orbito-Frontal Cortex, Thùy Trán-Ô mắt),

-         Đường dây nối kết Hạnh nhân với Thùy ACC (Anterior Cingulae Cortex, Thùy Đai Phía Trước).

Khi hai đại lộ thần kinh não bộ « phía trên nầy » hoạt động mạnh, trẻ em tự kỷ sẽ từ từ tiến lên khả năng thiết lập những quan hệ xây dựng và hài hòa với người khác, trong bất cứ môi trường xã hội nào.

Chương Sáu mang tựa đề « Hai bộ mặt : Bóng Tối và Ánh Sáng… ». Chương cuối cùng nầy đặc biệt dành cho những người có trách vụ giáo dục và phục vụ trẻ em có nguy cơ tự kỷ. Nhằm giúp đỡ một cách hữu hiệu con em và học sinh của mình, phải chăng cha mẹ và các giáo viên, hơn ai hết, cần hiểu rõ mình là ai, đang mang những bộ mặt nào, khi thiết lập quan hệ với trẻ em, cũng như khi phản ảnh những xúc động của các em. 

Trong chương Sáu với tựa đề Hai Bộ Mặt « Bóng Tối và Ánh Sáng » trong mỗi quan hệ đối tác xã hội, tôi sẽ bàn đến ảnh hưởng của Xúc Động, trong đời sống của con người.

Trong lời Nói Cuối, tôi sẽ nhắc lại ba nhiệm vụ giáo dục :

-         Thiết lập những quan hệ đồng cảm với trẻ em,

-         Giúp trẻ em diễn tả những xúc động,

-         Phát huy tư duy cấu trúc, khi giải quyết vấn đề 

Trong toàn bộ cuốn sách, khi bàn về vấn đề thiết lập và phát huy những quan hệ với trẻ em, phải chăng chúng ta cần lắng nghe lại những lời nhắn nhủ của Tổ Tiên và Cha Ông : 

-         Có công mài sắt ắt ngày thành kim.

-         Kiến tha lâu đầy tổ.

-         Nước chảy đá mòn.

-         Mẹ già như chuối ba hương,

Như xôi nếp một, như đường mía lau.

-         Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Nhờ những bài học nầy làm điểm tựa, chắc chắn chúng ta tất cả có thể « dời núi, lấp sông », cho trẻ em, vì trẻ em và với trẻ em.

 

Sách tham khảo trong Lời Mở Đường:

1)  Daniel GOLEMAN – Social Intelligence  -   Hutchinson, London 2006.

2) Judy & Sean BARRON – Moi, l’enfant autiste – Plon 1933.

- There’s a boy in here – Simon&Schuster, N.Y. 1991.

3) Jacques SALOMÉ – Heureux qui communique – Albin Michel, Paris 1993.

4) M.B. ROSENBERG – Enseigner avec bienveillance – Jouvence, 2006.

5) Douglas M. ARONE  - The Theorem  -  O Books, Winchester UK 2005.

 


Quay lại Mục lục


Chương MỘT : HỘI CHỨNG TỰ KỶ :

Hướng đến một lối nhìn khoa học và toàn diện

 

1. Năm dấu hiệu cổ điển của Hội Chứng Tự Kỷ

Trong 2 cuốn sách, được xuất bản ở Việt Nam, vào những năm 2005 và 2006 (1), tôi đã nói đến 5 triệu chứng hay là dấu hiệu chính qui và cổ điển, cần được phát hiện và xác định, một cách cụ thể và khách quan, khi chúng ta cưu mang trong tâm tưởng, những « nghi vấn » về Hội chứng Tự Kỷ đang thành hình và xuất diện, nơi một trẻ em, trong khoảng thời gian từ 0 đến 7 tuổi.

-         Dấu hiệu thứ nhất là đời sống bít kín : Trẻ em không có những quan hệ tác động qua lại với những người khác, cùng có mặt trong môi trường sinh sống, thậm chí với bà mẹ đã sinh ra mình,

-         Dấu hiệu thứ hai nằm trong lãnh vực ngôn ngữ : Ngôn ngữ thiếu vắng hoàn toàn, từ những giai đoạn bi bô, bập bẹ, hay là có những rối lọan trong thể thức sử dụng các loại đại danh từ khác nhau như mày và tôi…

-         Dấu hiệu thứ ba là những phản ứng « bùng nổ », trong lãnh vực xúc động, kèm theo những hành vi tự hủy, làm hại chính mình, hay là những tác phong bạo động đối với kẻ khác,

-         Dấu hiệu thứ bốn là những hành vi « lặp đi lặp lại », một cách tự động, cơ hồ một chiếc máy ghi và phát âm,

-         Dấu hiệu thứ năm là những sở thích kỳ dị, lạ thường, như nhún nhảy, quay tròn, đưa 5 ngón tay ve vẫy trước mắt, say mê nhìn ngắm những hạt bụi, những tia nắng xuyên qua một kẻ hở, hay là sắp xếp đồ chơi thành hàng…Thêm vào đó, vài trẻ em có những cơn động kinh nhẹ hay nặng, với những hiện tượng như sùi bọt mép, mất ý thức,  tiểu tiện trong quần và cắn răng vào luỡi. 

2.- Những trọng điểm cần nhấn mạnh

Mỗi khi liệt kê và trình bày năm triệu chứng trên đây, tôi luôn luôn cố tình nhấn mạnh thêm những trọng điểm sau đây  

a)  Vừa khi chúng ta khám phá và xác định một dấu hiệu đang thành hình và xuất hiện nơi trẻ em, công việc cần thực thi tức khắc, không trì hoản là Can Thiệp Sớm, nhằm chận đứng hoặc giới hạn ảnh hưởng lan tỏa của dấu hiệu nầy, trong nhiều lãnh vực phát triển khác nhau.

b)  Bao lâu tất cả 5 dấu hiệu chưa được hội tụ một cách đầy đủ, khách quan và chính xác, cũng như khi trẻ em còn ở trong lứa tuổi tăng trưởng và phát triển  -  từ 0 đến 7 năm  -   thái độ « khoa học » của chúng ta là khiêm cung và dè dặt. Chúng ta không sử dụng một cách vội vàng nhãn hiệu « Hội Chứng Tự Kỷ », bao lâu hệ thần kinh trung ương chưa hoàn tất tiến trình myêlin-hóa các đường dây liên lạc của mình. Thay vào đó, lối nói « có nguy cơ Tự Kỷ » được đề nghị và cần được trở nên thông dụng, trong những trao đổi thông tin giữa các bác sĩ và chuyên viên, cũng như giữa giáo viên và phụ huynh của học sinh.

c)   Ngoài ra, đối với cha mẹ đến tham vấn, những nhận định của chúng ta về nguy cơ Tự Kỷ nơi đứa con của họ, có thể gây ra nhiều ấn tượng hoang mang, khắc khoải, lo sợ và mặc cảm tội lỗi… nếu chúng ta không trình bày những tin tức khoa học đơn sơ và cụ thể, cũng như đề nghị thêm những  lời hướng dẫn, hay là những cách làm thuộc khả năng và ở trong tầm hoạt động thường ngày của họ.

d)   Một cách đặc biệt, khi câu hỏi về Nguyên Nhân của Hội Chứng Tự Kỷ được nêu lên, chúng ta cần khẳng định, một cách rõ ràng và dứt khoát là vấn đề đang ở trong vòng nghiên cứu khoa học. Một trong những yếu tố càng ngày càng được đề xuất, trong lãnh vực y khoa, là những rối loạn, trắc trở, trong tiến trình tăng trưởng và phát triển của Hệ Thần Kinh Trung Ương, còn mang tên là Não Bộ. Ngoài ra, một số tác giả đã nhấn mạnh giả thuyết về những quan hệ lạnh nhạt, vô cảm của cha mẹ. Lối giải thích nầy, thường được nêu lên vào những năm 1950, đã gây tổn thương một cách trầm trọng cho bao nhiêu tầng lớp cha mẹ. May thay, đường hướng tiếp cận vấn đề như vậy, dần dần có xu thế mất hiệu năng và  tàn lụi, trong các công trình nghiên cứu ngày nay.

Nhằm phát huy tinh thần và lối nhìn Khoa Học vừa được đề xuất, chương nầy sẽ lần lượt giới thiệu những tin tức bổ sung, đổi mới và có khả năng soi sáng, cho những ai luôn luôn ở trên đường tìm kiếm, học hỏi.                                              

3.-Những Rối loạn Tự Kỷ Cầu Vồng muôn Sắc (Spectrum Disorders)

Khi nói đến Hội Chứng Tự Kỷ, chúng ta cần lưu tâm đến nhiều đặc điểm quan trọng đang có mặt với nhau, cùng một lúc :

-         Thứ nhất, Hội Chứng Tự Kỷ bao gồm nhiều triệu chứng khác nhau. Trên đây, tôi đã liệt kê 5 triệu chứng, thường được nhắc lui nhắc tới, trong các tác phẩm chuyên môn.

-         Thứ hai, Tự Kỷ không phải là một Hội chứng đơn thuần và duy nhất. Thể theo tác phẩm DMS-4 (2), được giới Y Khoa Hoa Kỳ chọn làm tài liệu qui chiếu, Tự Kỷ còn được gọi là « Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa » (Pervasive Developmental Disorders, PDD). Hay là rối loạn nan quạt, rối loạn cầu vồng (spectrum disorders. Nói cách khác, đó là một Rối loạn quần thể hay là hợp thể, bao gồm 5 thể loại khác nhau, tùy theo giai đoạn xuất hiện, cũng như tùy vào mức độ trầm trọng khác nhau, được nhiều bác sĩ chuyên môn phát hiện, ở nhiều thời điểm khác nhau, nơi trẻ em từ 0 đến 8 tuổi.

-         Thứ ba, cũng trong tác phẩm DMS-4, năm triệu chứng cổ điển, như tôi đã trình bày trên đây, được gom góp lại thành 3 triệu chứng đặc hiệu và chính qui : 

        Triệu chứng thứ nhất nằm trong lãnh vực Quan Hệ Xã Hội,

        Triệu chứng thứ hai nằm trong lãnh vực Ngôn Ngữ. Phải chăng ngôn ngữ của người tự kỷ là một phương tiện Thông Đạt, có mục đích và ý nghĩa là Diễn Tả Chính Mình và đồng thời lắng nghe, tìm hiểu quan điểm của kẻ khác ?

        Triệu chứng thứ ba nằm trong lãnh vực Hành vi và Sở Thích. Xuyên qua những xu thế « lặp đi lặp lại, hay là sắp thành hàng dài những đồ chơi… », phải chăng trẻ em muốn bộc lộ nhu cầu sống trong những cơ cấu tổ chức xã hội đã được ổn định, khả dĩ tạo nên một cảm nghiệm an toàn, không bị ai trừng phạt, đe dọa ?

   -   Thứ bốn, Hội Chứng Tự Kỷ, còn mang tên là Tự Kỷ Cầu Vồng (Spectrum autism), trong DMS-4, bao gồm 5 thể loại « Rối Lọan Phát Triển » khác nhau : 

        Rối loạn Tự Kỷ đặc hiệu và chính qui (Autistic Disorder),

        Rối loạn Asperger, còn được gọi là Tự Kỷ với trí thông minh trên trung bình (Asperger’s Disorder),

        Rối loạn Rett (Rett’s Disorder),

        Rối loạn thoái hóa thuộc thời thơ ấu (Childhood Disentegrative Disorder, CDD),

        Rối loạn phát triển lan tỏa: Không đặc hiệu (Pervasive Developmental Disorder: Not otherwise Specified, PDD:NOS).

-         Thứ năm, Hội chứng Tự Kỷ là một loại Rối Loạn Phát Triển, ở vào nhiều giai đoạn thuộc cùng một tiến trình lan tỏa, từ lãnh vực sinh hoạt nầy sang qua những lãnh vực khác, trong đời sống của con người. Do đó, khi mô tả các dấu hiệu cơ bản, cũng như khi đề nghị những thể thức can thiệp nơi trẻ em, chúng ta không thể không đề cập, một cách đồng đều, tất cả 5 loại sinh hoạt cơ bản khác nhau, nhưng có ảnh hưởng tác động qua lại hai chiều trên nhau (3) :

        1) Loại sinh hoạt thứ nhất là: Nhận thức giác quan và Tâm Vận Động, còn gọi là Cửa Vào của Nội Tâm (Input),

        2) Loại sinh hoạt thứ hai là: Tư duy,

        3) Loại sinh hoạt thứ ba là : Xúc động,

        4) Loại sinh hoạt thứ bốn là : Ngôn ngữ trao đổi và giao tiếp,

        5) Loại sinh hoạt thư năm là : Quan hệ tác động qua lại trong đời sống xã hội, còn gọi là Cửa Ra (Output).

        Cả 3 sinh hoạt ở giữa – Tư duy, Xúc động và Ngôn ngữ - thuộc về Tiến trình biến chế, chuyển hóa (Processing) của Nội tâm. Theo lối giải thích bình dân, Processing trong tiếng Anh có nghĩa là “kho nấu”, chuyển biến những vật liệu góp nhặt từ môi trường bên ngoài, thành của ăn nuôi sống con người, trên bình diện Tư Duy hay là Tâm Linh 

        Tôi đã định vị trí loại sinh hoạt « Quan Hệ tác động qua lại », ở Cửa Ra. Tuy nhiên, ở tại Cửa Vào, Quan Hệ cũng phải có mặt và đảm nhiệm một vai trò rất quan trọng, khả dĩ nâng cao phẩm chất của Nhận thức Giác Quan. Nói khác đi, Quan Hệ cũng là một loại kích thích có khả năng tăng cường hay là giảm hạ giá trị của các loại kích thích khác. Chẳng hạn, khi  có những cảm tình đặc biệt với một vị thầy, phải chăng tôi sẵn sàng thu hóa những bài dạy của vị ấy một cách dễ dàng và mau chóng hơn ? 

Thay vi triển khai một lối nhìn bao quát và toàn diện như vậy, nhiều tác giả hay là giáo viên, chỉ tập trung khả năng chú ý và thể thức tác động vào 1 hoặc 2 lãnh vực chủ yếu mà thôi, ví dụ như quá đề cao lãnh vực ngôn ngữ và không đánh giá đúng tầm những lãnh vực khác như Xúc động và Giác quan...

Vì lý do « siêu ý định và siêu chú ý » như vậy, khi tìm cách hóa giải một triệu chứng, chúng ta vô tình tạo ra điều kiện thuận lợi, cho một triệu chứng phó sản khác xuất hiện và khó khắc phục hơn. Cho nên, ích lợi gì, khi trẻ em suốt ngày phải học lặp đi lặp lại một đôi từ hay là một đôi câu, một cách máy móc tự động, như keo vẹt, để rồi sau đó  trở nên bị động và ù lì hoàn toàn trong các tác phong hằng ngày, xuyên qua mọi quan hệ với người lớn thuộc môi trường gia đình ? Ích lợi gì, khi chúng ta tìm cách ức chế hoặc trừng phạt một hành vi kỳ dị và lạ thường, nếu sau đó, trẻ em càng ngày càng cố thủ trong một nếp sống bít kín và cắt đứt mọi quan hệ xã hội với mọi người ?

Trong khuôn khổ của Chương MỘT nầy, nhằm bổ túc những gì còn thiếu sót, trong 2 tác phẩm đã được xuất bản, tôi sẽ lần lượt  trình bày những nét đặc trưng, thuộc mỗi Hội Chứng của « Tự Kỷ Cầu Vồng ». Những chương kế tiếp sẽ từ từ bàn đến những điều kiện thiết yếu, khi chúng ta xây dựng những kế hoạch tác động, trong những chương trình can thiệp, giáo dục . Một cách đặc biệt, tôi sẽ chú trọng vào hai lãnh vực xúc động và quan hệ xã hội, nhất là khi trẻ em còn ở trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi.

4.- Rối loạn Tự Kỷ Chính Qui và Đặc Hiệu (Autistic Disorder)

Danh xưng « Tự Kỷ » (Autism)  đã được Bác Sĩ Eugen BLEULER, người Thụy Sĩ (1857-1939) sử dụng lần đầu tiên, để mô tả triệu chứng nỗi bật nhất của chứng bệnh Tâm Thần Phân Liệt, nơi người lớn (Schizophrenia).

Vào năm 1943, Bác Sĩ Leo KANNER, người Mỹ gốc Áo, đã mượn lại danh xưng nầy, để mô tả Hội Chứng Tự Kỷ, được quan sát và phát hiện nơi 11 trẻ em,  giữa 2 đến 8 tuổi, trong suốt thời gian từ 1938 đến 1943 (4). Trong những năm kế tiếp, nhiều bác sĩ khác đã phát hiện nhiều hội chứng mới, có liên hệ ít nhiều với Hội Chứng Tự Kỷ nơi trẻ em, do Leo Kanner đã khám phá lần đầu tiên 

Mẫu số chung, khả dĩ nối kết lại với nhau tất cả 5 Hội Chứng thuộc Tự Kỷ Cầu Vồng, bao gồm 3 loại triệu chứng được gọi là « Chính Qui và Đặc Hiệu ». Nếu một trong ba thiếu vắng, không được xác định một cách khách quan và khoa học, Hội Chứng Tự Kỷ Cầu Vồng , còn mang tên là Rối Loạn Phát triển Lan Tỏa, sẽ không có lý do tồn tại.

Những dấu hiệu khác còn lại, ngoại trừ 3 Triệu Chứng Đặc Hiệu và Chính Qui, chỉ tạo nên những nét khác biệt giữa 5 Hội Chứng với nhau. Nhằm xác định những yếu tố phụ thuộc nầy, chúng ta cần khảo sát và khám phá thời điểm xuất hiện, mức độ trầm trọng, cũng như vai trò nhận thức bị hạn chế và quá thu hẹp của các giác quan khác nhau, có mặt trong các Rối Loạn nầy.

Triệu Chứng thứ nhất : Những rối loạn trong quan hệ tương tác giữa trẻ em và các thành viên khác thuộc môi trường gia đình và xã hội, gồm có những người lớn và các trẻ em cùng lứa tuổi.

        Các em thu hẹp hay là đóng kín mình, trong vũ trụ hoàn toàn riêng tư của mình,

        Các em không tìm cách tạo quan hệ gắn bó, hay là tác động qua lại hai chiều, với người lớn chung quanh, hoặc với trẻ em khác cùng lứa tuổi. Thậm chí với người mẹ sinh ra mình, hoặc với anh chị em sinh đôi, các em cũng không tham gia hoặc khởi động các trò chơi đơn giản như : « cúc cù, trốn tìm »…

         Người khác không được nhìn nhận và đón nhận như một chủ thể giống như mình, có khả năng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, cùng bao nhiêu kinh nghiệm và cảm nghiệm, trong đời sống thường ngày. Trái lại, họ chỉ được đối xử như là một dụng cụ hoặc phương tiện, được các em dùng, để thâu đạt một mục đích. Ví dụ trẻ em chỉ cầm tay mẹ, dẫn mẹ đi lấy nước uống cho mình, thay vì dùng lời nói hay cử chỉ, để diễn tả nhu cầu và nguyện vọng. Sự kiện nầy có thể được chấp nhận một phần nào, khi trẻ em không biết nói. Trong thực tế, với những trẻ em có khả năng nói, phát âm và đọc chữ…ngôn ngữ vẫn không phải là một dụng cụ để tạo quan hệ trao đổi qua lại, diễn tả ý định của mình và tìm hiểu nhu cầu của người đối diện.

        Một cách vắn gọn, tôi xin liệt kê một số dấu hiệu quan trọng khác như : - không có lối nhìn trực diện mắt nhìn mắt,

              - không phân biệt người lạ và quen, mặc dù tuổi đời đã vượt quá một năm, 

              - chung quanh 3-4 tháng, không biết mỉm cười với người thân, như bà mẹ của mình,

              - không tìm cách bắt chước bạn bè, để làm như, làm cho, làm với…

Chính vì những lý do vừa được liệt kê, bốn động tác « Xin, Cho, Nhận và Từ chối », một cách thanh thản, hài hòa, trong lãnh vực quan hệ giữa người với người, là bốn bài học rất cơ bản, nhưng rất khó học và khó làm, đối với tất cả mọi người, không trừ sót một ai. Cho nên 4 bài học nầy phải bắt đầu được dạy, với mỗi trẻ em, Tự Kỷ hay Không Tự Kỷ, từ khi vừa lọt lòng mẹ.

Triệu chứng thứ hai : Những rối loạn trong lãnh vực diễn tả và thông đạt sở thích, ý định và nhu cầu của mình 

        Mặc dù có khả năng phát âm, lặp lại các từ, đọc nhiều chữ hoặc nhiều câu, trẻ em không biết trao đổi, chuyện trò qua lại với một người thứ hai,

        Khi phát biểu, trẻ em thường hay lẫn lộn hai đại danh từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, tôi và mầy…

        Lặp lại như một chiếc máy phát âm, thậm chí những câu khá dài. Trẻ em hoặc lặp lại tức khắc, sau khi ghi nhận, hay là sau một thời gian cách khoảng,

        Không có khả năng hình dung hoặc giả bộ, như trong các trò chơi nấu ăn và mời nhau ăn…

        Không dùng những cử điệu « hình tượng », như vẫy tay chào tạm biệt, lúc ra đi,

        Không dùng ngôn ngữ có lời, hay là không lời như cử điệu, nét mặt… để diển tả, thông đạt, trao đổi với người khác về ý định của mình, hay là tìm hiểu nhu cầu của kẻ khác.

        Không nhìn theo hướng ngón tay, khi mẹ đưa tay chỉ một vật dụng. Trẻ em cũng không biết đứng từ xa đưa tay chỉ một đồ chơi mong muốn.

        Nói cách chung, ngôn ngữ, mặc dù có mặt, không phải là một dụng cụ, một phương tiện nhằm tạo ra nhịp cầu trao đổi, nối kết và đồng cảm với kẻ khác.

Triệu chứng thứ ba : Những rối loạn trong thể thức tiếp cận các sự vật và các sự cố, có mặt trong cuộc sống thường ngày.

Nhằm minh họa triệu chứng nầy, tôi bắt đầu nêu lên những sự kiện cụ thể và khách quan, được diễn đi diễn lại, trong cuộc sống thường ngày của trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ :

        Thay vì tiếp cận từng đồ chơi, theo chức năng tự nhiên của mình, ví dụ như ngòi bút chì dùng để vẽ, trái banh dùng để ném ra xa hay là đưa chân đẩy mạnh tới đằng trước…trẻ em chỉ xếp thành hàng với nhau, kề sát nhau, những đồ chơi của mình. Trẻ em có thể làm như vậy, một cách say mê suốt ngày. Thoảng hoạt, trẻ em dừng lại, đi quanh đó đây hay là làm một động tác khác… Nhưng sau đó, trẻ em lại trở lui với « công trình sắp xếp thành hàng » những đồ vật và đồ chơi của mình. Trẻ em sẽ bùng nổ, la hét, tức giận, bực bội, khi có người cất lấy đi, dời chỗ, hay là thay đổi thứ tự 

        Trẻ em cũng khư khư bám sát, bám chặt vào những chương trình, thứ tự, nghi thức, cách tổ chức, trong các sinh hoạt hằng ngày. Những chương trình và thứ tự nầy… hoặc là đã có sẵn trong cuộc sống, hoặc là do chính trẻ em áp đặt và ấn định một cách đơn phương. Một vài thay đổi nho nhỏ không được báo trước hay là không được chuẩn bị, trong các nề nếp và qui luật bất di bất dịch ấy, sẽ tạo nên nơi trẻ em, những cơn khủng hoảng trầm trọng, những cuộc bùng nổ rộn ràng, những phản ứng chống đối gay gắt. 

        Hình dung một cảnh tượng sắp xãy ra hoặc đang có mặt ở một nơi khác, thao tác những trò chơi giả bộ, hay là tìm hiểu ý nghĩa trừu tượng và hình tượng của một bức tranh, một câu chuyện, cũng như nhìn vào nét mặt để khám phá ý định và tâm tình của một người khác…  tất cả những sinh hoạt ấy hoàn toàn vượt ra ngoài khả năng tiếp thu và hiểu biết của một trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ. 

Tất cả ba loại sự kiện ấy cho chúng ta thấy rõ : Trẻ em có Hội Chứng Tự Kỷ, có xu thế hạn chế và khoanh vùng cuộc sống của mình, vào những thứ tự ổn định. Trái lại, những sự cố sắp xãy ra trong tương lai gần và xa, đối với các em, là những gì không hiện hữu, là số không.

Cho nên, đặt mình vào vị trí của kẻ khác, đồng cảm với họ, tìm hiểu ý định và nhu cầu của họ, là những khả năng mà các em khó tiếp thu và hội nhập. Sở dĩ như vậy, vì các em từ những giây phút đầu tiên của cuộc đời, đã gặp những trắc trở tày đình: không THẤY như kẻ khác thấy, không NGHE như kẻ khác nghe, không CẢM XÚC và TIẾP CẬN với LÀN DA, như kẻ khác, với kẻ khác và nhờ kẻ khác. 

Nói cách khác một cách đơn sơ và vắn gọn, nếu trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ không học sử dụng CỬA VÀO làm bằng mắt, tai và làn da, làm sao các em có thể mở đường đi vào Nội Tâm, để phát huy Nội Tâm ?

Trong lăng kính ấy, Can Thiệp Sớm, như sau này tôi sẽ nhấn mạnh, là can thiệp ở Cửa Vào, từ những ngày đầu tiên của cuộc đời. Phải chăng đó là bài học mà thú vật đang đề nghị cho loài người : Chẳng hạn con mèo mẹ, tức khắc sau khi sinh con, đã liếm da của con, liếm mắt của con, liếm tai của con…Nhờ đó, con mèo con từ từ có khả năng thấy, nghe và cảm xúc, giống như con mèo mẹ (4).

5.- Hội Chứng hay là Rối Loạn ASPERGER (Asperger’s Disorder)

Hội Chứng Asperger do chính Bác sĩ Hans ASPERGER phát hiện vào năm 1944, khi quan sát một nhóm gồm có 4 trẻ em từ 6 đến 11 tuổi.

Ngoài 3 triệu chứng đặc hiệu, như đã được nói tới trước đây, trong Rối Loạn Tự Kỷ, những trẻ em nầy có thêm những dấu hiệu riêng biệt sau đây :

        Gần như mọi trẻ em mang Hội Chứng Asperger đều biết nói. Sống giữa các trẻ em khác, các em loại nầy cũng học nói.

        Hội Chứng Tự Kỷ đặc hiệu được phát hiện rất sớm, khi trẻ em lên 2-3 tuổi hay là sớm hơn. Ngày nay, các nhà chuyên môn về loại trẻ em nầy, đã có khả năng phát hiện một vài dấu hiệu báo động, vào những tuần lễ đầu tiên, sau ngày sinh. Trái lại với những trẻ em mang Hội Chứng Asperger, công việc phát hiện chỉ có thể bắt đầu, sau khi trẻ em lên 2 tuổi. Trong rất nhiều trường hợp, kết quả chỉ được xác định một cách dứt điểm và rõ ràng, giữa 7 và 8 tuổi.

        Một số lớn trẻ em mang Hội Chứng Tự Kỷ đặc hiệu cũng thuộc diện trẻ em chậm phát triển trí tuệ. Thương số Trí tuệ - Intellectual quotient, viết tắt là IQ -  thường ở dưới 50-60. Trái lại, với trẻ em mang Hội Chứng Asperger, trí thông minh thuộc loại trung bình và trên trung bình. IQ của một vài trẻ em vượt chỉ số 120-130. 

Nhằm giúp độc giả có một ý niệm về IQ, tôi xin nêu ra phương trình :

          Tuổi thực sự (bằng tháng)

- IQ = ------------------------------  x (nhân) 100

          Tuổi Thông Minh

- Tuổi Thông Minh được đo lường bằng những bản lượng giá hay là những trắc nghiệm Tâm lý.

- Tuổi Thực sự = Ngày làm trắc nghiệm – (trừ) ngày sinh ra (tính bằng tháng) 

- Những loại phát triển trí tuệ :

     IQ dưới 25 : loại chậm nặng,

     IQ từ 25 đến 50 : loại chậm vừa,

     IQ từ 50 đến 70 : loại chậm nhẹ,

     IQ từ 70 đến 100 : loại trung bình,

     IQ từ 100 đến 125: loại trên trung bình,

     IQ trên 125: loại xuất sắc

        Với Rối Loạn Asperger, trẻ em vẫn có ngôn ngữ và có khả năng trao đổi, tiếp xúc. Tuy nhiên lý luận của các trẻ em thuộc loại nầy có những hình thức rườm rà, vòng vo và khó hiểu. Trẻ em có thể dùng ngôn ngữ, để trao đổi với người khác, xuyên qua những hình thức đơn sơ, vắn gọn. Trái lại, trẻ em không có khả năng chủ động và điều động một cách thích hợp, những quan hệ tác động qua lại, với nhiều công đoạn tiến tới và đòi hỏi nhiều lý luận sáng tạo…

        Xét về số lượng, trong 4 trẻ em mang Hội Chứng Asperger,  trung bình có 3 trai và 1 gái.

6.- Rối Lọan RETT

Vào năm 1960, một bác sĩ,  người Áo, có tên là Andreas RETT, và ít lâu sau đó, một bác sĩ người Thụy điển có tên là Bengt HAGBERG, đã phát hiện, nơi những trẻ em thuộc phái nữ mà thôi, những triệu chứng như sau :

        Thiếu phối hợp và hòa nhịp, trong những vận động và cử động, tay chân co quắp, cong quẹo, cho nên trẻ em khi đi đứng, di chuyển, dễ té ngã, vấp váp, mất quân bình.

        Trí thông minh hạn hẹp,

        Ngôn ngữ nghèo nàn và thoái hóa dần dần,

        Từ 0 đến 6 tháng đầu tiên, trẻ em phát triển bình thường. Sau đó, một vài triệu chứng tư từ xuất hiện, trong vấn đề phối hợp tay chân.

        Lên tới lứa tuổi 48 tháng, những rối loạn của Hệ Thần Kinh Trung Ương trở nên rõ ràng và càng ngày càng trầm trọng. 

Trong cách xác định và phát hiện, vì sự có mặt của ba triệu chứng cơ bản có liên hệ đến những vấn đề quan hệ xã hội, ngôn ngữ thông đạt và hành vi, Rối Loạn RETT được xếp lọai vào trong Hội Chứng Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa.

7.- Rối Loạn Thoái Hóa thuộc thời thơ ấu (CDD) 

        Xét về mặt thời gian, Hội Chứng CDD xuất hiện chậm hơn, so với hai Hội Chứng Tự Kỷ Đặc Hiệu và RETT.

        Khác với Rối Loạn RETT, Hội Chứng CDD xuất hiện nơi trẻ em thuộc cả 2 phái nam và nữ, sau 8-9 tuổi.

        Hội Chứng nầy xuất hiện với tỷ lệ rất nhỏ: 1 trên tổng số 100 000 (một trăm ngàn) trẻ em.

        Trẻ em, sau khi mắc hội chứng nầy, có cả 3 triệu chứng, giống như trong Hội Chứng PDD đặc hiệu.

        Trước khi mắc hội chứng nầy, trẻ em đã phát triển một cách hoàn toàn bình thường, thậm chí trong lãnh vực vận động. Trái lại trong Hội Chứng RETT, các trẻ em đã có những rối loạn nho nhỏ trên bình diện phối hợp tay chân và các giác quan với nhau, khi vận động và di chuyển. Chính yếu tố quan trọng nầy, cùng với phái tính, xác định sự khác biệt giữa RETT và CDD.

        Với 2 Hội Chứng RETT và CDD, vì nguyên nhân là những hiện tượng thoái hóa của Não Bộ, trong những điều kiện hiện tại của y khoa, chưa có một trường hợp nào được phục hồi, sau khi các hội chứng đã xuất hiện và được phát hiện.

 8.- Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa: Không Đặc Hiệu (PDD: NOS)

Trên đây, khi bàn đến Hội Chứng Tự Kỷ hay là Rối Lọan Phát Triển Lan Tỏa (PDD), tôi đã nhấn mạnh lui tới: 

        Khi tất cả triệu chứng chính qui chưa được hội tụ, một cách đầy đủ, chính xác và khách quan,

        Khi trẻ em chưa lên 7 tuổi,

        Cũng như khi chúng ta đang còn áp dụng Chương Trình Can Thiệp Sớm, vừa khi trẻ em có một thoáng dấu hiệu báo động, chung quanh lứa tuổi 1 năm,

        Khi dấu hiệu báo động có thể chỉ là hành vi hơi lăng xăng, ngôn ngữ chậm trể, thiếu chú ý, tính tình nhút nhát…

Lúc bấy giờ chúng ta chỉ dùng lối nói “Nguy Cơ Tự Kỷ”.

Thay vào danh xưng ấy, DMS-4 đã dùng nhãn hiệu PDD: NOS có nghĩa là Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa: Không Đặc Hiệu. Cụm từ “Không Đặc Hiệu”, ở đây có nghĩa là CHƯA và KHÔNG trầm trọng, vì không rõ ràng và chính xác. Tuy nhiên, trong lối nhìn của tôi, không phải vì chưa trầm trọng mà chúng ta không cần can thiệp lập tức và một cách đứng đắn, thích hợp. Hẳn thực, một que diêm nho nhỏ, nếu không được dập tắt, có thể gây ra một đám cháy lan tràn, cho cả một khu rừng lớn lao.

 

                                               ***

9.- Kết Luận: Nối lại những con đường…                                                 

Nhằm kết luận, tôi muốn nêu lên câu hỏi: Điều gì có tầm mức quan trọng bậc nhất,  mà chúng ta cần nhận diện và đối diện, một cách sáng suốt, can đảm và nghiêm chỉnh, khi tiếp cận một trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ? 

Tự Kỷ là gì, nếu Hội Chứng nầy không phải là vấn đề của một trẻ em, trong những điều kiện hiện thời thuộc hệ thần kinh và sinh lý hóa (biochemistry),  ĐANG thiếu khả năng tạo quan hệ tiếp xúc và giao tiếp, với những người chung quanh, bắt đầu từ mẹ, cha và anh chị em trong gia đình?

Thế nhưng, để học và dạy bài học tạo quan hệ có chất lượng xây dựng và đóng góp, một cách năng động, với những người đang chung sống, chính chúng ta đang có những hành trang thiết yếu nào, trong cuộc sống làm người? 

Trong xã hội và thế giới văn minh, thuộc thời đại Nghìn Năm Thứ Ba, con người giải quyết thế nào những vấn đề xung đột đang xãy ra đó đây ?

Hiện tại người Mỹ đang lên kế hoạch xây cất một bức vạn lý trường thành, giữa hai nước Mexique và Hoa Kỳ, dài 2 200 cây số và tốn kém ước chừng 1 tỷ 200 triệu đô la.

Một bức vạn lý trường thành khác đang có mặt, tại biên giới giữa Israel và Palestine, từ bao nhiêu năm nay...

Khi con người khắp đó đây, đang xây lên những bức vạn lý trường thành giữa mình với người khác…làm sao một trẻ em Tự Kỷ có khả năng và điều kiện thuận lợi, để bắc lại những nhịp cầu bị gãy đổ, trong cuộc đời làm người của mình?

Tôi thắp lên một nén hương, khấn vái những vị Bồ Tát hãy can trường xuất hiện, đi ra cùng với tôi, nối lại những con đường đang bị đứt đoạn, trong cõi lòng người và trong cõi lòng của Quê Hương.

Bí Chú: 

1)  NGUYỄN văn Thành – Trẻ Em Tự Kỷ - nXB Tôn giáo, Tp HCM, 2006.

NGUYỄN văn Thành – Nguy Cơ Tự Kỷ -UBBA-XH, Tp HCM, 2006.

2)  Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – Fourth Edition, Washington, DC, American Psychiatric Association, 1994.

-         Diagnostic Criteria for 299.00 Autistic Disorder,

-         Diagnostic Criteria for 299.80 Rett’s Disorder,

-         Diagnostic Criteria for 299.10 Childhood Disintegrative Disorder,

-         Diagnostic Criteria for 299.80 Asperger’s Disorder,

-         Diagnostic Criteria for 299.80 Pervasive Developmental Disorder: Not Otherwise Specified (Including Atypical Autism).

 

POWERS M.D. – Children with Autism – Woodbine House, 2000 USA.

3)  NGUYỄN văn Thành – Những Sinh Hoạt của Con Người – www.chungnhanduckito.net

4)  GRANDIN Temple – L’Interprète des Animaux – Odile Jacob, Paris 2006.

 

Sách Tham Khảo trong Chương Một:

 

5) BELHASSEN M. – L’Enfant Autiste – Audibert, Paris 2006.

6) DONVILLE B. – Vaincre L’Autisme – Odile Jacob, Paris 2006.

7)  MORAR T. – Ma Victoire sur l’Autisme – Odile Jacob, Paris 2004.


Quay lại Mục lục


Chương HAI 

Những sinh hoạt chính yếu của con người

 

 

Chương Hai nầy sẽ lần lượt khảo sát những sinh hoạt «làm người», trong năm lãnh vực chính yếu sau đây:

- Thực tế,

- Lối nhìn hay là quan điểm « làm người và thành người »,

- Đời sống xúc động.

- Ngôn ngữ,

- Những quan hệ trao đổi xã hội qua lại hai chiều giữa người nầy với người khác, bằng phương tiện ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời.

 

                                             ***

 

1.-Thực tế của tôi

Thực tế là tất cả những gì tôi thấy, tôi nghe và tiếp cận với tay chân hay là làn da và thớ thịt của tôi.

Một người khác cùng chung sống và đang có mặt với tôi, từ một vị trí hay là ở một gốc độ khác, có thể ghi nhận một thực tế khác, hoàn toàn khác biệt, thậm chí mâu thuẫn với thực tế của tôi.

Chính vì lý do ấy, bao lâu hai người chưa trao đổi qua lại, chia sẽ, góp chung lại với nhau, với một thái độ lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau, thực tế của tôi chưa thể nào xích lại gần với thực tế của người kia.

Vấn đề trở nên phức tạp và phiền toái hơn nữa, khi mỗi người dựa vào những kinh nghiệm quá khứ hay là những dự phóng tương lai, để trình bày về những thực tế có liên hệ gần hoặc xa với mình. Ví dụ: Thực tế của Đất Nước Việt Nam, là gì một cách thực sự và khách quan, một đàng đối với một người ở lại trong Nước. Đàng khác, cũng một thực tế ấy là gì, đối với một người đã ra đi và đang sống ở Nước Ngoài? Nếu hai người có hai chính kiến hay là ở vào hai thế hệ, hoặc lớp tuổi khác nhau, sự cách biệt giữa hai loại thực tế của hai người ấy càng trở nên lớn lao hơn, có khi còn khai trừ và loại thải lẫn nhau.

Sau cùng, chúng ta dùng ngôn ngữ, để diễn tả thực tế được cưu mang trong nội tâm của mình.  Khi bộc lộ nội tâm như vậy, chúng ta không thể không sử dụng ba cơ chế hay là xu thế cần thiết và tất yếu, có mặt trong mọi ngôn ngữ, như: tổng quát hóa, gạn lọc và chủ quan hóa: 

Tổng quát hóa có nghĩa là khởi phát từ hai hoặc ba nhận xét cụ thể, chúng ta nhảy vọt lên và đề xuất một kết luận có tính qui luật và thường hằng: Thực tế luôn luôn là như vậy, và phải tiếp tục như vậy, trong mọi trường hợp, đối với mọi người.

Gạn lọc là xu thế chỉ chọn lựa những sự kiện cụ thể, thích hợp với hoàn cảnh và kinh nghiệm của bản thân tôi, và từ đó tôi cố tình loại trừ và kết án những gì đi ngược lại với những tin tưởng hoặc định kiến đã có mặt trong nội tâm của tôi.

Chủ quan hóa là xu thế gán ghép hoặc áp đặt cho kẻ khác một ý nghĩa do tôi khám phá và đề xuất. Thực tế đối với tôi là như vậy, cho nên mọi người phải chấp nhận thực tế ấy, như là một hiển nhiên, không cần khảo sát thêm và kiểm chứng một cách dài dòng, phức tạp.

Khi ý thức một cách sáng suốt, đến ba cơ chế tâm lý nầy, luôn luôn có mặt trong ngôn ngữ và tác phong trao đổi hằng ngày, chúng ta sẽ cố quyết học tập hai thái độ, nhằm thăng tiến bản thân và tôn trọng tính người của mọi anh chị em đang có quan hệ với chúng ta.

-         Thái độ thứ nhất là LẮNG NGHE chính mình, để đề phòng bao nhiêu cạm bẫy, do chúng ta tạo nên, khi phê phán, đánh giá, tố cáo và kết án kẻ khác. Tổ tiên và cha ông chúng ta đã đề nghị «hãy đánh lưỡi bảy lần trước khi nói», có nghĩa là  «hãy thức tỉnh», không mê muội, trầm mình trong những định kiến hoàn toàn vô thức. Nói cách khác, khi đi, tôi biết tôi đang đi. Khi nói, tôi biết tôi đang nói…

 

-         Thái độ thứ hai là Lắng Nghe và Tôn Trọng kẻ khác, tạo mọi điều kiện thuận lợi và tốt hảo, nhằm giúp họ diễn tả và trình bày thực tế, do chính họ ghi nhận. Khi chúng ta lắng nghe  như vậy, chúng ta đã cho phép người ấy «trở thành người».

 

                                             ***

2.- Tư Duy

Sau khi ghi nhận thực tế với năm giác quan,  chúng ta sử dụng TƯ DUY, để tổ chức, khẳng định và trình bày LỐI NHÌN của mình. Lối nhìn, tùy theo cách dùng ngôn ngữ của mỗi tác giả, còn mang những tên gọi khác nhau như: ý kiến, quan điểm, lập trường hay là vũ trụ quan.

Nhằm phát huy và thao tác con đường tư duy một cách sáng suốt, có hệ thống và khoa học, chúng ta cần từ từ đi lên từng bước, theo năm cấp thang suy luận sau đây: 

- Cấp thứ nhất là thâu lượm, khảo sát và kiểm chứng các dữ kiện cụ thể và khách quan có liên hệ đến một vấn đề mà chúng ta muốn giải quyết.

 

- Cấp thứ hai là đề xuất một hay nhiều giả thuyết, nhằm khám phá ý nghĩa của thực tế hay là vấn đề mà chúng ta đang nhận diện và đối diện.

 

- Cấp thứ ba là chọn lựa một hướng đi, hay là mục đích tối hậu. Từ đó, chúng ta xác định đâu là ưu tiên số một - hay là mục tiêu quan trọng nhất - trong bao nhiêu dự phóng của chúng ta.

 

- Cấp thứ tư là chuyển biến mục đích tối hậu thành những hiện thực hay là những tác động cụ thể hằng ngày.

 

 - Cấp thứ năm là đánh giá kết quả cuối cùng, sau một thời gian thực hiện, bằng cách trở về đối chiếu với thực tế lúc ban đầu, để xác định đâu là thành quả khả quan và đâu là những tồn tại chưa được khắc phục. Nói cách khác, chúng ta thất bại, vì những cản trở nào?  Hay là chúng ta đã thành tựu, nhờ vào những năng động nào? Dựa vào cách đánh giá ấy, chúng ta sẽ thêm, bớt hay là chuyển hướng thế nào, trong bao nhiêu dự án sắp tới?

 

Trong cách dùng từ, để tránh những ngộ nhận đáng tiếc có thể xảy ra, chúng ta cần phân biệt hai động tác có ý nghĩa và phần vụ hoàn toàn khác nhau:

Một bên là nhận định, đánh giá tác phong hay là hành vi của chúng ta và của người khác.

Bên kia là phê phán, xét đoán giá trị của con người, với một đoàn tùy tùng dài thòng lòng như tố cáo, loại trừ, chửi bới và tấn công...

 

Trong cuộc sống làm người, chúng ta không thể không nhận định và đánh giá công việc cũng như hành vi của mình và của người khác.

Một cách đặc biệt, khi có nhiệm vụ giáo dục và hướng dẫn ai, phải chăng công việc quan trọng bậc nhất của chúng ta là giúp cho người ấy càng ngày càng phát huy khả năng đánh giá tất cả những gì xảy ra trong cuộc đời, bắt đầu từ những gì họ nói và làm?

Đánh giá như vậy có nghĩa là xác định và phân biệt, theo những tiêu chuẩn đang được thịnh hành trong môi trường xã hội, văn hóa và giáo dục: cái gì đúng và cái gì sai, cái gì thích hợp và cái gì không thích hợp với đời sống và quan hệ xã hội…

Tuy nhiên, khi làm công việc ấy, chúng ta cần ý thức một cách rõ ràng và sáng suốt: trong mọi hoàn cảnh, đánh giá công việc hay là tác phong của một người không phải là phê phán giá trị và bản sắc làm người của người ấy.

Cho nên, trên con đường đi tới của tư duy, một đàng với sứ điệp «TÔI», chúng ta khẳng định quan điểm và xác tín của mình. Đàng khác, chúng ta lắng nghe và tôn trọng người khác, cho phép họ diễn tả và trình bày ý kiến của mình, mặc dù đó là một trẻ em, đang ở vào lứa tuổi «học làm người». Trái lại, khi «nói THAY nói THẾ», hay là «cố tình áp đặt từ trên và từ ngoài» cho kẻ khác, một lối nhìn, một cách đơn phương và độc tài, chúng ta chưa thực sự làm người. Đồng thời, chúng ta đang làm tổn thương giá trị làm người, hay là xói mòn lòng tự tin và khả năng học tập của người ấy.

 

 

                                            ***

3.- Xúc Động

Tư duy, như vừa được nói tới, có phần vụ sáng soi và điều hướng chúng ta, trong mọi chương trình và kế hoạch hành động. XÚC ĐỘNG, trái lại, là động cơ thúc đẩy chúng ta thực hiện và hoàn thành công việc, nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu chính đáng và cơ bản trong cuộc sống làm người. Chính vì lý do đó, khi các nhu cầu làm người được đáp ứng và toại nguyện, chúng ta vui sướng, hạnh phúc và an bình. Trong trường hợp ngược lại, những xúc động như sợ hãi, lo buồn và tức giận sẽ xuất hiện trong nội tâm, như một tiếng còi báo động nhằm đánh thức và thúc giục chúng ta «hãy diễn tả, chia sẻ và chuyển hóa tình huống hiện tại». Không được hóa giải như vậy, xúc động sẽ tràn ngập và khống chế tư duy, như một dòng thác lũ phá vỡ bờ đê và làm băng hoại mọi mùa màng trong những cánh đồng hai bên.

Thêm vào đó, ở bên dưới mỗi xúc động đang làm cho nội tâm và nhất là các sinh hoạt bình thường của tư duy bị tê liệt, chúng ta hãy lắng nghe và khám phá một hay nhiều NHU CẦU của cuộc sống làm người. Hãy lắng nghe và nhìn nhận, một cách chân thành và cẩn trọng, những nhu cầu cơ bản ấy. Phải chăng đó là cách hóa giải hữu hiệu và cũng là con đường làm người cần được mỗi người học tập, tôi luyện trong suốt cuộc đời.

Nếu chúng ta không đáp ứng, với những phương thức vừa được trình bày, xúc động sẽ trở thành BẠO ĐỘNG trong ngôn ngữ và hành vi. Ở cuối chặng đường thoái hóa, xúc động sẽ trở thành hận thù và chiến tranh. Và con người lúc bấy giờ, sẽ biến thân thành muông thú đối với nhau, trong mọi quan hệ qua lại hai chiều, như “Tao hơn – mày thua, Tao tốt – mày xấu, Tao có lý – mày phi lý…”. Tắt một lời, “Mors tua, vita mea”, có nghĩa là “Mày phải chết, để cho tao sống, chúng ta không thể đội trời chung”.

Trong khuôn khổ của bài chia sẻ nầy, tôi chỉ đề cập đến ba xúc động chính yếu sau đây mà thôi:

-         Thứ nhất là TỨC GIẬN. Xúc động nầy có phần vụ nhấn mạnh rằng: «Tôi đang cần TỰ DO và tôi cần khẳng quyết quyền KHÁC BIỆT, đối với những người đang chung sống hai bên cạnh.

 

-         Thứ hai là BUỒN PHIỀN. Sứ điệp của xúc động nầy là: «Tôi đang cần tạo lập những QUAN HỆ hài hòa và mới mẻ, với con người và sự vật đang bao quanh tôi».

-         Thứ ba là LO SỢ. Xúc động nầy đang dùng ngôn ngữ không lời, để nhắn nhủ cho chính chúng ta rằng: «Tôi đang cần được sống trong bầu khí AN TOÀN. Xin đừng có ai đe dọa, tố cáo và kết án tôi».

Khi cả ba nhu cầu cơ bản ấy được lắng nghe, trân trọng, đáp ứng và toại nguyện, ai ai trong chúng ta cũng sẽ tự nguyện thi thố tài năng của mình một cách tối đa và tốt hảo, trên con đường làm người. Đồng thời, một cách hăng say và nhiệt tình, chúng ta sẽ vận dụng mọi cơ may, để đóng góp và xây dựng cho kẻ khác, để họ cũng có những điều kiện làm người như chúng ta, với chúng ta và nhờ chúng ta.

 

                                       ***

4.- Quan Hệ Xã Hội

Sinh hoạt thứ bốn, trên tiến trình làm người của chúng ta,  là kết dệt những quan hệ ĐỒNG CẢM và ĐỒNG HÀNH, với anh chị em đồng bào và đồng loại. Theo lối nhìn của tác giả Stephen COVEY, đây là loại quan hệ «Người Thắng-Tôi Thắng-Chúng ta cùng Thắng». Không có kẻ hơn, người thua. Không có người tự tấn phong là hạng «siêu nhân», và những thành viên còn lại được cư xử và đãi ngộ như là «công cụ», «đồ vật», «bệ gác chân»,  hay là «một loại người phó sản».

Trong hiện tình thoái hóa của đời sống làm người, vì những lý do thực tiển, quan hệ XIN CHO đã bị đầu độc và ô nhiễm trầm trọng. Xin có nghĩa là quị lụy, sụp lạy trước một « phú ông ». Cho có nghĩa là ban phát một cách nhỏ giọt, từ trên và từ ngoài, một cách tùy nghi và tùy tiện.

Trong khi đó, quan hệ bình thường và lành mạnh giữa người và người, nhất là trong địa hạt Tình Yêu dâng hiến, bao gồm bốn động tác cơ bản: XIN và CHO, NHẬN và TỪ CHỐI.

Hẳn thực, chính lúc tôi cho, tôi đang nhận lại bao nhiêu hồng ân, bằng cách nầy hoặc cách khác. Khi xin ai một điều gì, tôi đang nhìn nhận tính chủ thể của người ấy. Cho nên,  tôi không có thái độ cướp giật, ép buộc, đòi hỏi, đấu tranh, giống như hùm beo muông sói.

Cũng trong tinh thần và lăng kính ấy, khi ai xin tôi một điều gì, tôi cần khảo sát điều kiện thực tế của mình, để có thể chọn lựa một trong hai con đường: Một là CHO một cách bình tâm và thanh thản. Hai là từ chối, trả lời «KHÔNG», một cách nhã nhặn và khiêm tốn. Xin như vậy không phải là nài nỉ, ép buộc người kia phải cho. Và khi cho trong tinh thần ấy, tôi không phải là người ở trên, ban phát xuống một cái gì dư thừa, vô ích và vô dụng. Trong cách cho như vậy, tôi không cưu mang một hậu ý là «thả tép câu tôm». Hẳn thực, khi cho bất kỳ một điều gì, một cách thực sự và trọn vẹn, tôi CHO chính CON NGƯỜI của tôi. Tôi CHO cả MỘT TẤM LÒNG làm người, khả dĩ kêu mời người khác cũng làm người với tôi va giống như tôi.

Chính vì bao nhiêu lý do vừa được đề xuất như vậy, trong mọi quan hệ bao gồm tình yêu, tình bạn, tình anh chị em đồng bào, đồng loại…tôi dùng sứ điệp «NGÔI THỨ NHẤT, TÔI», để diễn tả vả khẳng định con người của mình, thay vì lạm dụng ngôi thứ hai, để nói thay, nói thế cho kẻ khác, theo kiểu «cả vú lấp miệng em», hay là áp đặt từ trên và từ ngoài những « qui luật » như : Phải, Cần, Nên, Không được...

 Trong tinh thần và lăng kính ấy, khi biết lắng nghe và tôn trong con người đang có mặt và chung sống, chúng ta sẽ có khả năng sáng tạo và thiết lập với mọi người, những quan hệ xây dựng và hài hòa, còn mang tên là « tương sinh, tương thành ». Hẳn thực, khi chúng ta cố quyết « làm người », chúng ta sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kẻ khác « thành người, vói chúng ta, nhờ chúng ta và như chúng ta ».

 

Bốn bước đi tới trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi

Nhằm cụ thể hóa những ý kiến vừa được quảng khai, sau đây là bốn bước cần thực hiện, mỗi lần chúng ta thiết lập những quan hệ xây dựng và hài hòa với người khác, nhất là khi đối diện những phản ứng xúc động đang leo thang, tràn ngập và sắp bùng nổ:

Bước thứ nhất:

Tôi Nghe, tôi Thấy…Tôi ghi nhận sự kiện khách quan, cụ thể trước mắt mình.

Khi làm như vậy, tôi tìm cách phản ảnh và kiểm chứng : có phải, có đúng như vậy không ?

Bước thứ hai :

Kêu ra ngoài, gọi tên xúc động đang ẩn núp ở dưới sự kiện.

Ví dụ : Em/chị nói như vậy có nghĩa là em/chị đang BUỒN, GIẬN, hay là SỢ phải không ? Khi tiếp xúc với trẻ em, chúng ta chỉ cần xoay lui xoay tới với 3 xúc động chính yếu nầy mà thôi.

Bước thứ ba :

Sau khi lắng nghe và ghi nhận xúc động , chúng ta tìm hiểu thêm: Chị/em đang CẦN  gì? NHU CẦU quan trọng bậc nhất của chị/em có phải là --- ?

Bước thứ tư : Vậy theo em/chị, trong hoàn cảnh và vị trí của tôi, tôi có thể làm gì cụ thể, để đáp ứng nhu cầu của em/chị ? Chị/em yêu cầu tôi  LÀM gì?

Sau khi lắng nghe, ghi nhận, tôi xin trả lời :

- Về yêu cầu thứ nhất mà chị vừa trình bày, tôi có thể làm được.

- Về yêu cầu thứ hai ... tôi không có khả năng và điều kiện để làm.

Khi từng bước đi lên như vậy, tôi lưu tâm đến những cách làm quan trọng sau đây :

-          1) Dùng sứ điệp TÔI, để nói về mình, cũng như khẳng định mình một cách trung thực. Điều cần đề phòng là nói thay nói thế kẻ khác, thuyên giải, bói đoán, áp đặt cho kẻ khác những lối nhìn hoàn toàn chủ quan.

-          2) PHẢN ẢNH, nghĩa là nói lại với ngôn ngữ của mình, những gì chúng ta đã ghi nhận và đón nhận, khi lắng nghe và đặt trọng tâm vào con người của kẻ khác.

-          3) KIỂM CHỨNG bằng cách yêu cầu kẻ khác nói rõ : những điều tôi hiểu về họ, có hoàn toàn ăn khớp với quan điểm của họ hay không ?

-          4) KHÔNG KHUYÊN BẢO, nghĩa là đề nghị cho kẻ khác những lối nhìn và cách làm của chính chúng ta.

-          5) Thay vì bói đoán hay là tưởng tượng, tôi GHI NHẬN một cách khách quan, những gì mắt thấy, tai nghe, phát xuất từ người đang trao đổi với tôi.

-          6) Thay vì ÁP ĐẶT một cách vu vơ, nghĩa là đề xuất một lối nhìn hoàn toàn chủ quan, do chính tôi khám phá. xây dựng và tưởng tượng, tôi chỉ cố gắng TRUNG THỰC NÓI VỀ MÌNH và LẮNG NGHE cũng như TÌM HIỂU ý kiến của người khác, khi họ phát biểu.

-          7) Khi thiết lập những quan hệ ĐỒNG CẢM như vậy, chúng ta tạm thời đóng vào ngoặc, không đề cập vấn đề đồng ý hay bất đồng, về mặt tư tưởng và quan điểm. Chúng ta chỉ làm công việc nhìn nhận con người và tôn trọng giá trị làm người của họ mà thôi.

Thể theo lối nhìn và kinh nghiệm hòa giải của tác giả Marshal B. ROSENBERG, chúng ta chỉ cần tôn trọng một cách nghiêm chỉnh và chính xác, bốn bước từ từ đi lên, như được đề nghị, chúng ta sẽ có khả năng đề phòng và ngăn chận hiện tượng xúc động biến thành bạo động, trong hành vi của chính chúng ta, cũng như trong hành vi của kẻ khác.

Chính vì lý do nầy, mỗi lần có hiện tượng xúc động « bùng nổ » nơi trẻ em, tôi đề nghị những cách hành xử sau đây :

-          Thứ nhất, người lớn hãy có mặt với trẻ em, đừng bỏ đi nơi khác,

-          Thứ hai, thay vì ngăn chận, ức chế, bằng ngôn ngữ hoặc hành vi, chúng ta chỉ bình tĩnh phản ảnh : Mẹ thấy con bùng nổ. Con có thể nói lên cơn tức giận của con. Mẹ cho phép con diễn tả, nói ra, bộc lộ ra ngoài. Nếu tức quá, con hãy tức với cái gối nầy đây. Trường hợp trẻ em đánh đập kẻ khác, chúng ta chỉ cầm tay, giữ chặt trẻ em lại và nói : Con tôi tức quá, giận quá. Con có thể giận cái ghế, cái gối. Nhưng không bao giờ đánh em, đánh mẹ. Điều cốt yếu trong lúc nầy là chúng ta giữ nét mặt và thái độ bình tĩnh, không ức chế và trừng phạt.

-          Thứ ba, sau khi trẻ em đã trở về tình trạng ổn định, chúng ta tìm hiểu nhu cầu của trẻ em : Con cần gì, hãy nói ra cho mẹ biết. Trường hợp trẻ em không nói, chúng ta có thể thuyên giải, đưa ra một lý do hay là đặt câu hỏi. Động cơ chính trong cách làm và cách nói của chúng ta, vào lúc nầy là có mặt và trao đổi, phản ảnh, hơn là khám phá sự thật hay là nguyên nhân đích thực của hành vi bùng nổ.

-          Thứ bốn, để kết thúc, chúng ta đề nghị một trò chơi. Hai mẹ con có thể cầm tay nhau, đi quanh một vòng…Nếu người lớn đã có thói quen tiếp xúc, trao đổi như vậy… dần dần họ sẽ tìm ra những cách làm và lời nói thích hợp. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh lại, điều quan trọng ở đây là có mặt và trao đổi. Nội dung không thiết yếu bao nhiêu.

 

Và khi người mẹ biết tạo quan hệ Đồng Cảm như vậy, bà là cái KHUNG bao bọc, che chỡ, tạo an toàn tình cảm cho đứa con, trong mọi tình huống thuận lợi cũng như bất lợi.

 

 

Trong tinh thần và lăng kính nầy, Lắng Nghe, Có Mặt và Đồng Cảm, là những quà tặng lớn lao, cho những người đang tiếp xúc với chúng ta, bất kể người ấy đang còn là một trẻ em, hay đã trưởng thành và có những trách nhiệm, trong lòng xã hội.

 

 

                                            ***

 

 

5.- Ngôn Ngữ

 

Như đã được trình bày từ đầu, trong Lời Mở Đường và chương Hai nầy, Nội Tâm bao gồm năm thành tố khác nhau, nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau : 

-         Cửa Vào làm bằng năm giác quan (Input),

-         Tư Duy và Xúc Động là hai Thành Tố thuộc Tiến Trình Biến Chế và Chuyển Hóa (Processing),

-         Hai Thành Tố thứ tư và thứ năm là Cửa Ra bao gồm  Ngôn Ngữ và những Quan Hệ xã hội giữa người với người (Output). 

Vì lý do sư phạm, tôi đã chọn lựa thứ tự trước-sau, trong-ngoài. Trong thực tế, năm thành tố ấy giao thoa chằng chịt, tác động qua lại, kết dệt với nhau những quan hệ nhân quả hai chiều. Hẳn thực, một trong năm thành tố có thể là nhân, có khả năng phát sinh, điều hướng hoặc điều động bốn yếu tố còn lại. Khi khác, chính yếu tố ấy lại là thành quả chịu ảnh hưởng lớn lao của một thành tố khác.

Tư duy chẳng hạn, mang lại cho đời sống của con người một hướng đi, một ý nghĩa, một mục đích. Tuy nhiên, không có xúc động làm động cơ thúc đẩy, làm sao con người có thể có khả năng chuyển biến một chương trình, một kế hoạch thành hoa quả cụ thể trong lòng cuộc đời. Nhưng khi không có ánh sáng của tư duy soi sáng và hướng dẫn, xúc động sẽ tức khắc bị tràn ngập và gây ra nhiều đổ vỡ trong đời sống xã hội…

Nói khác đi, xúc động cần được gọi ra ngoài, đem ra vùng ánh sáng của ý thức và ngôn ngữ. Lúc bấy giờ, xúc động không còn là một «Xung Năng » hoàn toàn vô thức, một sức thúc đẩy, dồn ép, tạo căng thẳng. Trong tiếng Anh, sức mạnh ấy mang những tên chuyên môn như Drive, Urge hay là Pulsion.

Trong lăng kính vừa được trình bày, ngôn ngữ là một phương tiện được dùng , để GỌI RA NGOÀI, hay là MANG RA VÙNG ÁNH SÁNG, những gì được cưu mang trong nội tâm. Đối với bốn thành tố khác  -  là giác quan, tư duy, xúc động và quan hệ xã hội  -  ngôn ngữ đóng vai trò tổ chức, xếp đặt, diễn tả, phản ảnh hay là giải tỏa. Nhờ ngôn ngữ, chúng ta đặt tên hay là gọi tên, cho những gì chúng ta thấy, nghe, cảm. Tuy nhiên, ngôn ngữ không phải là sở hữu riêng tư của một cá nhân. Đó là phương tiện của cả một tập thể, một cộng đồng, một nền văn hóa, có khả năng mở ra cho chúng ta những cánh cửa bao la, diệu vợi, một bầu trời tự do và sáng tạo. Đồng thời, ngôn ngữ cũng là một cạm bẫy đầy hiểm nguy và tai họa. Chẳng hạn, chúng ta dùng ngôn ngữ, để tìm hiểu, khám phá lối nhìn và quan điểm của kẻ khác. Nhưng chúng ta cũng có thể dựa vào ngôn ngữ, để áp đặt cho kẻ khác những cách làm, những lối suy tư mà chúng ta lầm tưởng đó là chân lý ngàn đời, là qui luật bất di bất dịch, phổ cập bất kỳ ở đâu.

Bao nhiêu nhận xét ấy cho phép chúng ta ý thức đến ít nhất ba phần vụ khác nhau của ngôn ngữ :

-         Thứ nhất, đó là một phương tiện cần được đặt dưới quyền sử dụng của tư duy, nhằm tổ chức và định hướng cuộc đời.

 

-         Thứ hai, đó cũng là một dụng cụ hữu ích và hữu hiệu, để chúng ta thiết lập quan hệ tiếp xúc và trao đổi, chia sẻ và đồng cảm với những người cùng chung sống trong môi trường xã hội.

 

-         Thứ ba, xuyên qua con đường ngôn ngữ, chúng ta thực thi công việc phản ảnh, có nghĩa là từ từ gọi ra vùng ánh sáng của ý thức, bao nhiêu động lực đen tối, mập mờ, bao nhiêu xung năng vô tổ chức, cũng như bao nhiêu tiếng nói còn đang bị ức chế, trấn áp, chưa được coi trọng và lắng nghe.

Không nhìn nhận và coi trọng đúng tầm ba vai trò và ba giá trị ấy của ngôn ngữ, trong các phương pháp tiếp cận và giáo dục, chúng ta sẽ lập tức biến ngôn ngữ thành một dụng cụ nhồi nhét, nhồi sọ. Một cách vô tình và vô thức, chúng ta biến trẻ em thành một con sáo, con cưởng học nói, hay là một chiếc máy vô hồn ghi âm và phát âm.

Nói cách khác, bao lâu trẻ em tự kỷ còn có những vấn đề « xúc động tràn ngập hay là bùng nổ », điều quan trọng bậc nhất là tạo ra những điều kiện, những bầu khí, những khung cảnh an toàn thể lý và tâm linh. Tôi gọi đó là « cái KHUNG bền vững », bao bọc và che chỡ trẻ em, đối với mọi va chạm trong cuộc đời

Bao lâu trẻ em còn sống bít kín, đóng khung trong những hành vi lặp đi lặp lại, ưu tiên số một hay là nhu cầu cơ bản nhất, cần khám phá, để chuyển hóa tình trạng hiện tại của trẻ em, là thiết lập với trẻ em  - một cách vô điều kiện và đơn phương về phía chúng ta  -   những quan hệ xã hội.

 Quan hệ xã hội nầy làm bằng những động tác cụ thể như : có mặt, lắng nghe, nhìn ngắm, sung sướng, hạnh phúc, sẵn sàng đồng cảm và đồng hành với trẻ em.

 

 

Phải chăng toàn bộ cuốn sách nầy, từ chương đầu đến chương cuối, chỉ muốn xoay vần, xoáy lui xoáy tới chung quanh chủ đề duy nhất nầy ?


Quay lại Mục lục


Chương BA 

Trí Thông Minh Xã Hội

 

 Nhằm đảm trách công việc giáo dục và gặt hái nhiều thành quả cụ thể, với mỗi trẻ em tự kỷ, trong nhiều cuốn sách, tôi đã đề nghị một sơ đồ « Thiết Lập Dự Án », gồm có 7 giai đoạn, như sau :

Giai đọan MỘT:  Khảo sát thực tế cụ thể và khách quan do chính trẻ em trình bày, xuyên qua tác phong hay là hành vi  hằng ngày của mình.

-         Tôi thấy tận mắt trẻ em làm những gì ?

-         Tôi nghe trẻ em nói những gì, với ngôn ngữ có lời cũng như với ngôn ngữ không lời như điệu bộ, nét mặt, liếc nhìn… ?

-         Môi trường hóa những dữ kiện hoặc tin tức bằng cách tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi sau đây: Ở đâu, khi nào, bao lâu, với ai, thế nào ?

-         Đề phòng một cách rất nghiêm chỉnh, 3 xu thế :

1.-Tổng quát hóa hay là « vơ đũa cả nắm » : chỉ thấy một lần, đã vội vàng khẳng quyết một qui luật bất di bất dịch « khi nào cũng vậy »… « bao giờ cũng vậy ».

2.-Thanh lọc, nghĩa là chỉ giữ lại những sự kiện thích hợp với cách nhìn quen thuộc của mình, đồng thời bỏ qua một cách cố tình, những gì đi ngược lại với ý kiến của chúng ta. Với cách làm nầy, chúng ta « bóp méo hay là xuyên tạc » thực tế khách quan.

3.-Chủ quan hóa nghĩa là đề cao, biện minh lối nhìn của mình và không coi trọng quan điểm của nhiều người khác.

-         Kỹ thuật mà chúng ta cần sử dụng : « Chiếc mũ màu TRẮNG » của Ed. De BONO.

Giai đoạn HAI: Khám phá những yếu tố NĂNG ĐỘNG,  những sự kiện tích cực, nhằm củng cố và tăng cường, bằng lời nói và thái độ « khích lệ và khen thưởng một cách khoa học » của chúng ta.

-         Kỹ thuật môi trường hóa cần được sử dụng để khảo sát những điều kiện thuận lợi làm phát sinh yếu tố năng động ấy.

-         Kỹ thuật « Mũ màu VÀNG Mặt Trời ».

Giai đoạn BA: Liệt kê đầy đủ tối đa năm vấn đề chủ yếu cần giải quyết. Đó là những  yếu tố hay là sự kiện tiêu cực, tê liệt, ù lì và bị động, cần được chuyển hóa, xuyên qua lề lối dạy dỗ của chúng ta.

-         Với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ, chúng ta tìm cách khảo sát 5 Triệu Chứng (hay là Dấu Hiệu) chính yếu :sống bít kín, rối loạn về ngôn ngữ, phản ứng bùng nổ, hành vi lặp đi lặp lại như một chiếc máy, hành vi dị thường và những cơn động kinh lớn hay nhỏ.

-         Môi trường hóa mỗi vấn đề, với nhiều chi tiết quan trọng,

-         Kỹ thuật « Mũ ĐEN ».

Giai đoạn BỐN: Liệt kê tối đa 3 xúc động đang tạo những cản trở quan trọng, trong việc thiết lập những quan hệ với người lớn, cũng như với những trẻ em cùng lứa tuổi.

-         Gọi tên xúc động,

-         Môi trường hóa,

-         Khám phá NHU CẦU cơ bản của trẻ em, ẩn núp ở đằng sau mỗi xúc động,

-         Cần khảo sát thể thức sáng tạo những loại quan hệ nào, như thế nào, với ai… để hóa giải những tình huống xúc động ấy ?

-         Kỹ thuật « Mũ ĐỎ ».

Giai đoạn NĂM: Xác định Phương Hướng Hành Động :

-         Mục đích tối hậu bao gồm những giá trị sáng soi va hướng dẫn một cách toàn diện,

-         Kế Hoạch với những mục tiêu dài và ngắn hạn,

-         Phương tiện và học cụ cần sáng tạo để sử dụng trong những bài học hằng ngày,

-         Thời hạn cần thiết để thực hiện dự án,

-         Người thực hiện dự án là ai ? Giáo viên chính, giáo viên phụ tá, cha mẹ, chuyên viên ngôn ngữ hay là tâm vận động, tâm lý gia, bác sĩ…

-         Kỹ thuật « Mũ màu XANH DA TRỜI ».

Giai đoạn SÁU: Sáng tạo những BÀI HỌC cụ thể hằng ngày, nhằm chuyển biến Mục đích và Mục tiêu đã được đề xuất trong giai đoạn NĂM trên đây, thành hiện thực cụ thể và khách quan, trong cuộc sống hằng ngày của trẻ em.

-         Bài học về THỰC TẾ (Cửa Vào) : nhằm giúp trẻ em khám phá và hiểu biết về những gì có mặt trong môi trường quen thuộc sinh sống hằng ngày. Những bài học này vận dụng CỬA VÀO bao gồm Mắt, TAI và TAY CHÂN, cũng như LÀN DA.

-         Bài học về TƯ DUY : trong-ngoài, trên-dưới, xếp loại, đi tìm một dụng cụ, lấy tay chỉ một đối tượng mong muốn, cùng làm với bạn bè…

-         Bài học về XÚC ĐỘNG (xem giai đoạn BỐN trên đây.

-         Bài học về QUAN HỆ (Cửa Ra) : XIN-CHO-NHẬN và TỪ CHỐI (nói KHÔNG), thi hành những mệnh lệnh, để phát huy tư duy (xem bài học về TƯ DUY).

-         Một cách đặc biệt, xoáy lui xoáy tới chung quanh bài học về QUI LUẬT còn được gọi là CẤU TRÚC, cũng như về QUAN HỆ XÃ HỘI : làm với, chơi với, cho bạn điều bạn xin, đi chơi với bạn, trao đổi với bạn…

-         Kỹ thuật « Mũ màu XANH LÁ CÂY ».

Giai đạn BẢY: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ 

Loại I : Sau từng giai đoạn thực hiện ngắn hạn như 3 tháng, khảo sát kết quả với một nhóm nhỏ, rút gọn, gồm có giáo viên, hiệu trưởng và cha mẹ.

Loại II : Đánh giá kết quả cuối cùng sau 1 năm, với toàn nhóm giáo viên và cha mẹ.

-         Kết quả đã thành đạt, nhờ vào những yếu tố năng động nào ?

-         Kết quả không đạt được, vì những trở ngại hay là lý do gì ?

-         Cần thay đổi hoặc phát huy thêm những trọng điểm nào, trong giai đoạn sắp tới, nhất là trong lãnh vực Mục Tiêu.

-         Cần thêm hay bớt những trọng điểm nào, trong những sinh hoạt hằng ngày.

-         Kỹ thuật « Mũ VÀNG » và « Mũ ĐEN ».

Chính tác giả người Anh là Edward DE BONO đã đề nghị kỹ thuật « Sáu chiếc mũ Tư Duy », trong tác phẩm danh tiếng có tầm cỡ quốc tế « Six Thinking Hats » (Pinguin Books, London 1986). Sau đây là những ý nghĩa chính yếu :

Ý nghĩa của Chiếc Mũ Màu Trắng : Sự kiện cụ thể, khách quan, nhằm trả lời các câu hỏi như : Ai ?, Ở đâu ? Làm gì ? Khi nào ? Thế nào ? Bao lâu ?...

Ý nghĩa của Chiếc Mũ Màu Đen : Can đảm nêu lên những sự kiện tiêu cực, bị động, tê liệt…khả dĩ cản trở công việc giáo dục của chúng ta,

Ý nghĩa của Chiếc Mũ Màu Đỏ : Dùng sứ điệp « Tôi », để nói về những trăn trở, khổ đau của mình, một cách cởi mở và trung thực.

Ý nghĩa của Chiếc Mũ Màu Vàng Mặt Trời : Khám phá những năng động đang thúc đẩy mình đi ra, bước tới, vươn lên.

Ý nghĩa của Chiếc Mũ Màu Xanh Da Trời : Sáng tạo, khám phá ý nghĩa, giá trị, mục đích, tầm nhìn rộng lớn, để xây dựng kế hoạch hành động.

Ý nghĩa của Chiếc Mũ Màu Xanh Lá Cây : Tạo nên Mùa Xuân, đổi mới, bằng cách từng ngày, từng bước đi lên thực hiện dự án, hay là chuyển biến lý tưởng, mộng mơ thành hiện thực

 

                                            ***

Khi làm việc và phục vụ trẻ em tự kỷ, với 7 bước đi lên, trong chương trình hành động, như tôi vừa trình bày trên đây, tôi đã thực sự lưu tâm đến ba loại sinh hoạt của nội tâm : Thực tế, Tư duy và Xúc động.

Thứ nhất, theo tinh thần của tác giả người Anh, Edward DE BONO, tôi bắt đầu khảo sát Thực Tế « với sáu chiếc mũ », để rồi từ đó thiết lập một dự án hoạt động, nhằm phát huy tư duy hay là Trí Thông Minh Tổng Quát của học sinh.

Thứ hai, tôi vận dụng Phương Pháp « Trao Đổi Không Bạo Động » (Nonviolent Communication) của tác giả người Mỹ, Marshal B. ROSENBERG, khi có vấn đề xúc động tràn ngập hay là triệu chứng « bùng nổ », nơi trẻ em. Nhằm đề phòng những hành vi « bạo động », tôi áp dụng những kỹ thuật như :  gọi Xúc Động ra ngoài, phản ảnh, khám phá nhu cầu và đáp ứng.

Thứ ba, trong lãnh vực quan hệ xã hội, thể theo lối nhìn của tác giả người Pháp, Jacques SALOMÉ, tôi tạo điều kiện, nhằm giúp trẻ em từ từ hội nhập bốn bài học « Xin, Cho, Nhận và Từ chối », bằng ngôn ngữ hay là bằng cử chỉ và điệu bộ.

Trong vòng 10 năm gần đây, tôi bắt đầu lắng nghe những nhà khoa học về não bộ (Neuroscience), khi họ trình bày những cơ sở thần kinh của Trí Thông Minh Xã Hội, nhằm phát huy đời sống quan hệ giữa người và người. Hơn tất cả, tác phẩm của Daniel Goleman đúc kết những khám phá mới nhất của khoa học nầy, khả dĩ cung cấp chìa khóa mở ra một phần nào những cánh cửa nội tâm còn đóng kín của trẻ em tự kỷ. Tác phẩm nầy mới được xuất bản, vào đần năm 2006.

Thể theo cách trình bày của Daniel Goleman, Trí Thông Minh Xã Hội không phải và không đồng hóa với Trí Thông Minh Tổng Quát được ứng dụng trong lãnh vực xã hội. Các trắc nghiệm về Trí Thông Minh, như Wechler-Bellevue chẳng hạn, đã ra đời vào năm 1950 cho đến ngày hôm nay, vẫn chưa có khả năng phát hiện những động tác như đồng cảm (Empathy), hòa ứng (Attunement) và đồng điệu (synchrony).  Những động tác nầy còn ở trong điều kiện thể lý và giai đoạn vô thức, cho nên chúng ta không thể quan sát với những phương tiện cổ điển bình thường.

Các nhà khoa học về não bộ, trái lại, với những loại máy fMRI còn mang tên thu gọn là nam châm (magnet), đã có thể phát hiện những quan hệ diễn ra giữa hai người nam và nữ, khi « tình trong như đã, mặt ngoài còn e ». Cũng vậy, khi hai mẹ con đang trao đổi với nhau một liếc nhìn « trực diện », luồng điện di chuyển trong đường dây thần kinh não bộ của cả hai người đều bật sáng lên những tín hiệu, trong máy quan sát và ghi nhận fMRI.

Vào năm 1920, tác giả Edward Thorndike tại Đại Học Columbia  bắt đầu sử dụng danh xưng « Trí Thông Minh Xã Hội » (Social Intelligence). Từ đó cho đến nay, sau hơn ba phần tư thế kỷ, dựa vào những công trình quan sát và nghiên cứu, với các loại máy như fMRI, các nhà khoa học về Thần Kinh Não Bộ  từ từ xác định một nội dung cụ thể và độc đáo. Tác phẩm của Daniel Goleman liệt kê tám loại kỹ năng khác nhau của Trí Thông Minh Xã Hội :

-         Thứ nhất là Đồng Cảm sơ khởi (Primal Empathy),

-         Thứ hai là Hòa Ứng hay là Hòa Điệu (Attunement),

-         Thứ ba là Đồng Cảm có ý thức và có ý định (Empathic Accuracy), với những bước đi lên cụ thễ và rõ ràng.

-         Thứ bốn là Kiến Thức về đời sống xã hội (Social cognition), nắm vững những đường đi nẻo về trong thế giới loài người,

-         Thứ năm là Đồng Nhịp, Động Điệu và Đồng Hành (Synchrony), hay là những tương tác xã hội, trong lãnh vực ngôn ngữ không lời,

-         Thứ sáu là Diễn Tả và Khẳng Định Tầm nhìn (Self-presentation),

-         Thứ bảy là Tạo Ảnh Hưởng (Influence), hay là Lãnh Đạo Chiều Ngang (Lateral Leadership),

-         Thứ tám là Liên Đới, Đồng Trách Nhiệm, còn gọi là Tương Sinh Tương Thành (Synergizing), hay là đóng góp, xây dựng, bổ túc lẫn nhau, về mặt giá trị làm người.

 

                                                 ***

1.- Đồng Cảm sơ khởi

Với khả năng nầy, hai người khi sống chung và đối diện, có thể chia sẻ với nhau những cảm xúc và cảm tình, một cách tự động và vô thức. Những phản ứng tự nhiên và tự phát, còn ở ngoài vòng làm chủ và kiểm soát của con người, như thiện cảm hay ác cảm…đều bắt nguồn từ lãnh vực Đồng Cảm Sơ Khởi nầy.

Khi hai người, như mẹ và con, trực diện với nhau, những tin tức được người nầy thu lượm về người kia, bắt nguồn từ các giác quan, nhất là thị giác. Tin tức được những “tế bào phản ảnh” (mirror neurons) tức khắc chuyển xuống  cho Cấu Trúc Hệ Viền (Limbic), và phân phối cho Trung Tâm Hạnh Nhân (Amygdala) đặc trách về đời sống xúc động. Sau khi tham khảo kho tàng tích trử hoài niệm là Hải Mã (Hippocampus) ở sát bên cạnh, Hạnh Nhân phát đi những mệnh lệnh giải quyết thần tốc và khẩn trương, để cơ thể chuẩn bị đấu tranh hay là trốn thoát (fight and flight).

Đường dây thần kinh nối liền Hạnh Nhân với các vùng thuộc Thân Não và Tiểu Não, mang tên là Đại Lộ phía dưới (Low Road). Tại các điểm giao liên  giữa các tế bào thần kinh, còn mang tên là  khớp Xi-Nắp (Synapse hay là Synapsis), nhiều loại hóa chất được tiết ra và di chuyển theo đường máu. Phần vụ của các loại hóa chất nầy là tăng cường mức độ nhạy bén và tĩnh thức, cũng như tạo điều kiện thuận lợi, để cơ thể thi hành nhiệm vụ một cách hữu hiệu.

Nơi trẻ em có nguy cơ tự kỷ, những triệu chứng “bùng nổ”, hay là những hiện tượng “Xúc động tràn ngập”, đều phát xuất từ đường dây của Đại Lộ phía dưới nầy.

Chung quanh 4-5 tuổi, nhờ tiếp xúc trao đổi và học tập,  một trẻ em có quá trình phát triển bình thường, đã có khả năng làm chủ và kiểm soát, một phần nào, những xúc động của mình. Sở dĩ như vậy, vì Hệ Thần Kinh Tân Võ Não (Neocortex) đã thành hình. Các đường dây nối kết các trung tâm lại với nhau, đã bắt đầu được ổn định. Một cách đặc biệt, Đại lộ phía trên (High Road) nối kết Thùy Trán thuộc vùng Ổ mắt, còn mang tên chuyên môn là Đại lộ OFC (Orbito-Frontal Cortex) gửi tin tức toàn diện và khách quan hơn, khả dĩ điều hướng, điều hợp và điều chỉnh những phản ứng vội vã và bốc đồng của Trung tâm Hạnh Nhân.

Trước đây và trong những chương sau, tôi đã và sẽ còn nhấn mạnh rằng: Khi trẻ em – bất cứ trẻ em thuộc diện nào, bình thường hay tự kỷ - chưa có khả năng làm chủ những phản ứng xúc động tràn ngập của mình, người giáo viên và bậc cha mẹ cần có mặt, giữ tâm hồn bình tĩnh và an lạc, với em. Hãy tìm cách nhìn vào đáy mắt của em và dùng lời nói đơn sơ, vắn gọn, phản ảnh những gì đang xảy ra nơi trẻ em. Phản ảnh như vậy có nghĩa là nói ra những gì mắt thấy, tai nghe…tác động trên sinh hoạt đồng cảm sơ khởi của trẻ em. Nếu trẻ em chưa có khả năng nhìn một cách trực diện, chúng ta quay phim những lúc trẻ em bùng nổ, để cho trẻ em nhìn lại mình. Chúng ta chụp hình mặt mẹ, mặt ba và người thân trong nhà, khi họ chọn lựa lối nhìn thẳng. Những tấm hình ấy được gắn chặt vào những nơi trẻ em thường có mặt. Nhờ vào cách nhìn thẳng vào mắt trên các tấm hình, trẻ em dần dần sẽ học nhìn vào đáy mắt thực sự và sống động của ba và của mẹ. Cách làm nầy, như tôi đã muốn nhấn mạnh lui tới nhiều lần, có khả năng tạo cho trẻ em một cái KHUNG bao bọc vững chắc (Container), khả dĩ tạo an toàn cho trẻ em, trong những tình huống khó khăn, khủng hoảng.

2.- Hòa Ứng và Hòa Điệu (Attunement)

Ý nghĩa ban đầu của Attunement là mở ra đúng tần số. Làn sóng âm thanh không còn bị nhiễm, vì những tiếng động chung quanh.

Trong thực tế, môi trường sinh sống của con người, luôn luôn bị nhiễm vì một vài tiếng động. nhất là vì những thói quen riêng biệt và cá nhân của chúng ta. Khi chúng ta vừa mới học một sinh ngữ, chẳng hạn như tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, chúng ta rất dễ bị quấy rầy bởi những hiện tượng “Nhiễm” nầy. Mặc dù người phát biểu, đã cố gắng nói rất chậm và rất rõ ràng, chúng ta vẫn không nhận ra những từ cùng có mặt với nhau. Vì thế, chúng ta không thể hiểu ý nghĩa toàn diện của câu nói. Nói đúng hơn, chúng ta quá tập trung chú ý vào ý nghĩa của một từ, và do đó không tiếp cận được quan hệ giữa các từ với nhau.

Trong lãnh vực quan hệ xã hội, để có thể hòa ứng hòa điệu với người đang trao đổi với chúng ta, nghĩa là mở ra đúng tần số âm thanh của người ấy, một đàng chúng ta cần ý thức một cách sáng suốt rằng: những hiện tượng Nhiễm có thể phát xuất từ chính con người của chúng ta. Đàng khác, khả năng hòa ứng đòi hỏi chúng ta tôn trọng một số điều kiện thiết yếu. Nói đúng hơn, đó là những bước đi lên có hệ thống và thứ tự:

-         Bước thứ nhất là Có Mặt thực sự.

-         Bước thứ hai là Lắng Nghe, đặt trọng tâm vào người đang trao đổi và tiếp xúc với chúng ta.

-         Thứ ba là tìm hiểu người đối diện, nhất là điểm qui chiếu của họ, chứ không phải điểm qui chiếu của chúng ta. Điểm qui chiếu đầu tiên là lời nói và tác phong hay là hành vi khách quan của họ. Điểm qui chiếu số 2 là xúc động của họ, cần được chúng ta đặt tên và gọi ra ngoài vùng ý thức. Điểm qui chiếu số 3 là nhu cầu cơ bản hiện tại của họ, đang ẩn núp và giấu kín đằng sau mỗi xúc động. Điểm qui chiếu cuối cùng là những yêu cầu hay là những lời xin. Ở đây, chúng ta cần tạo điều kiện, đặt ra những câu hỏi, giúp họ phân biệt một cách rõ ràng đâu là nhu cầu cơ bản, đâu là nguyện vọng thứ yếu.

-         Thứ bốn là trung thực trình bày thực tế của mình, bao gồm những giới hạn, cũng như những khả năng hiện hữu.

-         Thứ năm là bám trụ vào hiện tại. Khi nói về mình, mọi người - người đối diện cũng như chính chúng ta -  dễ lạc đường, mất hướng, trong những vòng mê cung của quá khứ, nhất là của thời thơ ấu. Cho nên, với hai kỹ thuật Phản ảnh và Kiểm chứng, chúng ta tìm mọi cách giúp người đối diện chỉ nói đến những điều mình thấy, mình nghe, mình cảm.

Mỗi lần chúng ta tiếp xúc và trao đổi với trẻ em có nguy cơ tự kỷ, nếu chúng ta học tập tôn trọng năm bước đi lên ấy, chúng ta đã bắt đầu mở ra cho các em, những cánh cửa dẫn vào thế giới làm người với kẻ khác, nhờ kẻ khác và cho kẻ khác. Chúng ta giúp các em HÒA ỨNG và HÒA HỢP với thế giới bên ngoài.

3.- Đồng cảm có ý thức (Empathic Accuracy)

Trong giai đoạn Quan Hệ Hòa Ứng, chúng ta lưu tâm một cách đặc biệt đến đời sống tình cảm và xúc động của người đối diện, để cuối cùng khám phá và đem lên vùng ý thức những nhu cầu cơ bản của họ.

Như chúng ta đã biết, trung tâm của đời sống xúc động là Hạnh Nhân, một cấu trúc của Hệ Viền hay là Trung Não. Cho nên, với quan hệ Hòa Ứng, mục tiêu chính yếu là giáo hóa Hạnh Nhân, giải tỏa những tình huống căng thẳng xung đột, do hiện tượng xúc động bị tràn ngập và làm tê liệt tư duy. Nhờ cách làm ấy, chúng ta đề phòng những phản ứng bùng nổ có tính bạo động.

Nói khác đi, chúng ta vận dụng những kỹ thuật phản ảnh, kiểm chứng tính khách quan của những tin tức, nhằm giảm hạ tính bốc đồng, trong những phản ứng máy móc và tự động của Hạnh Nhân.

Chính vì lý do chính yếu nầy, chúng ta vận dụng tối đa quan hệ Hòa Ứng với trẻ em có nguy cơ tự kỷ, khi các em có hai triệu chứng bùng nổ và lặp đi lặp lại. Hòa ứng là một phương thức “Đi theo để hướng dẫn và chuyển hóa” (Pacing and Leading), còn mang tên là “làm TRUNG GIAN, bắc nhịp cầu, sáng tạo một cái KHUNG an toàn tình cảm”, để trẻ em từ từ đi ra khỏi cái vỏ tự kỷ và toàn năng của mình.

4.- Kiến thức về những qui luật xã hội (Social Cognition)

Để hiểu rõ thế nào là những kiến thức trong lãnh vực xã hội hay là những qui luật, những đường đi nẻo về trong đời sống giao tế, tôi đề nghị hãy qui chiếu vào những bước đi tới của Tư Duy Cấu Trúc. Sáu chiếc mũ với sáu màu khác nhau của tác giả Edward DE BONO cũng có thể soi sáng và hướng dẫn chúng ta về các qui luật cần được tôn trọng, khi dấn bước vào đời sống xã hội.

Ngôn ngữ là một minh họa về những điều kiện cần hội tụ, để con nguời có khả năng đi vào những khuôn khổ rất gò bó của đời sống xã hội. Hẳn thực, khi những gò bó văn phạm đã được nhuần nhuyễn và vượt qua, ngôn ngữ trở thành một dụng cụ trao đổi và tiếp xúc giữa người với người. cho phép chúng ta tự do diễn tả mình và tìm hiểu nội tâm của người khác.

Trong lăng kính vừa được trình bày, để sử dụng ngôn ngữ, cũng như để có khả năng linh hoạt, năng động và sáng tạo, trong đời sống quan hệ xã hội, ngay từ những ngày đầu tiên, sau khi ra khỏi lòng mẹ, trẻ em cần phải học. Những người lớn có trách nhiệm phải dạy. Tuy nhiên, dạy làm sao để cho trẻ em thích học, vừa học vừa chơi. Không có quan hệ vui đùa, thích thú, an toàn, tin tưởng, những bài học về thực tế xã hội sẽ mau chóng trở thành một món ăn khó ăn, khó nuốt và bị chối từ.

Tôi còn nhớ những con đường rất trơn trượt chung quanh nhà tôi lúc trời mưa.

Tôi còn nhớ những viên thuốc kí-nin (Quinine) phòng chống bệnh sốt rét, rất đắng và rất khó nuốt,

Tôi còn nhớ cách chữa trị những cơn cảm cúm, bằng những mũi kim chích sâu vào da thịt, gây nên bao đớn đau và hãi hùng…

Làm sao một đứa bé chung quanh 4-5 tuổi có thể vượt qua những tình huống kinh hoàng ấy, không những một lần nhưng rất nhiều lần, nếu cha mẹ tôi không có mặt và làm những « trái đệm », để cho tôi can trường vượt qua ?

Tôi còn nhớ và còn nghe mồn một…Tiếng cha tôi đang vang vọng, với cung giọng của người Miền Trung : « Bấm chặt chân đi con ». Trong một trường hợp khác, mẹ tôi vừa vuốt ngực vừa dỗ dành : « Uống đi con, nuốt đi con, mẹ thương con… ».

Tôi cố tình kể ra những câu chuyện ấy, để minh họa thế nào là « làm trái đệm che chỡ », hay là « làm cái khung tạo an toàn », để cho đứa con ngày ngày có thể học bài học làm người, với những khúc đoạn rất đắng cay, chua xót.

Thế nhưng, sau 70 đời tuổi, bao nhiêu kỷ niệm « ngậm đắng nuốt cay » ấy không để lại một vết thương lòng rướm máu. Trái lại, những cảm nghiệm, cũng như những kinh nghiệm ấy đã cài đặt và khắc sâu vào các tầng sâu của Hệ Thần Kinh Não Bộ của tôi, một niềm xác tín không bao giờ tàn phai theo tháng ngày. Niềm xác tín ấy đã trở thành lòng tự tin, với ba nội dung :

-         Tôi là con người có giá trị tự tại, mặc dù với bao nhiêu thăng trầm trong cuộc sống, với bao nhiêu hèn nhát và thất bại ê chề…

-         Tôi được thương yêu và coi trọng, cho dù có những lúc bị nhiều người tố cáo, phê phán và loại trừ…

-         Tôi có khả năng tô điểm cuộc đời của mình, và mang đến ý nghĩa làm người, cho một số bạn bè và anh chị em đồng bào, trên những nẻo đường xuôi ngược của cuộc sống…

Trong những giờ phút đen tối, bệnh hoạn, cô đơn…hành trang tự tin của tâm hồn cho phép tôi khẳng định và nhắc nhủ mình :

Ánh mắt em là cả một bầu trời,

Bàn tay em huyền nhiệm thấu từng mây,

Bước chân em gieo hạnh phúc cho đời,

Quả tim em : nguồn suối không cạn vơi.

Xuyên qua bao nhiêu nhận xét ấy, tôi muốn phác họa một vài đường nét thô thiển, với mục đích minh họa : bằng cách nào cha mẹ là hai người đầu tiên, đã trở nên « Trái đệm », hay là « Cái Khung » vững chắc, tạo an toàn cho con cái. Một cách đặc biệt, trẻ em có nguy cơ tự kỷ đang cần, gần như một cách tuyệt đối, những trái đệm, những cái khung như vậy, để có thể học những bài học về quan hệ xã hội hay là để thu hóa và hội nhập những kiến thức, những hiểu biết cơ bản về cuộc sống làm người và thành người.

 Với bốn động tác hay là bốn kỹ năng trên đây – từ số MỘT đến số Bốn – khi có mặt và được tôi luyện đầy đủ, về mặt phẩm cũng như về mặt lượng, chúng ta ý sẽ thức về tư cách làm người và vai trò xã hội của chúng ta. Nhờ ý thức xã hội nầy, mỗi lần tôi sống và hoạt động trong bất cứ môi trường nào – gia đình, học đường, nghề nghiệp, quê hương…- tự khắc tôi đảm nhận một cách đơn phương những trách nhiệm đồng cảm, hòa ứng và hiểu biết. Tôi có động cơ thúc đẩy từ bên trong. Tôi không đợi, không cần một ai làm giám thị, kiểm soát hay là áp đặt những mệnh lệnh từ trên hay từ ngoài. Tuy nhiên, cũng vì ý thức xã hội ấy, tôi luôn luôn cảm thấy phải  học tập, tôi luyện, cập nhật hóa. Thể theo lối nhìn của Stephen R. COVEY, mỗi ngày tôi « đánh sáng, mài nhọn » ý thức xã hội của tôi. Nếu không làm như vậy, tôi đã bắt đầu thoái hóa. Đồng thời, chính khi tôi thoái hóa, bằng cách nầy hay cách khác,  tôi đang góp phần làm cho gia đình, xã hội và đất nước thoái trào, lạc hậu.

Tiếp theo bốn kỹ năng có liên hệ đến ý thức xã hội, bốn kỹ năng sau đây, từ số Năm đến số Tám, trang bị cho tôi những dụng cụ cần thiết, để dễ dàng và thoái mái thiết lập những quan hệ xây dựng và hài hòa giữa người với người, trên bình diện chiều dọc, cũng như về mặt chiều ngang. 

5.- Đồng nhịp, đồng điệu (Synchrony)

Trước khi hai người cùng nhau suy nghĩ, hợp tác, tạo ảnh hưởng, trình bày quan điểm, đóng góp và xây dựng lẫn nhau, họ đã có thể cùng nhau chia sẻ một nhịp thở, bước đi cùng một vận tốc, nhịp nhàng tiến về một hướng. Về mặt thể lý, họ đã bắt đầu đồng hành.

Thiền tập đã dạy cho tôi : Khi đi, tôi biết tôi đang đi. Khi ăn, tôi biết tôi đang ăn. Khi nói, tôi biết tôi đang nói. Khi thinh lặng, tôi thinh lặng thực sự, không xao xuyến, vọng động trong nội tâm hay là tư duy.

Khi thấm nhuần chừng ấy công việc, tôi đã có thể ứng dụng cái biết của mình vào công việc giáo dục một trẻ em tự kỷ. Hẳn thực, khi tôi cần có mặt với em, tôi thực sự có mặt, không làm chuyện khác, như chuyện trò với một người lớn khác, hay là chuẩn bị trong đầu óc một cuộc gặp gỡ ở nơi khác…Với trẻ em có nguy cơ tự kỷ, chính chúng ta dễ dàng bị khuấy động, mất bình tĩnh và an lạc. Cho nên, trẻ em cảm nhận điều ấy và dễ bùng nổ. Hiện tượng xúc động tràn ngập do hai cấu trúc Hạnh Nhân đang ảnh hưởng lẫn nhau và tác động qua lại, làm cho nhau « ô nhiễm » một cách dễ dàng.

Ngược lại, nếu tôi ý thức, nghĩa là « biết » một cách sáng suốt về những hiện tượng ấy, tôi sẽ tập luyện sống thức tỉnh, hạnh phúc, an bình. Tự khắc, trẻ em sẽ hòa nhịp, hòa điệu với tôi, trên những nẻo đường hạnh phúc và an bình. Nếu Hạnh Nhân của tôi bắt đầu lằng dịu, không còn độc tài, độc đoán, độc lộ… Hạnh Nhân của trẻ em sẽ từ từ giảm hạ những cơn lo sợ, kinh hoàng, để đi vào con đường học tập. Và bài học đầu tiên của cuộc đời là « nhìn thẳng vào mắt của mẹ », để từ từ nhận biết « mình được mẹ thương ».

Những tin tức ấy mở ra một con đường trong sáng và hy vọng. Nhưng những tin tức ấy cũng đặt tôi trước một trách nhiệm thật lớn lao và nặng nề. Thay vì than thân trách phận, hay là chờ đợi kẻ khác làm, phải chăng tôi đã quyết tâm thực thi những gì ở trong tầm tay hoạt động của tôi ? Tôi ngồi chờ hoài hủy một « phép lạ » và phép lạ ấy không bao giờ xảy ra. Đương khi ấy, tôi có khả năng chuyển hóa bản thân mình, trong mỗi một quan hệ tiếp xúc và trao đổi. Tự khắc, thành viên thứ hai của quan hệ sẽ dần dần cải biến, cho dù đó là một trẻ em đang có những mần móng hay là nguy cơ tự kỷ.

Để trẻ em có thể đón nhận và tiếp thu những bài học, trong bất kỳ lãnh vực nào, chúng ta hãy quan niệm bài học như một loại « kích thích ». Bài học của chúng ta chỉ có giá trị, khi có khả năng hòa ứng thực sự với mức độ xúc động và nhu cầu của trẻ em, nghĩa là ở trên ngưỡng sơ khởi và không vượt quá ngưỡng khổ đau của trẻ em. Những ngưỡng ấy có thể thay đổi, lên xuống… tùy tình trạng sức khỏe, tùy mức độ thể lý, tùy giai đoạn tỉnh thức hay là mệt mỏi trong ngày. Chính vì lý do nầy, khi làm việc với trẻ em, cha mẹ hay là người giáo viên cần nhạy bén, để ghi nhận những dấu hiệu trong liếc nhìn, trong điệu bộ, trong tư thế, nhằm ĐỒNG NHỊP, ĐỒNG ĐIỆU, bằng cách biết dừng lại hay là thay đổi sinh hoạt. Những cách làm ấy đòi hỏi chúng ta hãy tôi luyện Trí Thông Minh xã hội, nghĩa là thức tỉnh và ý thức về những quan hệ giữa chúng ta và trẻ em.

6.- Diễn tả và khẳng định mình (Self-Presentation)

Self trong tiếng Anh có nghĩa là một “chủ thể” đang “ý thức” về mình, cũng như đang “kết dệt những quan hệ” hai chiều qua lại với một chủ thể khác.

Dưới hình thức một phương trình toán học, tôi có thể định nghĩa một chủ thể như sau:

Chủ thể (Self) = Ý thức xã hội (Social Awareness hay là Consciousness) + (cọng) Quan hệ xã hội (Relationship).

Đi ngược lại với Chủ Thể có khả năng biết mình, biết người, là “Cái  Tôi” ích kỷ, hẹp hòi (Ego), với ý chí toàn năng, tưởng mình là bá chủ của cả trời đất vũ trụ. Do đó, tôi không lưu tâm đến người khác. Trên bình diện tăng trưởng và phát triển, một trẻ em cần đạt mức độ chung quanh 3 tuổi, mới bắt đầu có ý thức và trả lời bằng ngôn ngữ câu hỏi “Mình là ai?”. Tuy nhiên, suốt cuộc đời làm người, và nhờ những trao đổi, va chạm với người khác, trong môi trường xã hội, chúng ta mới hội tụ đầy đủ điều kiện, để mài nhọn và thường xuyên đánh sáng ý thức về con người đích thực của mình.

Khi không biết “Mình là ai?”, nghĩa là khi chưa có ý thức về con người xã hội, và khi chưa kết dệt quan hệ xã hội với người khác, làm sao khẳng định mình hay là diễn tả mình. Thể thức diễn tả hay là nói ra cho kẻ khác biết về con người của mình, bao gồm nhiều thể loại và cấp độ khác nhau:

-         Trong cấp thứ nhất, tôi nói về THỰC TẾ cụ thể và khách quan của tôi: Tôi thấy gì, tôi nghe gì, tôi tiếp cận gì với bàn tay và làn da của tôi?

-         Trong cấp thứ hai, tôi nói về LỐI NHÌN chủ quan và độc đáo của tôi : Thực tế có Ý NGHĨA gì đối với tôi. Lối nhìn còn mang tên là quan điểm, ý kiến, khung qui chiếu…Và khi chia sẻ về lối nhìn chủ quan của mình, tôi cũng ý thức rằng: người khác có những ý kiến chủ quan của họ.

-         Trong cấp thứ ba là, tôi nói về Ý ĐỊNH của tôi. Tôi cố quyết làm gì? Kế hoạch hành động bao gồm những bước đi lên như thế nào?

-         Trong cấp thứ bốn, tôi nói về những ĐÓNG GÓP hay là TRÁCH NHIỆM liên đới của tôi: Tôi làm được gì cho người có quan hệ với tôi?

-         Trong cấp thứ năm, tôi nói về những XÚC ĐỘNG của tôi. Và đằng sau mỗi xúc động, tôi CẦN gì? Tôi ƯỚC MONG gì? Tôi XIN gì?

Một cách đặc biệt, ba nhu cầu cơ bản của tôi được tóm lược trong ba câu hỏi:

-         Tôi có giá trị không?

-         Tôi có được thương không?

-         Tôi có khả năng làm gì cho mình tôi và người khác, trong cuộc đời?

Khi trả lời một cách rốt ráo, ba loại câu hỏi cơ bản ấy, tôi đang xác định con người đích thực của tôi: TÔI LÀ AI, TÔI LÀ GÌ, cuộc đời tôi có ÝNGHĨA như thế nào?

7.- Tạo Ảnh Hưởng (Influence) hay là Lãnh Đạo (leadership)

Tạo ảnh hưởng, bằng cách vận dụng Trí Thông Minh Xã Hội, không có nghĩa là tôi áp đặt từ ngoài, rót xuống từ trên, hay là tôi đứng ở ngoài vòng, chỉ tay năm ngón, ép bưộc kẻ khác thực hiện ý muốn của riêng tôi, và đòi hỏi kẻ khác phục vụ tôi, như một dụng cụ, một đồ vật, hay là một loại người thứ yếu, phụ thuộc.

Về mặt tích cực, theo lối nhìn của Stephen R. COVEY, tôi chỉ tạo ảnh hưởng, một cách đứng đắn và hữu hiệu, nghĩa là mang lại những thành quả vừa cho mình và vừa cho người khác, với ba điều kiện hay là cách làm sau đây:

Thứ nhất, tôi ý thức về tư cách làm người có giá trị thực sự của tôi,

Thứ hai, tôi có khả năng tạo mọi điều kiện thuận lợi và cụ thể, nhằm giúp kẻ khác cũng làm người như tôi, ngang hàng tôi, với tôi.

Thứ ba, khi tôi trao tặng hay là dâng hiến mòn quà làm người cho kẻ khác, tôi đang nhận lại những món quà làm người  cao trọng và bền vững hơn, mặc dù tôi không đợi chờ, đòi hỏi gì hết.

Theo ngôn ngữ của tác giả Edward De BONO, cách tạo ảnh hưởng như vậy mang tên là LÃNH ĐẠO CHIỀU NGANG. Phải chăng đó là chìa khóa có khả năng mở ra những cánh cửa đang còn đóng kín của trẻ em có nguy cơ tự kỷ, trong những phương thức giáo dục của chúng ta?

Không vận dụng loại quan hệ hai chiều, tương tức, tương tác (Synergizing), với trẻ em, chúng ta chỉ tạo nên những con keo, con vẹt hay là những bộ máy phát âm một cách tự động. Trái lại, trong mọi quan hệ giáo dục, đích thực và đúng nghĩa, ưu tiên SỐ MỘT của chúng ta là con người có ý thức, có giá trị, có khả năng quyết định và chọn lựa.

8.- Đặt TRỌNG TÂM vào con người, trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi còn có nghĩa là tham cứu những ý kiến của họ, về tầm nhìn cũng như về những quyết định quan trọng.

Trong một tập thể, một cộng đồng hay là một Đất Nước, thiết lập những quan hệ lãnh đạo chiều ngang hay là tạo ảnh hưởng, còn có nghĩa là lắng nghe ý kiến của từng người, tham khảo tầm nhìn của mỗi người. Không một tiếng nói nào được khinh thường. Từ đó, mỗi chương trình, mỗi kế hoạch là kết tinh, kết tụ, tổng hợp và đúc kết mọi ý kiến của mọi thành phần. Nói đúng hơn, mọi thành phần lắng nghe nhau, trao đổi, chia sẻ qua lại với nhau.

Chúng ta hãy trở lại với cách tổ chức của Thần Kinh Não Bộ. Mọi thành tố của cơ thể không ngừng gởi tin tức về Trung Ương. Trước khi đưa ra quyết định cuối cùng, Thùy Trán (Frontal Cortex) đã tham khảo mọi tầng lớp cơ quan và trung tâm khác nhau. Trong những trường hợp khẩn trương, vì lý do sinh tồn, Cấu Trúc Hạnh Nhân đã áp đảo mọi cấu trúc khác. Kết quả là xúc động tràn ngập. Những tình huống nầy  làm tổn hại hạnh phúc và sức khỏe của con người toàn diện. Phải chăng đó là bài học quí hóa, cần được rút tỉa cho mọi quan hệ xã hội giữa người với người? Ích lợi gì, khi chúng ta ngụp lặn trong của cải, tiền bạc, để rồi cuối cùng phải chuốc lấy hậu quả “tàn gia bại sản” trên bình diện làm người, làm anh chị em, làm đồng bào?

Trong lãnh vực giáo dục trẻ em tự kỷ, chính vì những lý do vừa được khảo sát về Trí Thông minh Xã Hội, chúng ta cần sáng suốt và can đảm nêu ra câu hỏi và cùng nhau rút tỉa kinh nghiệm: “Ưu tiên số một là gì? Điều nào quan trong bậc nhất cho cuộc sống của các em?

 

                                                 *** 

Để tóm lược tất cả nội dung được trình bày về Trí Thông Minh Xã hội, tôi xin mượn lại bảy bước đi lên, do Stephen N. COVEY đề xuất, nhằm xác định những điêu cần làm, khi giáo dục trẻ em có nguy cơ tự kỷ:

Bước thứ nhất: Quyết định và chọn lựa, thay vì phản ứng một cách máy móc, tự động và bốc đồng,

Bước thứ hai: Xác định Mục Đích và mục tiêu một cách kỹ càng và đứng đắn,

Bước thứ ba: Khảo sát và xếp đặt Ưu Tiên Số Một lên hàng đầu,

Thứ bốn: Lắng nghe ngôn ngữ có lời và không lời, để phát hiện nhu cầu ở đây và bây giờ của trẻ em,

Thứ năm:Tạo quan hệ đồng cảm và đồng hành với trẻ em, khi làm công việc giáo dục, thay vì áp đặt, cưỡng chế, trừng phạt, với bất cứ lý do gì. Tệ hơn nữa là đánh đập, cô lập, nhốt vào phòng và khóa kín cửa.

Thứ sáu:Tương tạo và tương tác, bằng cách tạo điều kiện, học cụ, phương tiện, cơ hội… để giúp trẻ em quyết định và chọn lựa. Đồng thời, kêu mời trẻ em cùng chúng ta và giúp chúng ta thực hiện cũng như hoàn thành một số công tác cần thiết…

Thứ bảy: Mỗi ngày làm mới, đánh sáng lại sáu cách làm trên đây. Nói khác đi, chúng ta hãy làm người, để giúp trẻ em làm người. cho dù các em đang có những nguy cơ tự kỷ. 

 

Sách tham khảo:

1)  Daniel GOLEMAN  -  Social Intelligence  -  Hutchinson

                                                                 London 2006

2)  Arone M. ARONE  -  The Theorem  -  Winchester

                                                                UK 2005

3)  Edward DE BONO  -  Six thinking hats – Penguin Books

                                                                London 1886

4)  Stephen R. COVEY  -  The 7 Habits of highly effective

                                                People  -S&Sch. UK 1992

5)  Marshall B. ROSENBERG -Nonviolent Communication-

                                                 PuddleDancer CA, 2001


Quay lại Mục lục


Chương Bốn

Những Cơ Sở Thần Kinh của Trí Thông Minh Xã Hội

 

Trong ý hướng phát huy và tạo quan hệ đồng cảm và đồng hành với kẻ khác, chúng ta cần lần lượt thực thi một trong 8 động tác thuộc trí thông minh xã hội, như đã được trình bày trong chương vừa qua:

   - Bốn động tác 1-4 nhằm phát huy ý thức về con người có tính xã hội của chúng ta

        Đồng cảm sơ khởi (hay là Đồng cảm vô thức, tự phát),

        Hòa ứng với mức độ xúc động của kẻ khác.

        Đồng cảm chính xác (hay là Đồng cảm có ý thức),

        Hiểu biết về qui luật và cách tổ chức của đời sống xã hội.

   - Bốn động tác 5-8 nhằm phát huy quan hệ trao đổi qua lại của chúng ta với những người cùng chung sống trong môi trường xã hội

        Đồng nhịp và đồng điệu,

        Diễn tả quan điểm và nhu cầu có mặt trong Nội tâm, nhằm khẳng định con người của mình,

        Tạo điều kiện thuận lợi và giúp kẻ khác diễn đạt phần tinh túy của bản thân (Tạo ảnh hưởng hay là Lãnh đạo chiều ngang),

        Nhìn nhận và tôn trọng giá trị của người khác đang chung sống với chúng ta, cũng như tìm cách đáp ứng một cách thành tâm và hữu hiệu, những nhu cầu cơ bản và chính đáng của họ.

Chính lúc vận dụng trí thông minh xã hội, với những bước đi lên như vậy, chúng ta đang chủ động thiết lập, củng cố và làm động chuyển nhiều đường dây thần kinh khác nhau, thuộc hệ thống não bộ của chúng ta.

Trước năm 1995, những lời khẳng định như vậy, có lẽ đã tức khắc bị đánh giá là những phát biểu mang tính chất hoang tưởng, bịa đặt, cường điệu và khoác lác.

Thế nhưng, ngày nay, với những dụng cụ quan sát và ghi nhận, mang tên là fMRI (functional Magnetic Resonance Imaging), các nhà khoa học chuyên môn nghiên cứu về não bộ, có thể trình chiếu lên trên một màn ảnh, những tín hiệu được thắp sáng lên, và đang di động từ vùng nầy qua vùng khác. Hẳn thực, mỗi lần chúng ta thay đổi hình thức hoạt động  – ví dụ từ lo sợ chuyển qua sinh hoạt chú ý, đánh giá…- máy quan sát fMRI cho phép chúng ta ghi nhận những tín hiệu có liên hệ đến những hiện tượng thay đổi trong nhiều đường dây thần kinh khác nhau của não bộ. Một cách cụ thể, dựa vào những tín hiệu đang được thắp sáng lên và di chuyển, chúng ta có thể phát hiện 2 điều: Thứ nhất, những hiện tượng thay đổi ấy bắt đầu xuất phát từ vị trí nào trong não bộ? Thứ hai, những hiện tượng ấy di động, hay là đưa thoi qua lại, từ vùng nào đến vùng nào?

Trong khuôn khổ hạn hẹp của một chương sách này, tôi chỉ chọn lọc và nhấn mạnh một vài điểm chính yếu sau đây:

1.- Ba Vùng sinh hoạt khác nhau của Não bộ,

2.- Hai đại lộ thần kinh ở phía trên và ở phía dưới,

3.- Hai loại tế bào thần kinh đặc biệt, có mặt trong các đường dây liên lạc: Tế bào phản chiếu hay là phản ảnh (mirror neurons) và tế bào hình con suốt (spindle cells),

4.- Một số sinh hoạt và bài học đặc biệt phát xuất từ những cấu trúc và trung tâm khác nhau của Não bộ.

 

                                                ***

1.- Ba cấu trúc khác nhau của Não bộ

Qua bao nhiêu giai đoạn và quá trình tiến hóa, Não bộ hiện tại của con người bao gồm ba tầng lớp hay là ba cấu trúc khác nhau:

-         Cấu trúc thứ nhất là Thân Não có phần vụ điều hướng và điều hợp những sinh hoạt tự động thuộc hai hệ thống giao cảm và đối giao cảm. Thân Não đã có mặt nơi loài bò sát. Vì thế, Thân Não còn được gọi là Não bộ của loài bò sát.

-         Cấu trúc thứ hai là Hệ Viền, còn mang một tên khác là Trung Não, đặc trách về đời sống xúc động. Hệ Viền đã có mặt nơi các động vật thuộc loài có vú.

-         Cấu trúc thứ ba là Tân Vỏ Não -  bao gồm 4 loại Thùy khác nhau: Thùy Trán, Thùy Đỉnh, Thùy Chẫm và Thùy Thái Dương -  đặc trách về đời sống tư duy và ý thức. Một cách đặc biệt, Thùy Trán là Trung tâm có chức năng hoạch định và điều hành tất cả mọi sinh hoạt trong toàn diện cơ thể. Tân Vỏ Não đã bắt đầu xuất hiện nơi loài vượn khỉ, trước khi đạt đến những hình thức và khả năng hiện tại nơi loài người.

Một cách đặc biệt, ba loại Trí Thông Minh – tổng quát, xúc động và xã hội – sẽ bị rối loạn và thoái hóa, nếu một trong ba tầng Não bộ,  bị tổn thương hay là gặp những trắc trở, trong những giai đoạn thành hình và phát triển.

Một vài nhận xét vừa được nêu ra như vậy, cho chúng ta thấy rõ: Trong những điều kiện sinh sống hiện tại của con người, nếu không có những cơ sở thần kinh của Não bộ,  ba loại Trí Thông Minh, trong đó có Trí Thông Minh xã hội, sẽ không bao giờ có thể xuất hiện.

Tuy nhiên, theo nhận xét của các nhà khoa học về não bộ, Trí Thông Minh Xã Hội không có một trụ sở hay một trung tâm thần kinh nhất định, có sẵn từ đầu và có thể được khoanh vùng một cách cụ thể và chính xác. Trái lại, khi Trí Thông Minh hoạt động, một hay nhiều đường dây thần kinh trong Não Bộ sẽ từ từ thành hình,  được củng cố, và càng ngày càng lớn mạnh, nếu vẫn được tiếp tục kích hoạt.

Trái lại, khi không được kích hoạt, hay là kích hoạt một cách không đứng đắn, thể theo những nhu cầu của từng giai đoạn phát triển, những đường dây, tuy dù đã có mặt, sẽ tàn lụi và biến chất, nhất là trong 7 năm đầu đời, khi Hệ Thần Kinh đang trên đường tăng trưởng và biến chuyển.

Trong tinh thần và lăng kính nầy, khi trẻ em có một vài dấu hiệu rối loạn, trong lãnh vực tiếp xúc và trao đổi xã hội, vì bất cứ lý do gì,  trách nhiệm và công việc đầu tiên của chúng ta là sáng tạo những quan hệ đồng cảm:

   *Thấy như trẻ em thấy, nghe như trẻ em nghe, cảm như trẻ em cảm, đau niềm đau của trẻ em, sợ nỗi sợ của trẻ em.

    *Lắng nghe trẻ em, thay vì ép buộc trẻ em lắng nghe mình.

    *Có mặt với trẻ em, một cách năng động và đầy sáng tạo, chính khi trẻ em đang lo sợ, không dám nhìn thẳng vào đôi mắt của chúng ta, thậm chí với người mẹ của mình.

Nhờ những cách làm đơn sơ nhưng rất cơ bản nầy, chúng ta sẽ từ từ trở thành những nhịp cầu an toàn, để giúp trẻ em đi ra với thế giới bên ngoài, khám phá và học tập dần dần 8 động tác thuộc Trí Thông Minh Xã Hội. Phải chăng đó là bài học quan trọng bậc nhất, thuộc ưu tiên số một, có khả năng chuẩn bị mọi bài học làm người khác sau nầy, nhất là trong lãnh vực giáo dục trẻ em tự kỷ?

    2.- Hai Đại lộ thần kinh phía trên và phía dưới

Khi trẻ em vừa mới sinh ra, thậm chí khi còn là thai nhi trong lòng mẹ, toàn bộ cấu trúc Hệ Viền đã có mặt và hoạt động.

-         Trung tâm Đồi Thị đã bắt đầu thu nhận những tin tức do các giác quan của cơ thể gửi về, theo đường dây đi ngang qua Tủy Sống và Thân Não. Sau đó, Đồi Thị có phần vụ tập trung, xếp loại và phân phối những tin tức cho các cơ quan hay trung tâm liên hệ, thuộc ba giai tầng khác nhau của Não bộ, tùy vào vấn đề cần giải quyết. 

-         Những tin tức có tính khẩn trương, thuộc đời sống xúc động, được tức khắc chuyển đến Hạnh Nhân, bằng đường dây trực tiếp, không cần đi qua những Thùy khác nhau của Tân Vỏ Não.

-         Vào những tháng ngày đầu tiên, thuộc ba năm thứ nhất của cuộc đời, cấu trúc Tân Vỏ Não chưa được hoàn toàn trang bị đầy đủ, bằng các đường dây có lớp my-ê-lin bao bọc ở ngoài. Cho nên, gần như mọi tin tức đều có ý nghĩa xúc động - như vui, buồn, sợ, giận – và do đó tất cả đều được chuyển đến Hạnh Nhân 

-         Cũng vào những giai đoạn tăng trưởng và phát triển nầy,  Tân Vỏ Não, nhất là Thùy Trán, chưa có khả năng đề xuất những phán quyết ôn hòa và mềm dẽo, nhằm đánh giá những tin tức và đưa ra cho các vùng của cơ thể, những mệnh lệnh cần thi hành, có tính thích ứng với hoàn cảnh. Chính vì lý do nầy, tất cả mọi trẻ em nói chung, và trẻ em có nguy cơ tự kỷ nói riêng, đều sống dưới chế độ độc tài và độc trị, vô thức và vô minh của Hạnh Nhân. Phản ứng của trẻ em, trong những tình huống như vậy, chỉ xẩn vẩn, xoay vần chung quanh 3 thể loại:

Một là bùng nổ, phản loạn, hủy diệt mình và tấn công kẻ khác.

Hai là thụ động và bị động hoàn toàn, cơ hồ con tắc kè, biến mình theo màu sắc của hoa lá và sỏi đá chung quanh.

Ba là lăng xăng, tăng động, chạy vòng vo, luẩn quẩn…

Nói tóm lại, đó là 3 phản ứng máy móc và tự động của một sinh vật sống dưới gông cùm của sợ hãi, kinh khiếp.

-         Khi phải chung sống với những cá nhân – trẻ em hay người lớn – đang trải nghiệm những cơn sợ hãi, kinh hoàng như vậy, chúng ta, trong vai trò giáo dục, chỉ có một lối cư xử và đãi ngộ duy nhất là bình tĩnh và sáng suốt thiết lập những quan hệ đồng cảm, khả dĩ tạo an toàn cho mình và người đối diện. Nếu thiếu khả năng nầy, để giữ tâm hồn an lạc, chính chúng ta, người cha mẹ hay là giáo viên…lại trở thành nạn nhân, bị đầu độc và ô nhiễm, do những con “vi khuẩn tâm linh” thuộc loại xúc động và bạo động, mà người đối diện đang nhả ra, một cách bừa bãi, trong bầu không khí sống chung. Rối loạn trầm cảm hay là tình huống kiệt sức trầm trọng (Burn-out) là chặng đường cuối cùng sẽ “thiêu rụi” chúng ta, nếu chúng ta không tìm cách chuyển hóa, vùng đứng lên, giải thoát mình.

Xuyên qua tất cả bao nhiêu nhận định vừa được trình bày, tôi muốn nhận làm của mình lối nhìn và ngôn ngữ của tác giả Joseph LEDOUX về hai Đai lộ thần kinh của Não Bộ, đang giao thoa chằng chịt, tác động trên nhau và bổ túc lẫn nhau.

-         Đại lộ thứ nhất ở phía trên, phát xuất từ Thùy Trán, có chức năng tổ chức và định hướng mọi quan hệ xã hội của chúng ta. Ngôn ngữ được Thùy Trán vận dụng trong những sinh hoạt của mình, là ngôn ngữ có lời, có tính chính xác và độc nghĩa.

-         Đại lộ thứ hai ở phía dưới, phát xuất từ Trung Tâm Hạnh Nhân, có khả năng thúc đẩy chúng ta hoàn thành những quan hệ với tha nhân, trong bất kỳ môi trường xã hội nào. Ngôn ngữ trao đổi của Hạnh Nhân là Hành vi câm nín, một loại ngôn ngữ không lời, có thể cưu mang nhiều tầng lớp ý nghĩa khác nhau, tùy vào quan điểm chủ quan của người nói, cũng như cách nhận thức của người nghe. 

Thiếu đại lộ thứ nhất làm công việc sáng soi và hướng dẫn, quan hệ của chúng ta chỉ bao gồm những phản ứng máy móc, tự động, bốc đồng và hoàn toàn vô hiệu.

Thiếu đại lộ thứ hai làm động cơ thúc đẩy, chúng ta chỉ hô hào, tuyên truyền và láo khoét, từ vị trí ở ngoài hay là ở trên. Cho nên, chúng ta không bao giờ dám bắt tay vào làm, hay là đổ ra một giọt mồ hôi, với kẻ khác, cho kẻ khác và nhờ kẻ khác.

Vì lý do sư phạm, tôi đã cố tình đơn giản hóa vấn đề đến mức tối đa, bằng cách chỉ nói đến vai trò của Thùy Trán. Trong thực tế sinh hoạt của Tân Vỏ Não, còn có bao nhiêu đường dây thần kinh khác nối kết Thùy Trán với các Thùy khác. Nhờ đó, trước khi đề xuất cho các bộ phận trong cơ thể, những mệnh lệnh cần thực thi, Thùy Trán đã thu lượm tin tức, sau khi tham khảo nhiều vùng khác nhau của Não bộ.

Thêm vào đó, chính Thùy Trán cũng được tổ chức thành nhiều vùng với nhiều phần vụ hoặc chức năng chuyên môn khác nhau, nhưng bổ túc cho nhau.

Chẳng hạn, Vùng Trán-Ổ mắt (Orbitofrontal Cortex-OFC), nằm gần sát đằng sau đáy mắt, có phần vụ điều hợp và điều chỉnh sức ép –hay là xung năng- của Hạnh Nhân.

Vùng Đai Phía Trước (ACC-Anterior Cingulate Cortex), nằm ở giữa Hệ Viền và Thùy Trán, như một đường biên giới, có phần vụ dưa ra những phán quyết: “Nên” hay “Không Nên”,  “Điều gì quan trong bậc nhất” cần được quan tâm và thực hiện ngay lập tức?

Cũng giống hệt như vậy, khi nói đến Đại lộ phía dưới, tôi thường nói đến điểm xuất phát là Trung Tâm Hạnh Nhân, nằm ở dưới Đồi Thị, và cũng nằm sát bên cạnh Kho Tàng Hoài Niệm là Hải Mã. Cả 3 cơ quan nầy đều được nối kết với nhau, bằng những đường dây thần kinh thuộc Đại Lộ phía dưới. Và Đại Lộ nầy còn tiếp tục đi xuống, để liên lạc với Thân Não, Tiểu Não và nhất là Các Tuyến Trên Thận (Suprarenal gland), nhằm nhả ra trong đường máu, những hóa chất, những độc tố, những kích thích tố hay là những loại hóc-môn khác nhau.

Sau hết, tôi cũng muốn nhắc lại: giữa Hạnh Nhân và Thùy Trán, có những đường dây lên xuống, nối kết hai vùng nầy lại với nhau. Xuyên qua đường dây liên lạc nầy, Hạnh Nhân có thể phong tỏa, làm tê liệt mọi hoạt động điều hướng và điều hợp của Thùy Trán. Nhưng cũng xuyên qua đường dây nầy, Thùy Trán có thể điều chỉnh hay là kiểm soát ảnh hưởng bốc đồng của Hạnh Nhân.

Với ngôn ngữ hình tượng, tôi có thể so sánh Hạnh Nhân như một con ngựa kéo cỗ xe, và Thùy Trán như người cầm cương, điều khiển con ngựa. Thiếu con ngựa, cỗ xe sẽ mãi hoài đứng im một chỗ, không thể nào di động tới trước. Tuy nhiên, nếu người cầm cương không tỉnh thức để lái xe, nhất là khi đi qua những con đường hiểm trở, cả xe và ngựa có thể rơi xuống hố.

3.- Tế Bào Phản Chiếu và Tế Bào Hình Suốt  (Mirror Neurons, Spindle cells)

Thể theo những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về Não bộ, những đường dây nối kết Thùy Trán và Hạnh Nhân được kết dệt bằng hai loại tế bào rất đặc biệt: Tế bào Phản chiếu và Tế bào hình suốt.

a) Tế bào phản chiếu

Chẳng hạn, khi hai người vừa nhìn thẳng vào đáy mắt của nhau lần đầu tiên, họ đã có thể cảm nhận tức khắc mình đang được người kia chiếu cố, chấp nhận. Sở dĩ có những hiện tượng trực giác nhạy bén và nhanh chóng như vậy xảy ra, là vì  trên đường dây nối kết Thùy Trán-Ổ Mắt (OFC) và Hạnh Nhân, những tế bào phản chiếu của cả 2 người đối diện, đang xúc tác và trao đổi qua lại với nhau, những vũ khúc hòa ứng và hòa điệu, đồng cảm và đồng hành.

Chính nhờ vai trò của những tế bào phản chiếu nầy, chúng ta có thể thực hiện một số động tác có liên hệ trực tiếp với Trí Thông Minh Xã Hội:

-         khuôn đúc lại, một cách tự nhiên và tự phát, trên bản thân của chúng ta, những hành động bên ngoài, nơi người khác,

-         khám phá ý định của kẻ khác, trước khi họ trình bày và trao đổi bằng ngôn ngữ có lời,

-         cảm nhận những tâm tình và xúc động đang có mặt trong nội tâm của một người, đang nhìn chúng ta và được chúng ta nhìn.

Nhờ vào những tế bào phản chiếu nầy, trẻ em trước 6 tuổi đã  tiếp thu và hội nhập những bài học về thái độ đồng cảm, những hành vi lưu tâm đến ngưới khác, hay là về khả năng sử dụng ngôn ngữ có mặt trong môi trường gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, đây là con dao hai lưỡi: cũng vì ảnh hưởng lớn lao của các tế bào phản chiếu, trẻ em và thanh thiếu niên bị “tiêm nhiểm” một cách rất dễ dàng, trước bao nhiêu tập tục và lối nhìn lệch lạc, đang có mặt tràn đầy trong môi trường sinh sống chung quanh. Làm sao một trẻ em có thể trở nên một con người tự tin, tự trọng, lạc quan, yêu đời và có tinh thần trách nhiệm, nếu ngày ngày chỉ thu nhận những lời đánh giá: “Mày hỗn láo, mày vô dụng, mày vô ơn…”. Còn tệ hơn nữa, nếu trẻ em bị đánh đập, trừng phạt…các em sẽ ghi khắc vào các tầng sâu của nội tâm, một bài học về chính bản thân của mình: “Tôi chỉ là đồ vật. Tôi là một thứ “ngợm” không có phẩm giá, cho nên bị loại trừ”.

b) Tế bào hình suốt

Loại tế bào thứ hai cũng có mặt trong mọi đường dây nối kết cấu trúc Hạnh Nhân với Thân Não ở phía dưới, cũng như với Tân Vỏ Não ở phía trên, một cách đặc biệt với 2 vùng OFC và ACC ( vùng Ổ Mắt và vùng Đai phía trước).

Loại tế bào nầy có Nhân rất lớn và phình ra, giống như hình con suốt, với các sợi Nhánh và sợi Trục (dendrite, axone) rất dài, so với các loại tế bào thần kinh khác.

Nhờ các loại tế bào nầy nối kết chằng chịt với nhau, xuyên qua rất nhiều khớp xi-nắp, những tin tức vận chuyển một cách thần tốc, từ vùng nầy qua vùng khác. Phải chăng đó là bí quyết khả dĩ giải thích tại sao chúng ta có thể đề xuất, trong một chớp nhoáng hay nháy mắt, những trực giác, những cảm thức,  những nhận định, những cách đánh giá, trong lãnh vực quan hệ xã hội? Hẳn thực, nhờ ảnh hưởng tác động của các loại tế bào hình suốt nầy, hai người vừa gặp và nhìn nhau, đã có thể nhận biết nhau, hiểu nhau, khi chưa trao đổi với nhau một lời.

-         Với con đường Hạnh Nhân – OFC (Trán Ổ Mắt), chúng ta chia sẻ những phản ứng xúc động với kẻ khác, như vui với kẻ vui, buồn với người buồn…

-         Với con đường Hạnh Nhân – ACC (Đai Phía Trước), chúng ta phân biệt hay là nhận ra những xúc động hiện hình trên nét mặt của người đối diện. Cũng nhờ con đường Hạnh Nhân – ACC nầy, chúng ta có khả năng phối hợp Tư duy, Xúc động và Thể thức đáp ứng.

-         Ngoài ra Hạnh Nhân cũng có thể sử dụng nhiều con đường khác, được trang bị với những tế bào hình suốt, để kích thích những trung tâm, những cơ quan hay là những khớp Xi-nắp…Và khi được kích thích, những bộ phận nầy sẽ tiết ra trong đường máu, những loại hóa chất như Dopamine, Adrenaline, Serotonin, Vasopressin…Chẳng hạn, người mẹ ôm con vào lòng, vuốt ve, xoa bóp, cho con bú… với tình thương mẫu tử, cũng như với một tâm trạng vui thích, sung sướng. Trong chính lúc ấy, những hóa chất hóc-môn như Endorphin, Oxytoxin...được tiết ra trong máu, để gia tăng năng lực cho bà, trong vai trò làm mẹ và nuôi con.

4.- Những sinh hoạt và bài học đặc biệt có liên hệ đến những cấu trúc khác nhau của Não Bộ

Xuyên qua những điều được trình bày trước đây, tôi đã nhấn mạnh lui tới nhiều lần: lúc đứa bé vừa mới sinh ra khỏi lòng mẹ, cấu trúc Hệ Viền đã được trang bị đầy đủ, với những đường dây đã thành hình. Hạnh Nhân đã có thể hoạt động bình thường, bằng cách tiếp thu những tin tức do Đồi thị gửi xuống, và sau đó phát ra những mệnh lệnh có khả năng điều hướng những cơ quan trực thuộc, nhất là trong lãnh vực xúc động.

Trong khi ấy cấu trúc Tân Vỏ Não đang còn ở trong giai đoạn thành hình, tăng trưởng và phát triển. Một số tế bào đã có mặt, nhưng các sợi Nhánh (Dendrite) và sợi Trục (Axone) chưa có lớp Myêlin bao bọc chung quanh. Các Thùy đã có mặt. Nhưng Cấu Trúc Tân Vỏ Não cần được kích hoạt mỗi ngày, để có thể mở ra những đường dây liên lạc, thiết lập những khớp xi-nắp, nối kết các vùng lại với nhau. Đại Lộ Phía Trên từ từ được thành hình, và nhờ đó, trẻ em càng ngày càng mở rộng những chân trời học tập và khám phá của mình.

Nhằm minh họa tiến trình mở đường nầy, tôi xin đưa ra một vài điểm mốc quan trọng như sau:

-         Chung quanh tuổi chín tháng, trẻ em bắt đầu có khả năng phân biệt người lạ và người quen.

-         Chung quanh tuổi ba năm, trẻ em có khả năng ý thức rõ ràng rằng : mẹ mình chỉ là một người duy nhất, mặc dù mẹ thay đổi thường xuyên trong cách trang phục, trên nét mặt, trong điệu bộ, trong cung cách hành xử. Khi nầy, mẹ là bà tiên, dễ thương, dịu dàng, Khi khác, mẹ lại biến thân thành bà phù thủy xấu xí,, nghiêm khắc, la rầy, khó chịu…

-         Chung quanh 4 tuổi, khả năng đồng cảm với mẹ bắt đầu xuất hiện. Từ đây, nhìn vào mắt mẹ, trẻ em bắt đầu đọc được ý định của mẹ. Em biết được mẹ đang vui hay là có điều buồn trong lòng…

-         Chung quanh 6-7 tuổi, trẻ em mới có khả năng tư duy, nghĩa là biết thuyên giải, rút ra những kết luận, bằng cách dựa vào những sự kiện, được các giác quan ghi nhận một cách cụ thể và khách quan.

Nếu không học, không được giáo dục – nghĩa là không ngày ngày kích hoạt các tế bào thần kinh, để thiết lập những đường dây nối kết các vùng của não bộ lại với nhau – làm sao trẻ em có khả năng hội nhập 8 động tác thuộc trí Thông Minh Xã Hội, mà tôi đã trình bày trước đây?

Trẻ em bình thường, trong 6 năm đầu tiên, đã hội nhập những bài học về quan hệ xã hội, bằng cách nhìn thẳng vào đáy mắt của mẹ, để thiết lập và củng cố các đường dây thần kinh não bộ, phát xuất từ Vùng OFC.

Với trẻ em có nguy cơ tự kỷ, chúng ta cần cùng nhau động não, sáng tạo những phương thức tiếp cận, nhằm giúp các em tái lập lối nhìn “trực diện”. Trái lại, nếu chúng ta nhắm mắt đi theo những tập tục “xưa bày nay làm”, nghĩa là ép buộc, cưỡng bức, đe dọa, trừng phạt…chúng ta chỉ tăng cường, củng cố ảnh hưởng gây sợ hãi của Hạnh Nhân. Lúc bấy giờ chúng ta gia trọng vấn đề, hơn là tìm cách giải quyết, hóa giải, chuyển hóa.

Bao nhiêu nhận xét ấy chỉ nhắm một mục đích: Kêu mời mỗi người cha mẹ, giáo viên… và bao nhiêu người khác có trách nhiệm lãnh đạo, trong lòng Quê Hương : Hãy tiếp thu và hội nhập những bài học của Hệ Thần Kinh Não Bộ.

        Hãy lắng nghe các “tế bào phản ảnh”, để ngày ngày sáng tạo những bài học, nhằm giúp trẻ em có cơ hội nghe lại mình, nhìn lại mình.

        Hãy bắt chước “tế bào hình thoi”, để tạo nên cho trẻ em một quan hệ vui tươi, một bầu khí ấm áp, một tiếng nói nhỏ nhẹ, dịu dàng…có khả năng động viên, khích lệ từ bên trong.

        Hãy hợp tác tối đa với Đại Lộ Phía Trên của Tân Vỏ Não, trong chiều hướng trình bày những tin tức khác quan, nhằm thoa dịu, giải hòa, đối thoại với Đại Lộ Phía Dưới của Hạnh Nhân.

        Giới thiệu một lối nhìn mới, một khung cảnh mới, một chân trời mới, thay vì áp đặt từ trên và từ ngoài những quan điểm phê phán, tố cáo, loại trừ, khủng bố…Trước khi yêu cầu Hạnh Nhân hãy lắng nghe mình, phải chăng Thùy Trán đã biết lắng nghe, tham khảo, bổ túc và kiện toàn ý kiến của Hạnh Nhân?

        Hãy bắt chước cách làm của Cấu Trúc Hải Mã thuộc Hệ Viền, là ngày ngày cập nhật hóa kho tàng hoài niệm “dài hạn”, cổ truyền, đã đóng lớp rêu phong… bằng những tin tức của hiện tại và hiện thực “ở đây và bây giờ”, do Thùy Trán gửi xuống, để làm mới, đánh sáng lại con người của chúng ta.

        Hãy nhận làm của mình bài học về Lãnh Đạo Chiều Ngang, do Thùy Trán cung cấp, là LẮNG NGHE tất cả mọi bộ phận, mọi thành phần lớn nhỏ, như tay, chân, bao tử… Bằng cách nầy hay cách khác, phải chăng Tân Vỏ Não đang được mỗi bộ phận của cơ thể nuôi sống và giáo dục, để chu toàn trách vụ của mình? Cho nên, ai buồn, mà lòng tôi không trăn trở? Ai đói, mà tâm hồn tôi không khổ đau? Ai bệnh hoạn, mà bản thân tôi không nhức nhối, đồng cảm? Ai đang trình bày một ý kiến, mà tôi không đón nhận, với tất cả vành tai xôn xao và kính trọng?

        Hãy tìm cách phát hiện và khám phá những năng động, những điểm tích cực của trẻ em, cũng như của bao nhiêu người khác đang tiếp xúc với chúng ta, thay vì vạch lá tìm sâu, thấy sai lầm và khuyết điểm khắp mọi nơi, trong mọi quan điểm và nguyện vọng.

                                                ***

Nhằm kết luận, tôi muốn lắng nghe và cảm nhận lại, giống như lần đầu tiên, lời trao đổi giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh, sau hơn bốn nghìn năm văn hiến “Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi…”:

Em là Nước ? Anh xin làm Biển Cả,

Cùng theo Em, đến những miền xa lạ,

Gieo vãi Tình Thương, khung trời mở rộng,

Hiến cho Đời mầm non trào nhựa sống.

 

Anh là Hoa ? Em xin làm Mảnh Đất,

Ấp ủ vun trồng, dịu dàng thân mật.

Dưới mỗi bước chân, hương trầm bát ngát,

Trên khắp Non Sông, nương đồng ngào ngạt.

 

Em là Trời ? Anh xin làm Không Khí,

Đón nhận Em trong trái tim bình dị.

Em an bình, tâm hồn Anh diệu vợi,

Em hạnh phúc, cuộc đời Anh phơi phới.

 

Anh là Mây ? Em nguyện làm Gió Mát,

Thổi ân tình vào lòng ai ngột ngạt,

Gieo thái hòa trên vùng đất bạo động,

Nuôi chí khí, đánh thức người tuyệt võng.

 

 

Em là Núi ? Anh nguyện làm Rừng Xanh,

Động viên Em với tất cả lòng thành,

Luôn đứng thẳng, nhìn mặt trời tỏa rạng,

Tay vươn cao, tiếp thu nguồn Ánh Sáng.

 

Anh là Đất ? Em hóa thân thành Nắng,

Sưởi ấm Anh bằng Đức Tin thầm lặng,

Con người cũ chết đi nuôi Anh sống,

CON NGƯỜI MỚI gọi mời Em hy vọng.

 Phải chăng bài thơ nầy gói ghém trọn vẹn, cách làm, cách sống và cách suy tư của chúng ta, cũng như những cách trao đổi và tiếp xúc, mỗi lần chúng ta ý thức đến trách nhiệm GIÁO DỤC và LÃNH ĐẠO của mình, trong lòng Quê Hương và Nhân Loại?

 Sách tham khảo: 

1)  NGUYỄN văn Thành – Huyền Sử Việt Nam: Con đường Luyện Vàng… - Báo Chính Luận Seattle, USA 2004

2)  Douglas M. ARONE – The THEOREM – O Books, UK 2005

3)  Daniel GOLEMAN – Social Intelligence – Hutchinson, London 2006

4)  Joseph LEDOUX – The Emotional Brain – Simon &Schuster, New York 1996


Quay lại Mục lục


Chương Năm

Bẩm Sinh và Môi Trường Giáo Dục

 

Thể theo những công trình nghiên cứu của Douglas M. ARONE, Hội chứng Tự Kỷ, dưới hình thức “Gên”, đã có mặt trong các tế bào của Não Bộ, khi trẻ em đang còn là thai sinh, trong tử cung của bà mẹ. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả nầy, cũng như của các nhà khoa học về Hệ Thần Kinh, Gên không phải là số mệnh hay là định mệnh, bao lâu Môi Trường giáo dục bên ngoài không cung ứng cho Gên những điều kiện thuận lợi, để phát huy, triển nở, củng cố và tăng cường. Nói khác đi, Gên chỉ là “hạt giống”. Để có thể đâm chồi nẩy lộc, lớn lên thành cây và kết sinh hoa trái, phải chăng Gên cần sự hợp tác của đất màu, mưa sương, cũng như ánh sáng và hơi ấm của mặt trời?

Hẳn thực, trong những năm đầu tiên, nhất là từ 0 đến 7 tuổi,  Hệ Thần Kinh đang còn ở trong tình trạng “mềm dẻo, dễ uốn nắn”. Trong suốt giai đoạn ấy, nếu môi trường giáo dục, bắt đầu từ hai người cha mẹ,  có khả năng học tập và tạo cho trẻ em những quan hệ an toàn và tin tưởng, vui tươi và cởi mở, khó khăn nào xảy đến trong cuộc đời, cũng sẽ dần dần được vượt qua. Vấn đề nào, cho dù khốc liệt và trầm trọng đến đâu, cũng có thể được hóa giải một cách tốt đẹp.

Trong tinh thần và lăng kính ấy, chương nầy sẽ lần lượt trình bày hai phần chính yếu sau đây:

Trong phần thứ nhất, chúng ta sẽ cùng nhau khảo sát những thí nghiệm của tác giả Michael MEANEY, tại Đại Học McGill ở Montreal, Canada, nhằm làm nổi bật những quan hệ tương tác giữa Gên và Môi trường giáo dục, bắt đầu từ thể thức nuôi  và dạy con cái  của các người làm cha mẹ.

Trong phần thứ hai, chúng ta hãy đặt lại vấn đề một cách can đảm và đứng đắn: môi trường xã hội đã và đang chuẩn bị thế nào các thanh niên nam nữ, trong vai trò làm cha, làm mẹ sau này? Nói khác đi, “những bài học nuôi con và dạy con” được dạy dỗ như thế nào, ở đâu và cho những ai? Phải chăng đó cũng là những cách “xây dựng  và bảo vệ Đất Nước”, mà chúng ta có xu thế coi nhẹ, dồn nén và lảng quên, trong những tầng sâu thăm thẳm của tâm hồn?

 

                                               ***

1.- Thí nghiệm của tác giả Michael MEANEY 

Tại phòng thí nghiệm của Đại Học McGill, giáo sư Michael MEANEY đã quan sát hành vi của những con chuột mẹ đang lo lắng chăm sóc đàn con vừa mới được sinh ra. Sau nhiều năm làm việc, trải qua nhiều đợt nghiên cứu khác nhau, tác giả đã ghi lại những loại nhận xét sau đây:

Nhận xét thứ nhất: Xét về mặt hành vi khách quan bên ngoài, chúng ta có thể phân biệt hai loại chuột mẹ hoàn toàn khác nhau. Loại số một gồm có những con chuột mẹ sử dụng nhiều thì giờ trong ngày để “liếm và vuốt lông” cho các con của mình, một cách rất chu đáo và cẩn thận. Loại số hai, trái lại, thi hành công việc chăm sóc con, một cách vội vã, lơ là và không đều đặn.

Nhận xét thứ hai: những chú chuột con, sau khi được mẹ liếm và vuốt lông, thường chạy ra xa khỏi vòng ôm ấp của mẹ, để chơi với nhau một cách rất thân tình và náo nhiệt. Khi bị điện giật, chẳng hạn, các chú chuột thuộc loại nầy, tìm cách lánh ra xa và không tỏ ra lo sợ và hốt hoảng. Trái lại, các chú chuột con không được mẹ liếm và vuốt lông một cách chu đáo, thường tỏ ra kinh hoàng và tê liệt, khi gặp khó khăn. Ngoài ra, những chú chuột thuộc loại sau nầy, không biết chơi với nhau hay là không chạy loanh quanh, khám phá, tìm tòi từ chổ nầy qua chỗ khác. Suốt ngày, chúng nó chỉ quanh quẩn và bám sát bên lưng mẹ, hay là tấn công nhau, cắn xé nhau...

Nhận xét thứ ba: sau khi trưởng thành chung quanh lứa tuổi 2 năm và đến lúc sinh con, những con chuột con ngày trước, bây giờ trong hành vi làm mẹ và nuôi con, lặp lại tập tục giống y hệt những gì mẹ của mình đã làm cho mình. Những con đã được mẹ liếm và vuốt chải lông một cách cẩn thận, bây giờ cũng siêng năng trong công việc liếm và vuốt lông cho con. Những con có mẹ lơ là, bây giờ cũng lơ là với những đứa con của mình.

Nhận xét thứ bốn: Sau bao nghiêu ngày tháng quan sát những hiện tượng thường xuyên “lặp đi lặp lại” như vậy, giáo sư Michael MEANEY có sáng kiến chuyển đổi những cặp mẹ con với nhau. Trong những chiếc lồng riêng biệt, M. MEANEY nhốt những con chuột con sinh ra từ những con chuột mẹ có hành vi “liếm và chải lông” cho con, với những con chuột mẹ có hành vi lơ là.  Cũng vậy, những con chuột con sinh ra từ những con chuột mẹ lơ là, được nhốt lại với những con chuột mẹ siêng năng cần mẫn, có hành vi liếm và chải lông thường xuyên cho con. Và những con chuột con nầy, đến lúc trở thành chuột mẹ, thay vì bắt chước con chuột “mẹ tự nhiên” đã thực sự sinh ra mình, lại có hành vi nuôi con, giống y hệt con chuột “mẹ nuôi” của mình.

Cách thuyên giải của tác giả Michael MEANEY:

Sau khi tổng hợp bốn loại nhận xét trên đây lại với nhau, giáo sư Michael MEANEY đã rút ra những kết luận sau đây:

-         Chính cách “Nuôi con” của các con chuột mẹ là nguyên nhân chính yếu đã tạo ra những nét khác biệt cơ bản và bền vững, trong thể thức sinh hoạt và giải quyết vấn đề, nơi các con chuột con, thậm chí sau khi đã trưởng thành và có khả năng làm mẹ, sinh ra những đoàn con.

-         Nét khác biệt không phải chỉ có mặt trong những hành vi cụ thể và khách quan bên ngoài mà thôi. Những biến đổi sâu xa đã thực sự xảy ra, trong Hệ Thần Kinh Trung Ương, tại cơ quan Hải Mã (Hippocampus), còn mang tên là Trung Tâm Học Tập và Lưu Giữ Hoài Niệm.

-         Hẳn thực, xuyên qua hành vi “liếm lông và chải lông”, con chuột mẹ đã kích thích và phát huy cấu trúc Hải Mã của các con chuột con. Càng được kích thích, Trung Tâm Học Tập nầy càng có khả năng sản xuất thêm nhiều những “bộ phận tiếp nhận” hóa chất glucocorticoid hay là cortisol. Nhờ được khoanh vùng và lưu giữ một cách ổn định,  trong các “bộ phận tiếp nhận” (receptor), loại hóa chất hay là hóc-môn nầy không lan tràn, di chuyển khắp nơi và hủy diệt các tế bào khác. Cũng vì lý do nầy, những con chuột con sống thảnh thơi, thoải mái, hồn nhiên, không phải lo sợ và bị tê liệt, giống như những con chuột con “không được mẹ liếm và chải chuốt thường xuyên”. Thêm vào đó, khi những “bộ phận tiếp nhận” càng nhân ra nhiều, thì các chú chuột con càng tỏ ra thảnh thơi, sung sướng và càng ngày càng gia tăng khả năng vui đùa và khám phá môi trường sinh sống chung quanh. 

-         Trong cuộc sống của loài người, không có người mẹ nào nuôi con và giáo dục con, bằng phương pháp liếm con như các loài chuột hay là các loài có vú khác… Thay vào đó, cách làm tương đương là tạo quan hệ an toàn và vui thích cho con, chơi với con và sẵn sàng phản ảnh cho con, nghĩa là kêu tên hay là gọi ra ngoài những xúc động lo sợ, giận hờn và buồn phiền của con. Khi các bà mẹ học tập “nuôi con và dạy con” như vậy, thể theo nhận xét của các nhà khoa học về não bộ, cấu trúc Hải Mả ngày ngày tiết ra hai loại hóa chất Oxytoxin và Endorphin, khả dĩ tăng cường mức độ tự tin, vui thích và hiếu kỳ của đứa con.

-         Ngoài ra, nhờ được mẹ dạy dỗ và giáo dục, trẻ em từ từ phát huy và mở rộng khả năng hoạt động của Vỏ Não, nhất là của Thùy Trán. Lúc bấy giờ, Cấu Trúc Hạnh Nhân không còn phản ứng một cách tự động, máy mốc và bốc đồng, hay là tạo nên những tình huống khủng hoảng và lo sợ… Thay vào đó, trung tâm đặc trách đời sống xúc động nầy, được Thùy Trán điều hướng, điều hợp và giáo hóa, để dần dần có thể trở nên một động cơ thúc đẩy và giúp đỡ con người thực hiện những lý tưởng, mộng mơ và hoài bảo chính đáng của mình.

-         Trong tinh thần và lăng kính ấy, khi một trẻ em sinh ra khỏi lòng mẹ, “Chương trình hay là Gên Tự Kỷ” có thể đã được cài đặt và ghi khắc”, trong các tế bào của Hệ Thần Kinh Não bộ. Thế nhưng, trong tình huống ấy, chưa có chi là “sự đã rồi”, một cách vĩnh viễn. Nói cách khác, Gên Tự Kỷ , trong những năm đầu tiên của cuộc đời, chưa phải là Số mệnh hay là Định mệnh. Trái lại, Môi Trường giáo dục – hay là cách dạy dỗ trong gia dình và xã hội -  còn có khả năng chuyển biến, hóa giải mức độ ảnh hưởng và tác động của Gên.

                                                   ***

2.- Những bài học “Nuôi con và dạy con”, nhằm chuyển hóa Gên của trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ

Thể theo những công trình nghiên cứu của Douglas M. ARONE, kéo dài trong vòng 10 năm, thai nhi, từ tháng thứ ba trở đi, khi đang còn sống trong tử cung của bà mẹ, đã mang Gên Tự Kỷ trong các tế bào thuộc Thần Kinh Não Bộ của mình.

Tuy nhiên, từ ngày đứa con đi ra khỏi tử cung, nếu bà mẹ có khả năng sáng tạo cho con những quan hệ hài hòa, an toàn, vui thích và đồng cảm…trong suốt thời gian 7 năm đầu tiên của cuộc đời. Gên Tự Kỷ không có môi trường và điều kiện phát triển, do đó sẽ bị vô hiệu hóa và tàn lụi.

Nói một cách rõ ràng và chính xác hơn, nhiều lý do giải thích hiện tượng tàn lụi nầy:

-         Lý do thứ nhất: Gên không được môi trường giáo dục và xã hội bên ngoài kích hoạt, cho nên không thiết lập được những đường dây Thần Kinh trong Não Bộ, với nhiều khớp Xi-Nắp giao thoa chằng chịt, để tác động và tạo ảnh hưởng trên toàn cơ thể và các bộ phận khác nhau.

-         Lý do thứ hai: Vì không được kích hoạt, Gên không có khả năng tiết ra những loại hóa chất hay là những hốc-môn, để tác động lâu dài trên toàn diện hệ Thần Kinh, cũng như trên  hai Hệ Giao Cảm và Đối Giao Cảm. Nói rõ hơn, Gên nào không có môi trường sinh hóa (Biochemical) để hoạt động, Gên ấy sẽ bị các loại hốc-môn khác tấn công và hủy diệt.

-         Lý do thứ ba: Vì không nhận lãnh được sự tiếp tay của ba loại môi trường khác nhau – giáo dục, thần kinh và sinh hóa – Gên bị khoanh vùng nghĩa là bị nhốt lại, giam tù tại chính nơi được sinh ra. Và khi một tế bào thần kinh không có điều kiện và môi trường hoạt động, tế bào ấy sẽ bị loại thải.

Trong thực tế của cuộc sống làm người, không bao giờ có hai đối lực hoàn toàn mâu thuẫn và đấu tranh với nhau, để rồi “một mất một còn”, như tôi vừa phác họa trên đây. Vì lý do sư phạm, tôi đã cố tình đơn giản hóa vấn đề, đến mức độ tối đa.

 Chẳng hạn, trước đây khi nói đến những mâu thuẩn gay go, giữa Hạnh Nhân và Thùy Trán, tôi đã kết luận: Vì hạnh phúc và ý nghĩa làm người, chúng ta không thể giải phẩu và loại thải Hạnh Nhân, khi cấu trúc nầy gây ra những tình huống khó khăn và khổ đau, trong cuộc đời.

Cũng vậy, vì lý do hạnh phúc và ý nghĩa làm người, Thùy Trán không thể quyết định một mình, tất cả mọi vấn đề. Trái lại, để thành công trong vai trò sáng soi và hướng dẫn toàn diện cơ thể, Thùy Trán cần lắng nghe và tham khảo từng mỗi bộ phận lớn bé của con người. Con mắt, bàn tay hay bàn chân cũng có giá trị ngang bằng tim, phổi, lá gan và bao tử…Không một thành phần bị quên sót và khinh miệt.

Cũng trong tình thần và lăng kính ấy, bà mẹ không phải là nhân vật duy nhất có nhiệm vụ nuôi dạy con cái thành người. Hẳn thực, bà là người gần gũi với đứa con, hơn mọi người khác. Tuy nhiên, không có những người khác tiếp tay nâng đỡ, bà sẽ ngã quị, trầm cảm, kiệt quệ và bị thiêu rụi (Burn-out), nhất là khi đứa con của bà đang có những nguy cơ Tự Kỷ, với những triệu chứng “Bùng Nổ”, hay là “Sống bít kín”, gần như suốt ngày và mỗi ngày.

Nhằm nâng đỡ và soi sáng bà mẹ một phần nào, trong vai trò nuôi nấng và giáo dục con cái, cuốn sách nầy đã cố gắng cung cấp những tin tức hiện đại, thuộc môi trường khoa học nghiên cứu tại các Đại Học ở Âu Mỹ. Một cách đặc biệt, hai chương Ba và Bốn đề nghị những động tác cụ thể có liên hệ đến Trí Thông Minh Xã Hội, nhằm thiết lập những quan hệ đồng cảm, an toàn, tôn trọng và lắng nghe… với trẻ em, nhất là với những em đang gặp một vài khó khăn, trong những giai đoạn tăng trưởng và phát triển.

Thay vì lặp lại ở đây toàn bộ tin tức đã được trình bày trong các chương trước, tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai loại động tác cơ bản phải có mặt, khi chúng ta giáo dục con cái:

Thứ nhất là đồng cảm, có nghĩa là có mặt với con, lắng nghe con, tôn trọng con, khám phá nhu cầu của con, nhằm tạo cho con một cuộc sống an toàn, vui thú và hồn nhiên.

Thứ hai là biết từ chối, nói KHÔNG, để giúp trẻ em có khả năng phân biệt điều nào làm được, điều nào không có phép làm. Tuy nhiên, để tiếng KKÔNG của chúng ta có khả năng “cấu trúc hóa” tư duy của trẻ em như vậy, mỗi tiếng KHÔNG phải được kèm theo bằng ba tiếng CÓ. Ví dụ: Con không được làm điều A. Thay vào đó, con có thể và có phép làm B, C. và Đ…

Thiếu hai bài học quan trọng số một ấy, trong lãnh vực giáo dục, tại trường học cũng như tại gia dình, tất cả những gì chúng ta làm cho con cái, chỉ là “Nước rơi đầu vịt”, hay là “Dã tràng xe cát Biển Đông”.

 

                                             ***

Nhằm tóm lược chương thứ năm nầy, tôi lắng nghe và chọn làm của mình tư tưởng của John GRAY. Thể theo tầm nhìn của tác giả nầy, giáo dục không phải chỉ là công việc của cha mẹ và thầy cô mà thôi. Đó cũng là trách nhiệm của tất cả mọi người có trách nhiệm lãnh đạo, và nhất là có tinh thần trách nhiệm, trong lòng xã hội và Quê Hương.

Giáo dục là gì, nếu không phải là ngày ngày sáng tạo và xây dựng cho con cái và các thế hệ tương lai, năm KHUNG TRỜI MỞ RỘNG:

-         Trong khung trời thứ nhất, chúng ta CHO PHÉP trẻ em trở nên khác biệt, độc đáo, chọn lựa và quyết định con đường làm người của mình.

-         Trong khung trời thứ hai, chúng ta cho phép trẻ em sai lầm và ý thức đến sai lầm của mình, để vươn lên, đổi mới.

-         Trong khung trời thứ ba, chúng ta cho phép trẻ em diễn tả, trình bày ra ngoài những xúc động của mình, như giận, buồn và lo sợ…Và chúng ta lắng nghe, với tất cả tấm lòng chân thành, đón nhận và nhìn nhận.

-         Trong khung trời thứ tư, chúng ta cho phép trẻ em trình bày những nhu cầu, nguyện vọng hay là những mộng mơ của mình, để rồi tìm cách đáp ứng hay là từ chối, tùy vào những điều kiện thực tế của cuộc sống ngày hôm nay.

-         Trong khung trời thứ năm, chúng ta cho phép trẻ em từ chối, nói KHÔNG với chúng ta, khi chúng ta đưa ra những yêu cầu và đề nghị có tính chủ quan.

Trong lòng Đất Nước, nếu trẻ em, con cái, giới trẻ… mỗi người có phép LÀM NGƯỜI, trong năm khung trời vừa tự do, vừa an toàn, vừa sung sướng và hạnh phúc, việc học không còn là một gánh nặng. Trái lại, đó là một niềm vui và hứng khởi. Đó cũng là một cách “GIỮ NƯỚC và DỰNG NƯỚC”, ngày ngày quyết tâm chuyển biến Quê Hương thành “Vạn Xuân và Đại Việt”, bất diệt và cao cả.

 

Sách Tham Khảo:

1)  John GRAY – Children are from Heaven - HarperPerennial, New York 1999.

2)  Sharon BEGLEY – Train your Mind, change your Brain – Ballantine Books, New York 2007.

3)  Daniel Goleman – Social Intelligence – Hutchinson, London 2006.

4)  NGUYỄN Văn Thành – NGUYỄN TRÃI và vấn đề giáo dục con cái – Tình Người, Lausanne Hè 2001.

5)  NGUYỄN Văn Thành – Khung Trời Mở Rộng – Tình Người, Lausanne 2000.

6)  NGUYỄN Văn Thành – Quan Hệ Mẹ Con – Tình Người, Lausanne 2000, xem lại 2006.

7)  Douglas M. ARONE – The Theorem – O Books, Winchester UK 2005.


Quay lại Mục lục


Chương SÁU :

Hai bộ mặt « Bóng tối và Ánh sáng »…trong mỗi quan hệ đối tác xã hội

 

Mỗi lần chúng ta thiết lập những quan hệ tiếp xúc và trao đổi, với những người đang cùng chung sống trong môi trường xã hội, chúng ta vận dụng cùng một lúc nhiều loại sinh hoạt khác nhau, như : Tư duy và xúc động, các giác quan, cũng như ngôn ngữ có lời và không lời.

Duy ngôn ngữ không lời đã có thể bao gồm nhiều yếu tố và phương diện như cử chỉ, điệu bộ, giọng nói chói chang, nét mặt nhăn nhó, hay là hành vi khách quan, lăng xăng, vọng đọng bên ngoài…

Chính vì lý do nầy, theo tác giả P. WATZLAWICK, câm lặng, từ chối không trao đổi, sống bít kín trong những pháo đài tự vệ và dồn nén… cũng là những hình thức nhắn gởi, trao đổi, che giấu ở bên dưới một hay nhiều ý hướng khác nhau, tuy dù chưa được nhận diện và đối diện, dưới ánh sáng của lý trí và ý thức.

Hẳn thực, trong mỗi quan hệ tương tác, chúng ta cần khảo sát ít  nhất ba thành tố khác nhau :

-         Thứ nhất là người gửi tin,

-         Thứ hai là người nhận tin,

-         Thứ ba là bản tin, bao gồm nhiều hình thức, tầng lớp, nội dung hay là nhiều tần số khác nhau.

Thêm vào đó, chính chủ thể đưa tin, cũng chưa hẳn có ý thức về tất cả mọi động lực khác nhau đang chi phối những sinh hoạt của mình.

Trong khi ấy, chủ thể nhận tin cũng có thể sử dụng nhiều cơ chế như bóp méo, sàng lọc, xuyên tạc hay là tổng quát hóa một số chi tiết, tùy vào điều kiện tâm lý và thể lý của mình.

Bao nhiêu quan hệ xung đột, tranh chấp, ngộ nhận… hay là những hiện tượng « ông nói gà, bà nói vịt », giữa người với người, thậm chí giữa vợ và chồng, hay là giữa cha mẹ và con cái… đều xuất phát từ tình trạng đa phức và hỗn tạp ấy. Hẳn thực, ánh sáng và bóng tối luôn luôn có mặt và hòa trộn vào nhau, trong cuộc sống làm  người, nhất là trong lãnh vực quan hệ xã hội. Chính lúc người cha mẹ đang sung sướng, âu yếm nhìn ngắm đưa con vừa mới sinh ra của mình…mầm móng khổ đau cũng có thể đã len lỏi nằm vùng trong nội tâm, hay là xuất đầu lộ diện dưới nhiều hình thức trá ngụy.

Nhằm giúp người cha mẹ và giáo viên ý thức, để vượt qua những tâm trạng mâu thuẫn và lưỡng năng ấy, khi tiếp xúc với con cái và trẻ em, chương nầy sẻ nầy sẽ lần lượt trình bày những điểm quan trọng sau đây :

-         1.- Ba nhân vật đang có mặt, trong những  quan hệ trao đổi và tiếp xúc giữa chúng ta và người khác. Và mỗi nhân vật lại có thể trình bày một trong bốn bộ mặt khác nhau.

-         2.- Ở bên dưới những hành vi khách quan được quan sát và ghi nhận từ ngoài, một hay nhiều xúc động đang tác yêu tác quái, dưới nhiều hình thức được ngụy trang. Bao lâu không tìm cách gọi ra ngoài những xúc động ấy, để nhận diện và đối diện, chúng ta chưa diễn tả và thực hiện con người đích thực của mình. Cũng do đó, chúng ta không thể tạo điều kiện thuận lợi, nhằm giúp đỡ kẻ khác cùng làm người với chúng ta.

-         3.- Trong những điều kiện sinh hoạt như vậy, khoa học tâm lý và sư phạm có thể cung ứng những loại kỹ thuật nào, nhằm giải tỏa những gì đang còn bị bế tắc hay là dồn nén, trong nội tâm và con người của chúng ta ? Không có khả năng giải thoát chính mình, làm sao chúng ta có thể trở nên « một bến đậu an toàn » cho trẻ em, trên con đường học làm người, nhất là khi các em đang có những rối loạn, thuộc hội chứng tự kỷ.

                                                     ***

1.- Ba nhân vật trong con người của chúng ta

Thể theo Phương pháp « Phân Tích những quan hệ đối tác » (Transactional Analysis) của Eric BERNE, mỗi lần chúng ta tiếp xúc và trao đổi với kẻ khác, trong bất kỳ hoàn cảnh và sinh hoạt nào, chúng ta có thể khoác vào mình một trong 3 nhân vật :

-         Nhân vật thứ nhất được tác giả gọi tên là người Cha Mẹ (Viết tắt và viết hoa là CM),

-         Nhân vật Thứ hai là người Trưởng Thành (TT).

-         Nhân vật thứ ba là người Trẻ Em (TE).

Mỗi nhân vật trên đây, tùy vào những nhu cầu khác nhau của sinh hoạt hiện tại, xuất đầu lộ diện dưới 4 bộ mặt khác nhau. Hai bộ mặt đầu được Eric BERNE đánh giá là tích cực, năng động. Hai bộ mặt sau có tính cách tiêu cực và tê liệt.

Sau đây là 4 bộ mặt của người làm Cha Mẹ :

1)  CM+ : Người Cha Mẹ sáng soi và hướng dẫn,

2)  CM+ : Người Cha Mẹ nâng đỡ, tạo an toàn,

3)  CM-  : Người Cha Mẹ độc tài, điều khiển tất cả,

4)  CM-  : Người Cha Mẹ bao che từ đầu chí cuối, hay là làm thay, làm thế tất cả.

Người Trưởng Thành cũng có 4 bộ mặt khác nhau :

1)  TT+ : Người Trưởng Thành đồng cảm, có khả năng chia sẻ lối nhìn và xúc động với những người sống hai bên cạnh,

2)  TT+ : Người Trưởng Thành đồng hành, không những có khả năng phát biểu, đóng góp ý kiến của mình về một vấn đề, còn dấn thân nhập cuộc, bắt tay vào công việc với bạn bè, để thực hiện những chương trình đã được phác họa với nhau.

3)  TT- : Người Trưởng Thành với những thái độ : -Tao Hơn, Mày Thua, - Tao Đúng, Mày Sai, - Tao Tốt, Mày Xấu.

4)  TT- : Người Trưởng Thành thu mình trong nếp sống bít kín và xé lẻ.

Tùy vào những năm tháng được cha mẹ nuôi nấng và giáo dục, người Trẻ Em cũng có thể trình bày 4 bộ mặt khác nhau :

1)  TE+ : Người Trẻ Em hiếu kỳ, thích học hỏi, sau bao nhiêu năm được cha mẹ, thầy cô  sáng soi và hướng dẫn đúng lúc, đúng liều lượng, đúng giai đoạn phát triển, đúng nhu cầu và sở thích.

2)  TE+ : Người Trẻ Em hồn nhiên, yêu đời, hạnh phúc, biết vui đùa và hòa mình với bạn bè cùng lứa tuổi, sau bao nhiêu năm được cha mẹ lắng nghe, tôn trọng, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi, và nhất là có mặt và biết đồng cảm, vui đùa với con.

3)  TE- : Người Trẻ em Phản Động, nếu cha mẹ quá độc tài, điều khiển từ A đến Z.

4)  TE- : Người Trẻ Em Bị Động và Lệ Thuộc, nếu được cha mẹ phục vụ tối đa và nương chìu quá đáng, bằng cách làm thay và làm thế, trong tất cả mọi vấn đề và lãnh vực.

Xuyên qua lối nhìn của Eric BERNE vừa được trình bày, để có thể nhận định và đánh giá những quan hệ tương tác đang được kết dệt giữa hai người, chúng ta cần khảo sát hai chiều hướng :

-         Trong chiều hướng thứ nhất, người đưa tin đang đóng vai trò của nhân vật nào : CM, TT hay là TE ? Ngược lại, để đáp ứng, nhân vật nào xuất hiện trong người nhận tin ?

-         Trong chiều hướng thứ hai, mục đích cuối cùng mà chúng ta nhắm tới, để thực hiện, trong những quan hệ qua lại hai chiều, phải chăng là đồng hành và đồng cảm, xây dựng và đóng góp cho nhau ? Hay là chúng ta đang khoác vào mình những vai trò đàn áp, ức chế, thậm chí với con cái và những người thân yêu của chúng ta ? Có bao giờ chúng ta biết giật mình, thức tỉnh, để nhận chân được rằng : chính chúng ta đang biến con cái hay là những kẻ đang sống hai bên cạnh, thành những nhân vật phản lọan, chống đối hay là hoàn toàn bị động và lệ thuộc, trong cuộc đời làm người ?

Nhằm bổ túc và kiện toàn lối nhìn của Eric BERNE, trong thể thức đánh giá những quan hệ xã hội, tác giả KARPMAN đề nghị hai loại tam giác :

Tam giác thứ nhất dẫn đưa chúng ta vào vùng tranh chấp, xung đột, hận thù, vong thân và vong bản. Tam giác nầy ở giữa 3 con đường đan chéo vào nhau :

·        Trên con đường số một, tôi hành động như một tên thực dân, luôn luôn mang ý đồ chiếm đất, giành dân, đàn áp và bốc lột, đương khi miệng lưỡi không ngừng hô hào nào là nhân nghĩa đại đồng, nào là công bình, bác ái…

·        Trên con đường số hai, tôi phàn nàn và ta thán, tưởng tượng mình là nạn nhân và mang tâm trạng đầu hàng, buông xuôi, bỏ cuộc, lệ thuộc và bị động.

·        Trên con đường số ba, tôi là chiếc loa phóng thanh, khoác vào mình phần vụ « nói thay, nói thế ». Một cách vô tình hay hữu ý, tôi lấn át tiếng nói của mọi người khác. Rốt cuộc tôi chỉ mang mặt nạ để phát ra một tiếng nói quảng cáo và tuyên truyền.

Tam giác thứ hai bao gồm 3 thái độ làm người biết đồng cảm và đầy lòng bao dung:

·        Thái độ thứ nhất là khám phá giá trị và khả năng của những người đang có những quan hệ tương tác với chúng ta.

·        Thái độ thứ hai là lắng nghe và tôn trọng kẻ khác, cho phép kẻ khác có ý kiến và cách làm KHÁC chúng ta.

·        Thái độ thứ ba là tha thứ, khi kẻ khác sai lầm,  đồng thời giúp họ biến sai lầm thành một bài học cao quí cho mình và cho những người đang chung sống.

 

                                                  ***

2.- Vai trò của Xúc động

Bằng cách nầy hay cách khác, dưới nhiều hình thức trá ngụy, xúc động luôn luôn có mặt, khi hai người bắt đầu thiết lập những quan hệ tiếp xúc và trao đổi với nhau.

Xúc động thường được so sánh như một bản « dự báo thời tiết » của nội tâm : Thời tiết cần được hiểu ở đây là những tâm trạng lo sợ hay buồn phiền, tức giận, bực bội hay là hứng khởi, vui tươi và hạnh phúc…

Theo lối nhìn của tác giả John GRAY, nếu chúng ta biết lắng nghe và coi trọng những « tiếng nói không lời » ấy, chúng ta sẽ dần dần khám phá 5 sứ điệp hay là 5 tầng lớp khác nhau của nội tâm, đang giao thoa chằng chịt và nuôi sống lẫn nhau :

-         Tầng lớp thứ nhất bao gồm những xúc động bực bội, tức giận. Những xúc động nầy có phần vụ nhắn gởi cho những người đang sống chung quanh, một sứ điệp cầu cứu :  « Tôi từ chối, phản đối, vì tôi không được lưu tâm và coi trọng. Có người đang xâm lấn vào lãnh vực sở hữu, cũng như quyền quyết định và chọn lựa của tôi ».

-         Tầng lớp thứ hai bao gồm những xúc động cô đơn, buồn bực, chán nản, thất vọng. Lời kêu cứu ở đây gồm có : « Tôi quá lẻ loi, đơn chiếc… trong cuộc đời. Tôi cần những bàn tay nâng đỡ, những lời nói ủi an, những khuôn mặt hiện diện ».

-         Tầng lớp thứ ba : « Tôi đang lo sợ, bất an và bất ổn, khiếp đảm và kinh hoàng. Ai sẽ nâng đỡ, chỡ che, đùm bọc, bênh vực tôi, trước những hiểm nguy, tai họa đang có mặt ở khắp nơi ? »

-         Tầng lớp thứ bốn : « Tôi đã làm những điều sai trái. Tôi hối hận. Mặc cảm tội lỗi đang đè nặng và nghiền nát tôi. Ai có thể giải thoát tôi khỏi những tù ngục ngột ngạt nầy ? »

-         Tầng lớp thứ năm : « Tôi cần có người lại gần, hiện diện với tôi… để tạo quan hệ yêu thương qua lại hai chiều. Ai có thể mang đến cho tôi hạnh phúc và thứ tha, hiểu biết và đồng cảm ? »  

Nếu một trong năm tầng lớp trên đây bị tổn thương, ức chế, cấm cản, hay là không được đáp ứng và thỏa mãn, toàn bộ đời sống xúc động sẽ dần dần bị khô héo và tê liệt. Hẳn thực, nếu tôi không biết giận, chẳng hạn vì cha mẹ, thầy cô cấm cản hoặc trừng phạt, tôi cũng sẽ chẳng bao giờ biết được thế nào là yêu, là ghét. Nếu không cảm nghiệm được lo sợ là gì, làm sao tôi hiểu được thế nào là an bình, sung sướng và hạnh phúc ?

Và cứ như vậy, nếu toàn bộ năm tầng lớp xúc động bị tàn lụi và héo úa,  chắc chắn khả năng tư duy của tôi cũng nghèo nàn, cằn cỗi, tàn tạ. Tiếp theo sau, toàn thể thực chất con người của tôi cũng bi suy thoái trầm trọng.

Hẳn thực, không có những xúc động thúc đẩy, tạo hứng khởi, đốt lên ngọn lửa quyết tâm và nhiệt tình, tôi tìm ở đâu đầy đủ nghị lực và năng động, để xác định những hoài bảo hay là chuyển biến mộng mơ thành hiện thực trong cuộc đời ?

Những nhận xét trên đây cũng có thể áp dụng cho mỗi triệu chứng đang có mặt nơi trẻ em có nguy cơ tự kỷ. Sở dĩ em đang sống bít kín, không dám tiếp xúc với một ai, phải chăng vì em đang lo sợ, kinh hoàng ? Nếu chúng ta xô đẩy, ép buộc em phải đi ra, tiếp xúc, học tập…chúng ta chỉ gia trọng những phản ứng khép kín của em. Thay vào đó, với kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng chuyên môn, chúng ta có thể sáng tạo những bài học nào, khả dĩ mang đến cho em, những cảm nghiệm an toàn ?

Em đang thét la, bùng nổ, tấn công những bạn bè hai bên cạnh hay là có những hành vi tự hủy, như cắn mạnh vào tay, hay là đập đầu vào vách tường. Thay vì cấm cản, tại sao chúng ta không tổ chức những trò chơi sư phạm « cho phép em ấy giận một cách khác » ? Làm như vậy là chuyển biến tức giận thành một bài học hữu ích cho cuộc đời.

Khi giam hãm mình suốt ngày trong những trò chơi « lắp ráp, lặp đi lặp lại », phải chăng em đang tìm cách trở lui với những chu kỳ vui thích và thoải mái, khi còn sống trong tử cung của mẹ. Chính lúc ấy, chúng ta có thể mang ra nhiều hình ảnh khác nhau của mẹ, cho em sắp xếp. Hay là chúng ta mở ra một bản nhạc êm dịu và thao tác một vũ điệu, với em, bên cạnh em. Nếu em chấp nhận « nhún nhảy », như chúng ta và với chúng ta, em đã bắt đầu kiến tạo quan hệ qua lại hai chiều. Nói khác đi, em đã NHÌN và bắt chước chúng ta.

Nói tóm lại, ở bên dưới một triệu chúng, chúng ta sẽ tìm gặp một xúc động. Mỗi xúc động ẩn giấu một nhu cầu. Sau khi khám phá nhu cầu, chúng ta sáng tạo những thể thức đáp ứng. Qua những cách làm ấy, chúng ta đang phát huy những quan hệ đồng cảm với trẻ em, và sáng tạo cho em con đường đi ra với thế giới bên ngoài.

Tiến trình dồn nén, ức chế…

Thay vào những bước đi nhón nhén, từ tốn và kiên nhẫn, như vừa được mô tả và phác họa, chúng ta có thể nôn nóng, muốn « ăn nhanh, ăn vội, ăn liền », như trong các tiệm « Mác-đô-nan kiểu Mỹ ». Cho nên, chúng ta không ngần ngại sử dụng những « phương pháp » ức chế, nhồi nhét, áp đặt. Bằng cách nầy hay cách khác, chúng ta ép buộc trẻ em « phải tiến bộ một cách nhanh chóng ». Phải biết nói. Phải tẩy xóa những « rối lọan hành vi ». Phải trở về với « nếp sống bình thường ».

Với bao nhiêu mệnh lệnh « Phải, Cần, Cấm… », chúng ta đã vô tình sản xuất những trẻ em « bị ức chế và dồn nén ».

Theo cách giải thích của tác giả John GRAY, tâm trạng bị dồn nén là kết quả cuối cùng, trong đời sống tương tác xã hội, sau khi chúng ta bị cấm cản, trừng phạt, không có phép làm những gì chúng ta quyết định và chọn lựa.

·        Trong công đoạn thứ nhất, chúng ta không có phép từ chối, nói KHÔNG, không có phép bộc lộ quan điểm bất đồng (Resistance).

·        Trong công đoạn thứ hai, chúng ta không có phép bày tỏ ra ngoài nỗi niềm oán hờn, tức giận (Resentment).

·        Trong công đoạn thứ ba, chúng ta không có phép loại trừ, bỏ đi, cắt đứt (Rejection).

·        Trong công đoạn thứ tư, chúng ta mất hết khả năng khẳng định con người đích thực của chúng ta. Chúng ta trở thành « gỗ đá » hay là « hình thì còn, bụng chết đòi nao ». Lúc bấy giờ, giá trị làm người, lý tưởng, tinh thần trách nhiệm, lòng vị tha…chỉ là những nhãn hiệu hoàn toàn thiếu nội dung (Repression, Inhibition).

Chính vì bao nhiêu lý do vừa được trình bày, giáo dục có nghĩa là gì, khi chúng ta ép buộc và áp đặt tất cả từ trên và từ ngoài cho trẻ em? Làm người phải chăng là ngày ngày trở nên một chủ thể có khả năng chọn lựa và quyết định một giá trị, một hướng đi, một lý tưởng ? Tuy nhiên, bài học chọn lựa và quyết định nầy được ai dạy và được dạy làm sao, trong môi trường giáo dục và văn hóa của Quê Hương ?  

3.- Diễn tả xúc động là một bài học cần học đi học lại

Để có thể dạy trẻ em thành người, người có trách nhiệm – như cha mẹ trong môi trường gia đình -  hãy bắt đầu học cách diễn tả những xúc động của chính mình, một cách hồn nhiên và thanh thản, bình tỉnh và trực tiếp.

Từ ngày sinh ra đến lúc lên 5 tuổi, trẻ em học tập bằng cách bắt chước, lặp lại, vọng lại hay là phản ảnh những gì đang có mặt trong thái độ, tác phong và ngôn ngữ của cha mẹ, xuyên qua những trò chơi vui nhộn, những câu chuyện bập bẹ và líu lo. Một cách đặc biệt, hai mẹ con là « hai chiếc bình thông đáy ». Cho nên mẹ đầy, thì tự nhiên con đầy. Mẹ vui tươi, hạnh phúc, năng động, thì đứa con  phản ảnh nụ cười của mẹ, nét mặt của mẹ, tâm hồn của mẹ, tính tình dễ thương của mẹ.

Chính vì những lý do vừa được trình bày, sau đây tôi mạo muội giới thiệu một số kỹ thuật nhằm giúp cha mẹ và người giáo viên diễn tả và bộc lộ ra bên ngoài, giữa vùng ánh sáng, tất cả nội tâm của mình, với bao nhiêu thời tiết thay dổi thường xuyên « mai mưa, trưa tạnh, chiều dông… ». Làm được như vậy, họ sẽ có khả năng chuyển hóa những tâm trạng u buồn, trầm cảm, kiệt quệ…thành những quà tặng cho con cái và trẻ em. Phải chăng đó là bài học cao trọng và quí giá, trên tất cả mọi bài học khác ?

Kỹ thuật phản ảnh, khi xúc động vừa chớm nở :

Khi hai vợ chồng hay bạn bè thiết thân đang chuyện trò với nhau, bỗng nhiên một người cảm thấy những phản ứng khó chịu, bất đồng và bất mãn hiện hình trong nội tâm. Chính lúc ấy, kỹ thuật phản ảnh là phương tiện tốt hảo, để hai người trực diện với những quan hệ của mình, một cách thành tâm và can đảm.

Trong thực tế, qua bao nhiêu đời, chúng ta thường đề xuất câu tục ngữ đã được nằm lòng : « Một câu nhịn, chín câu lành ». Kỳ thực, thái độ nhịn nhục ấy đang nung nấu, chờ một nơi khác, một lúc khác, hay là một người khác… để bùng nổ. Một xúc động bị kiểm duyệt và dồn nén, không bao giờ tan biến, Trái lại, khi nội tâm bị ô nhiễm, thể theo định luật của « bình thông đáy », quan hệ giữa hai người sẽ từ từ suy thoái.

Với kỹ thuật phản ảnh, chính thành viên đang cảm nghiệm xúc động, hãy thú nhận và yêu cầu : « Nghe em nói điều ấy, anh thú thật với em là anh bắt đầu bực bội. Anh xin em hãy lắng nghe và phản ảnh, để giúp cho anh nghe lại chính mình ».

Phần Một : Người A dùng sứ điệp Ngôi Thứ Nhất, để diễn tả xúc động của mình. Mỗi lần, lời phát biểu chỉ thu hẹp trong một câu vắn gọn mà thôi.

Người B chỉ phản ảnh, nghĩa là làm tiếng vọng, bằng cách lặp lại y nguyên câu nói của A, thậm chí đại danh từ ngôi thứ nhất, như tôi, em, mình…

Ví dụ :

·        Lời người A : Nghe cô phàn nàn, tôi bực bội, chán nản.

·        Lời người B phản ảnh : Nghe cô phàn nàn, tôi bực bội, chán nản.

·        A :Nhiều lúc tôi muốn bỏ nhà, ra đi.

·        B : Nhiều lúc tôi muốn bỏ nhà ra đi.

Phần Hai : Sau độ 5 phút, người A tự nguyện dừng lại, khi cảm thấy tâm linh của mình đã được nuôi dưỡng, tâm hồn của mình đã trở về tình trạng yên nguôi…

Lúc bấy giờ, B nhận làm của mình tất cả nỗi lòng mà A đã diễn tả.

Sau đó, B tóm lược trong vòng 1 phút những tâm tình của A. Và lúc ấy A thành khẩn lắng nghe, không thêm, không bớt, không điều chỉnh.

Sơ đồ tóm lược và phản ảnh của B về A, bao gồm 3 điểm chính yếu sau đây :

·        « Tôi cảm thấy…. » trình bày xúc động của A.

·        « Tôi muốn…Tôi cần… » trình bày nhu cầu và ước vọng của A.

·        « Tôi thương… tôi thích… tôi khen ngợi… » trình bày quan hệ thân thương, tích cực và năng động của A đối với B, trong giây phút ở đây và bây giờ. Tuyết đối không nhắc lại quá khứ. Không áp đặt với những mệnh lệnh có các từ như  « Phải, Nên, Cần, Cấm, Không được… ».

Phần Ba : B diễn tả xúc động của mình.  A bây giờ làm công việc phản ảnh và vọng lại, để cho B nghe lại chính mình.

Phần Bốn : A sở hữu hóa và tóm lược xúc động của B.

Kỹ thuật nầy được so sánh như một món ăn lạ. Lúc ban đầu, nó không mang lại những kết quả tức khắc. Nhưng dần dần, nó sẽ trở nên một món ăn có khả năng bồi dưỡng và đổi mới những quan hệ đối tác xã hội của chúng ta.

Thực ra, điều quan trọng không phải là hình thức, nhưng là tinh thần và ý hướng của kỹ thuật. Tuy nhiên, trong điều kiện và thân phận làm người, phải có hình thức mới có tinh thần. Trí Thông Minh Xã Hội và cơ sở Não Bộ quyện sát vào nhau, cần nhau và phát huy nhau.

 Kỹ thuật « Tức giận với chính mình »

Trong cuộc sống, rất nhiều lúc, chúng ta tức giận với chính mình. Thậm chí, sau khi đã tức giận với người khác, chúng ta quay lại tức giận với chính mình. Từ đó, chúng ta trở nên trầm cảm, kiệt quệ, vì nhiều mặc cảm tội lỗi đang từ từ xói mòn mọi sức sống vươn lên của chúng ta.

Sở dĩ như vậy, vì theo lối nhìn của tâm lý đương đại, chúng ta khởi đầu một tiến trình, và rồi không có khả năng hay là không biết phải kết thúc bằng cách nào.

Hẳn thực, phần vụ tích cực và năng động của tức giận, là yêu cầu những người đang chung sống hãy tôn trọng giá trị và lãnh thổ « tâm linh » của chúng ta. Tuy nhiên, nhiều lúc chính chúng ta chưa ý thức rõ ràng về giá trị đích thực và cơ bản của mình. Và khi có ý thức, chúng ta lại không biết tìm cách trình bày ra ngoài, cho kẻ khác hiểu được con người đích thực của chúng ta.

Với kỹ thuật « tức giận với chính mình », chúng ta học tập về thể thức kết thúc một cách trọn vẹn, tiến trình tức giận của chúng ta.

Trong phần Một, với sứ điệp ngôi thứ nhất, chúng ta diễn tả xúc động tức giận của mình, với tất cả đoàn tùy tùng :

·        « Tôi tức giận bạn về việc… »

·        « Tôi ghét bạn, KHI… »

·        « Tôi khó chịu, bực bội, vì lý do … »

Trong phần Hai, chúng ta trình bày những nguyện vọng có liên hệ mật thiết với những giá trị hiện tại của chúng ta :

·        « Tôi muốn từ đây bạn hãy nói… và làm… »

·        « Tôi muốn được cư xử, đãi ngộ… »

·        « Tôi thiết tha yêu cầu bạn làm… »

·        « Ước vọng quan trọng số một của tôi là… »

Trong phần Ba : Dựa vào kinh nghiệm cụ thể và khách quan, có mặt trong quá khứ, chúng ta trình bày khả năng và đức tính thực sự của chúng ta :

·        « Bạn có thể làm… »

·        « Bạn có những khả năng… »

·        « Bạn xứng đáng với thành tích như… »

·        « Bạn rất tài tình về… »

·        « Bạn dễ thương, khi… »

Trong phần bốn : Diễn tả quan hệ năng động và tích cực với chính mình :

·        « Tôi thương bạn, khi… »

·        « Tôi sung sướng, khi bạn làm… »

·        « Tôi hạnh phúc được thấy bạn… ».

 Khi chúng ta biết tức giận với chính mình như vậy, chúng ta sẽ có khả năng diễn tả nỗi tức giận của mình đối với kẻ khác trong gia đình, cũng như ngoài xã hội, một cách bình tỉnh, ôn hòa và xây dựng. Tức giận lúc bấy giờ không còn và không phải là con đường dẫn đến bạo động, hay là phá hủy những quan hệ mà chúng ta đã xây dựng và nuôi dưỡng. Chính vì lý do nầy, sau khi tức giận, bùng nổ, bạo động, chúng ta ngụp lặn trong những trạng thái trầm cảm, mặc cảm tội lỗi…

Gốc rễ của tâm trạng trầm cảm và kiệt quệ

Nguyên nhân của tình trạng trầm cảm không do môi trường bên ngoài mang đến. Chính lối nhìn của chúng ta làm cho chúng ta đánh mất nhiệt tình và nhiệt lực đã và đang có mặt trong chúng ta. Theo quan điểm của Bác sĩ David D. BURNS, chỉ cần chuyển hóa, một cách ý thức và can trường, những cơ chế xuyên tạc và bóp méo của tư duy, chúng ta sẽ tìm lại nội lực đang có mặt trong con người của chúng ta.

Sau đây là mười hình thức xuyên tạc, thường có mặt trong tư duy của người đang mang tâm trạng trầm cảm :

·        1) Tư duy « hoặc có tất cả hoặc không có gì cả ». Loại tư duy nầy có tính lưỡng năng quá khích, thiếu trung dung (All-or-Nothing Thinking).

·        2) Tư duy tổng quát hóa quá khích (Overgeneralization). Theo loại tư duy nầy, cái gì chỉ xảy ra một lần, sẽ luôn luôn xảy ra như vậy suốt đời.

·        3) Tư duy sàng lọc (Mental Filter). Ông A có rất nhiều đức tính. Chỉ cần một lần ông nói dối, từ đó tư duy của tôi chỉ giữ lại tin tức: ông là người nói dối. tôi khước từ những ý kiến khác.

·        4) Tư duy tiêu cực (Disqualifying the positive). Cơ hồ một người loạn thị, con mắt tư duy của tôi chỉ ghi nhận khía cạnh tiêu cực, và không nhìn nhận bao nhiêu yếu tố tích cực cùng có mặt.

·        5) Kết luận vội vã (Jumping to conclusions). Dựa vào một hoặc hai dữ kiện cụ thể, tôi đã khẳng định một cách chắc nịch như đinh đóng về giá trị hoặc bản chất của một con người. Chỉ cần mẹ la mắng tôi một lần, tôi đã kết luận: mẹ là bà phù thủy, đối với tôi.

·        6) Bi kịch hay là quan trọng hóa (Catastrophizing): Tư duy của tôi có xu thế phóng lớn ra một chi tiết nhỏ nhặt, hay là giảm khinh một tin tức đang quấy rầy tôi.

·        7) Biến xúc động thành thực tế (Emotional reasoning). Thể theo loại tư duy nầy, tôi cảm nhận thế nào, thì thực tế khách quan bên ngoài phải như vậy.

·        8) Biến lối nhìn thành qui luật, với những mệnh đề có động từ Phải, Nên, Cần…(Should Statements).

·        9) Gắn nhãn hiệu (Labeling). Trong loại tư duy nầy, tôi có xu thế biến một hành vi thành một tính chất, một tính tình, một thể loại. Tôi có một kinh nghiệm khó chịu, một lần, với một người miền trung. Từ đó, mỗi khi có cơ hội phát biểu, tôi luôn luôn khẳng định một cách chắc nịch: người Trung khó chịu.

·        10) Tư duy chủ quan hóa (Personalization). Với loại tư duy nầy, bạn xem mình là nguyên nhân dộc nhất gây ra mọi tai họa, khi đứa con bạn có nguy cơ tự kỷ. Theo bạn, chính bạn đã mang căn tính ác độc, trong nhiều đời nhiều kiếp. Bây giờ con bạn phải gặt hái những hậu họa.

Để có thể chuyển biến loại tư duy xuyên tạc và bóp méo nầy, bạn hãy học tập quan sát và ghi nhận những sự kiện cụ thể, khách quan, bên ngoài. Hãy tôi luyện khả năng đặt ra cho mình câu hỏi: Tôi đang thấy gì, tôi đang nghe gì? Từ những điều mắt thấy, tai nghe như vậy, tôi rút tỉa những kết luận nào? Bạn bè của tôi, những người xa lạ… kết luận như thế nào, khác tôi ở chỗ nào, giống tôi ở chỗ nào? Nói cách khác, cách hành xử mà tôi cần học tập và tôi luyện hằng ngày, là lắng nghe kẻ khác, coi trọng lối nhìn của bao nhiêu người đang cùng chung sống trong môi trường. Hãy nhìn với con mắt của kẻ khác. Hãy lắng nghe, với lỗ tai của những người khác phái, khác miền, khác lập trường, khác chính kiến, khác tôn giáo, khác thế hệ... Người khác, nhờ nét khác biệt của họ, có thể bổ túc và kiện toàn những gì đang thiếu vắng trong con người của tôi.

 

                                                ***

Kết luận: Chia sẻ một vài kinh nghiệm

Từ ngày tôi làm việc với các em khuyết tật và tự kỷ, tôi có thói quen lợi dụng những ngày nghĩ, để tắm gội mình, trong không khí Thiền. Sau hơn 5 năm tập luyện, tôi đã quên hết tất cả. Hôm nay, tôi chỉ thấm nhuần một câu kinh: “Khi con ăn, con hãy biết con đang ăn. Khi con đi, con hãy biết con đang đi. Khi nói, con hãy biết con đang nói. Khi thương, con hãy biết con đang thương. Khi phục vụ, con hãy biết con đang phục vụ…Hãy quên tất cả, chỉ giữ lại một chữ, một từ “BIẾT”.

Khi trở về làm việc với trẻ em, tôi đã áp dụng bài học ấy, nhất là trong lãnh vực quan hệ tương tác xã hội với các em.

Hẳn thực, với các em mỗi ngày trong 8 tiếng đồng hồ, trong vòng gần 20 năm, tôi cần phải thay đổi thường xuyên nhân vật và bộ mặt của tôi.

·        Khi tôi làm Cha Mẹ, tôi biết tôi đang làm Cha Mẹ hướng dẫn và nâng đỡ các em trong từng đường đi nước bước.

·        Khi tôi làm người Trưởng Thành, tôi biết tôi đang làm người Trưởng Thành đồng hành và đồng cảm với các em.

·        Khi tôi làm người Trẻ Em, tôi biết tôi đang làm Trẻ Em cùng vui đùa và sống hạnh phúc với các em.

·        Có những lúc, những bộ mặt “Bóng Tối” của tôi xuất đầu lộ diện, rình rập, chập chờn, ẩn núp, đe dọa. Tức khắc, tôi nhìn thẵng vào bộ mặt Bóng Tối, mỉm cười và nhẹ nhàng yêu cầu Bóng Tối đi nơi khác, thay vì đe dọa và làm hại các học sinh nhỏ bé và ngây thơ của tôi.

·        Có những lúc tôi sai lầm, tự khắc tôi biết tôi đang sai lầm. Chính lúc ấy tôi dừng lại, nhìn thẳng vào bộ mặt “Sai Lầm” của tôi, và tìm cách sửa sai, bổ túc và kiện toàn, nhằm phục vụ và thương yêu những trẻ em đang có mặt với tôi.

Những kinh nghiệm dạy học ấy, hôm nay, tôi xin chia sẻ lại với những người làm cha mẹ và giáo viên đang có mặt với tôi, trên một vài nẻo đường của Quê Hương và Đất Nước.

 

Sách Tham khảo:

1)  David D. BURNS  -  Feeling Good: The new mood therapy  -  Avon Books, HarperCollins N.Y. 1999.

2)  P. WATZLAWICK  - Une logique de la communication  -  Seuil Paris 1972.

3)  John GRAY  -  What you feel, you can heal  -  Heart Publishing, Mill Valley CA 1984.

4)  NGUYỄN Văn Thành  -  Em là Quê Hương  - Tình Người, Lausanne 1997.

5)  Eric BERNE  -  Transactional Analysis in Psychotherapy  -  New York, Grove Press, 1961.

6)  Thomas A, HARRIS  -  D’accord avec soi et les autres  -  Epi, Paris 1984.

7)  James & Jongeward  -  Naitre gagnant  -  InterEditions, Paris 1978.


Quay lại Mục lục


Lời Nói Cuối :

Tư Duy Cấu Trúc trong lãnh vực Giáo dục

 

Khi một trẻ em có nguy cơ tự kỷ vừa được phát hiện trong môi trường gia đình hoặc học đường, điều quan trọng bậc nhất, chúng ta cần thực hiện ngay lập tức, bao gồm những động tác nào ?

Xuyên qua sáu chương thuộc cuốn sách nầy, nhằm giải đáp vấn nạn trên đây, tôi đã đề nghị ba đường hướng giáo dục thiết yếu, được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên như sau :

        Ưu tiên số một : Chúng ta có mặt một cách tích cực và năng động với trẻ em.Từ đó, xây dựng quan hệ đồng cảm với trẻ em, để giúp trẻ em từ từ biết đồng cảm với những người cùng có mặt trong gia đình, nhất là trong môi trường tiếp xúc và trao đổi có tính xã hội. 

        Ưu tiên số hai : Chúng ta lắng nghe, tôn trọng và phản ảnh những xúc động của trẻ em, để giúp trẻ em từ từ ý thức đến nội tâm của mình, trên con đường làm người. Nhờ cách giáo dục nầy, vừa khi bắt đầu sử dụng loại ngôn ngữ « không lời », như thét la, khóc nhè, quay mặt qua nơi khác… thay vì bị ức chế và trừng phạt, trẻ em tức khắc được cha mẹ đón nhận, khuyến khích, tôn trọng và nâng đỡ, để bộc lộ ra ngoài những gì đang có mặt trong nội tâm của mình. Nói cách khác, xuyên qua những phản ứng xúc động, trẻ em đã nói ra những nhu cầu của mình. Dựa vào đây, cha mẹ đã có thể tạo nhịp cầu trao đổi, chia sẻ, nhận và cho, nghĩa là đáp ứng một cách thích hợp, coi trọng « câu chuyện không lời đầu tiên » của trẻ em.

        Ưu tiên số ba : Chúng ta giúp trẻ em phát huy tư duy cấu trúc, để trẻ em có thể phân biệt điều gì có thể làm và điều gì không có phép làm, trong cuộc sống xã hội hằng ngày. Nhờ bài học nầy được lặp đi lặp lại một cách liên tục, trẻ em chỉ cần nghe giọng nói hay là nhìn thấy điệu bộ qua khóe mắt, đã có thể khám phá ý định của cha mẹ : cho phép hay là không cho phép, đồng ý hay là không bằng lòng.

Hai ưu tiên số một và số hai đã được quảng diễn một cách sâu rộng trong bốn chương 3-6. Trong Lời Nói Cuối nầy, tôi chỉ muốn thêm một vài điều, nhằm giải thích một cách vắn gọn :

    -  Cấu trúc là gì ?

    -  Cấu trúc được thành hình như thế nào ?

Trong ba năm đầu đời, kể từ ngày sinh ra, học hành đối với một trẻ em, có nghĩa là vui đùa, bắt chước, lặp lại và phản ảnh. Vào giai đoạn nầy, hệ thần kinh trung ương đang còn ở trên tiến trình phát triển. Tân vỏ não của trẻ em còn thiếu những đường dây thần kinh nối kết các thùy và các trung tâm lại với nhau. Một cách đặc biệt, Thùy Trán chưa thể điều hướng và điều hợp mọi hoạt động của Cấu Trúc Hạnh Nhân. Chính vì lý do nầy, trẻ em chỉ phản ứng một cách máy móc và tự động, trước hai loại kích thích có mặt ở bên ngoài hay là xuất phát từ bên trong cơ thể. Khi đói khát, khó chịu, trẻ em cảm thấy mất an toàn, sợ sệt, cho nên khóc la, thét gào. Trái lại, khi được đáp ứng, thỏa mãn, ấm no, thoải mái, trẻ em sẽ có phản ứng vui đùa hay là ngủ nghỉ.

Nhờ có mặt thường xuyên suốt ngày và « đặt trọng tâm » vào nội tâm của trẻ em, bà mẹ, hay là một người thay thế mẹ có thể khám phá và thỏa mãn mọi nhu cầu cơ bản của em.

Nhờ thái độ của người mẹ biết đồng cảm và coi trọng xúc động, khi đứa con lên 3 tuổi, bắt đầu biết nói, biết đi, em sẽ có khả năng thoát ra khỏi vòng tay ôm ẵm của mẹ, khám phá những sự vật có mặt trong môi trường. Thoảng hoạt nhớ đến mẹ, em trở lui tìm mẹ. Khi gặp một khó khăn, em đặt câu hỏi cho mẹ. Sở dĩ em có khả năng đưa thoi lui tới như vậy, vì em đã cảm nghiệm gắn bó và an toàn đối với mẹ. Mẹ là nơi xuất phát và cũng là nơi trở về. Mẹ là điểm tựa vững chắc và đồng thời cũng là bến đậu tạo tin tưởng.

Đó là nội dung đầu tiên của bài học về cấu trúc : Mẹ là điểm tôi qui chiếu, khi lo sợ, buồn phiền, tức giận. Khi qui chiếu vào mẹ, tôi sẽ biết được điều gì tôi có thể làm, điều gì tôi không có phép lại gần. Lúc đầu, mẹ luôn luôn có mặt với tôi và cho tôi. Tuy nhiên, sau lứa tuổi  36-40 tháng (3 năm rưởi), tuy dù mẹ vắng mặt, vì công ăn việc làm, hình ảnh của mẹ, lời nói của mẹ, những gì mẹ dạy và nhất là tình thương yêu của mẹ… vẫn luôn luôn có mặt trong nội tâm của tôi. Mẹ trở thành bất tử và bất diệt, đối với tôi, trong tâm tư của tôi.

Nhờ những bài học của mẹ được ôn đi học lại, Cấu Trúc Thùy Trán đã phát huy những đường dây và những khâu Xi-nắp nối kết những trung tâm, cũng như các vùng khác nhau của Não bộ. Một cách đặc biệt, từ đây, Thùy Trán có khả năng điểu chỉnh và điều hợp Hạnh Nhân. Dựa vào hai cơ sở thần kinh nầy, trẻ em có thể từ từ khám phá và hội nhập bao nhiêu cấu trúc khác của thực tế khách quan bên ngoài. Và khi đứng trước một vấn đề cần giải quyết, trẻ em dựa vào tư duy cấu trúc, để có thể trả lời những câu hỏi cơ bản như sau :

        Tôi bắt đầu từ đâu ?

        Điểm tôi phải hướng đến là gì ?

        Tôi đi con đường nào ?

        Những chướng ngại cần tránh bao gồm những gì ?

        Những năng động tôi cần vận dụng gồm có những yếu tố nào ?

        Khi đánh giá công việc, nếu có những thất bại, tôi sẽ chuyển hướng làm sao ?

        Với những thành tựu, tôi cần tiếp tục và kiện toàn bằng cách nào ?

Xuyên qua những nhận định trên đây, tôi đã nói rất nhiều về  trách nhiệm của người mẹ đối với tiến trình phát triển và tăng trưởng của đứa con. Tuy nhiên, không có sự nâng đỡ thiết thực và hữu hiệu của người cha cũng như của những người có vai trò giáo dục, trong môi trường xã hội và Đất Nước, làm sao người mẹ có thể một mình « đứng mũi, chịu sào… trước bao nhiêu sóng gió, bão bùng giông tố » ?

Thể theo Huyền Sử Việt Nam, cho đến 3 tuổi, Thánh Gióng đã không biết đi, không biết đứng, không biết nói… Thế nhưng, bà con, bạn bè xa gần đã lắng nghe lời kêu gọi của bà mẹ. Họ đã mang đến « lương thực, ngựa sắt, roi sát và áo sắt ». Nhờ đó, Thánh Gióng đã lớn lên vùn vụt, đi ra biên thùy, cứu nước, cứu nhà…Ngày hôm nay, vào thời đại Nghìn Năm Thứ Ba, chúng ta có thể làm gì cho các trẻ em đang có những nguy cơ tự kỷ ? Biết đâu, trong số các em, có một vài Thánh Gióng đang thành và sẽ thành, có khả năng mang lại Hạnh Phúc và Thanh Bình cho Quê Hương và Anh Chị Em Đồng Bào ?

 Kính mong thay.

Khóa Học Mùa Hè 2007

NGUYỄN Văn Thành


Quay lại Mục lục


Phụ Trương MỘT :

Xây dựng Quan Hệ Đồng Cảm và Bao Dung  với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ

 

Trong một bài chia sẻ trước đây, tôi đã mạnh dạn đưa ra những nhận xét và kinh nghiệm như sau (1) : 

« Ích lợi gì, khi trẻ em suốt ngày phải học tập, lặp đi lặp lại một đôi từ hay là một đôi câu, một cách máy móc tự động, như keo vẹt, để rồi sau đó  trở nên bị động và ù lì hoàn toàn trong các tác phong hằng ngày ?

« Ích lợi gì, khi chúng ta tìm cách cấm đoán, ức chế hoặc trừng phạt những hành vi kỳ dị và những sở thích lạ thường, nếu sau đó, trẻ em càng ngày càng cố thủ trong một nếp sống bít kín và cắt đứt mọi quan hệ xã hội với mọi người ? ».

Một cách đặc biệt, tác phẩm mang tựa đề « Moi, l’enfant autiste » (Tôi là một đứa bé mắc hội chứng Tự Kỷ), xuất bản lần đầu tiên vào năm 1991, đã củng cố lối nhìn có tính giáo dục và sư phạm trên đây của tôi. Nguyên tác bằng tiếng Anh có tên là « There’s a boy in here ». Hẳn thực, ở bên trong, sau bộ mặt Tự Kỷ có một trẻ em, một đứa con, một con người… cần được chúng ta đùm bọc, dạy dỗ và tôn trọng. 

1.- Nội dung của cuốn sách có liên hệ đến Hội Chứng Tự Kỷ 

Tác giả của cuốn sách là hai mẹ con : bà Judy Barron và cậu con trai đầu lòng Sean Barron (2).

Sean sinh ra vào năm 1961. Bà mẹ lúc bấy giờ được 21 tuổi. Người cha là Ron Barron 22 tuổi, đang hành nghề giáo viên tại trường Portland, thuộc bang Ohio, Nước Mỹ.

Trong lối kết cấu hành văn, tác phẩm nầy trình bày một bộ mặt khá độc đáo. Bà mẹ ghi lại các biến chuyển đã xảy ra trong đời sống của đứa con từ ngày sinh ra. Những trang nhật ký ấy thường đề cập  những vấn đề khó khăn xuất hiện trong đời sống gia đình, nhất là những tình huống khủng hoảng và xung đột, trong quan hệ giữa hai mẹ con.

Sau khi đã lắng nghe và cảm nhận những trăn trở, lo âu, tuyệt vọng… của bà mẹ, trong suốt một phần tư thế kỷ, Sean Barron đã cầm bút, ghi thêm những nhận xét và lời giải thích chủ quan của mình, từ khi vượt qua ngày sinh nhật thứ 25. 

Hai mẹ con đã cùng nhau viết ra những nhận thức và cảm nghiệm như vậy trong vòng 3 năm. Sau đó, Sean còn phải trải qua 2 năm, để gọt đẽo, trau chuốt, làm cho bản văn của mình thêm phần trong sáng, đơn sơ và rõ ràng.

Điều đáng lưu tâm và ghi nhận, trong tác phẩm nầy, là quá trình biến chuyển tâm linh trải dài trong vòng 30 năm của một con người mang hội chứng Tự Kỷ, còn dược gọi là Rối Loạn Phát Triển Lan Tỏa:

-         Sean sinh ra vào năm 1961, như tôi đã nói tới trước đây,

-         Khi lên 2 tuổi, Sean có thêm một đứa em gái mang tên là Meagan,

-         Chung quanh 4 tuổi, Sean được các bác sĩ chuyên môn, vào thời ấy, phát hiện là mắc Hội Chứng Tự Kỷ,

-         Từ thời điểm ấy trở đi, trước mỗi một phản ứng của Sean, nhất là trong đời sống hằng ngày tại gia đình, hai ông bà Barron đã cảm nghiệm nhiều đắng cay, chua xót, tuyệt vọng và chán nản.

-         Lớn tiếng la nạt, giam con vào phòng và khóa cửa lại…là những biện pháp đã được cả hai cha mẹ sử dụng, khi thần kinh quá bị căng thẳng, vì phải đối diện thường xuyên với hành vi của Sean. Theo lối nhìn và cách “gắn nhãn hiệu” của hai ông bà, đó là những hành vi “ương ngạnh, ngoan cố, cứng đầu, không chịu vâng lời và nghe lời một ai cả”.

-         Trong một vài tình huống trầm cảm, họ đã dùng tay hay là các đồ vật có sẵn trước mặt, để đánh đập, trừng phạt con, một cách thô bạo.

-         Một cách đặc biệt, từ ngày Sean biết đi, hành vi càng ngày càng trở nên lăng xăng, tăng động, khiêu khích và phá hoại.

-         Sau mỗi lần có hành vi bạo động với con,  cả hai ông bà đều cảm thấy ân hận, xấu hổ, khóc lóc, tự đánh giá là không biết dạy con. Cho nên họ đã dốc quyết sẽ không bao giờ tái phạm.

-         Tuy nhiên, ngay lập tức sáng hôm sau, vừa khi thức dậy, nhảy ra khỏi giường, Sean đã trở lại với những hành vi thuộc thói quen hằng ngày. Và cha mẹ cũng lại tự động đặt mình trong tình thế đánh mất khả năng làm chủ những cảm xúc và phản ứng của mình. Bạo động lại ồ ạt xuất đầu lộ diện, trong lời nói và cánh tay…vượt ra ngoài khả năng kiểm soát và ý thức của cả hai ông bà.

2.- Những đấu tranh gay gắt của hai cha mẹ, nhất là của bà Judy Barron

Ngay từ những giây phút đầu tiên, vừa khi các bác sĩ cũng như các nhà chuyên môn đã xác định Hội Chứng Tự Kỷ của Sean, với lời phán quyết đành rành “Đây là một tai họa khủng khiếp, không có lối thoát, trong những điều kiện hiện thời của y khoa”.

Thế nhưng, hơn ai hết, bà Judy Barron vẫn đấu tranh quyết liệt, với tất cả tâm huyết và năng lực “làm người”, nhằm chứng minh cho bản thân mình: Lời phán quyết ấy không thể nào trở thành hiện thực, cho đứa con đầu lòng của bà, bao lâu bà còn sống, còn thở. Nhiều lúc, những khó khăn do hành vi rối loạn của Sean mang đến cho bà và dìm bà vào những hố sâu khủng hoảng và trầm cảm lớn lao, bà vẫn tìm cách hiên ngang đứng dậy, vươn lên, bước tới.

Sau khi đem con đến phòng khám, thuộc nhiều ngành nghề chuyên môn khác nhau, như Tâm Thần, Thần Kinh, Tâm lý Trị Liệu, Dinh Dưỡng Trị Liệu, Gia Đình Trị Liệu…không một nơi nào có khả năng mang đến cho hai Mẹ con một tia hy vọng. Những loại dược phẩm khác nhau như Ritalin, Mellaril, Tegreton,  Phenergan…giảm khinh một phần nào, tình trạng tăng động của Sean, chỉ trong vòng một hai hôm. Sau đó, cậu con trai càng phá phách hơn, càng thét la bực bội nhiều hơn hay là càng ngày càng đặt bày ra những trò chơi rất nguy hiểm, khi nghỉ học ở nhà. 

3.- Những dấu hiệu thuộc Hội Chứng Tự Kỷ, trong hành vi của Sean

Đa số những hành vi của Sean, đang ngày ngày tạo hoang mang và khó khăn cho cha mẹ, đều thuộc 3 dấu hiệu chính qui và đặc hiệu, mà tôi đã đề cập với đầy đủ mọi chi tiết, trong một bài chia sẻ trước đây “Hướng đến một lối nhìn khoa học và toàn diện về Hội Chứng Tự Kỷ” (3).

-         Dấu hiệu thứ nhất là đời sống bít kín, không có những quan hệ xã hội, tác động qua lại giữa người với người, thậm chí với cha mẹ và những ai khác đang cùng chung sống trong gia đình,

-         Dấu hiệu thứ hai có liên hệ đến ngôn ngữ. Đối với người Tự Kỷ, ngôn ngữ không phải là một phương tiện có vai trò trung gian, bắc nhịp cầu qua lại, giữa những người có nhu cầu diễn tả mình và tìm hiểu quan điểm của người khác.

-         Dấu hiệu thứ ba là những hành vi lạ thường, kỳ dị, lặp đi lặp lại… bộc lộ những nhu cầu và sở thích hoàn toàn riêng tư, không thể được chia sẻ với một người thứ hai. 

Nét độc đáo và đặc sắc, trong tác phẩm “Tôi là một trẻ em Tự Kỷ” là sự đối chiếu thường xuyên giữa hai bình diện hoàn toàn khác nhau, nhưng bổ túc và kiện toàn cho nhau. Một bên, bà Judy Barron trình bày và giới thiệu nhiều hành vi cụ thể và khách quan của đứa con, trong thời gian trải dài hơn 20 năm. Một bên khác, chính tác nhân Sean Barron sau khi nhìn lại các sự cố đã xảy ra trong cuộc đời quá khứ của mình, trình bày quan điểm và lối nhìn hoàn toàn chủ quan. Bằng cách này hay cách khác, với tư cách là một chứng nhân về Hội Chứng Tự Kỷ “từ bên trong”, Sean muốn gửi đi một sứ điệp. 

Đối với những người làm cha mẹ và tất cả những ai đang phục vụ và dạy dỗ trẻ em, sứ điệp của Sean đáng được lắng nghe, tìm hiểu, coi trọng và thực hiện trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi hằng ngày:

Ở bên dưới mỗi hành vi mà tôi đã thực thi, tôi còn có những xúc động, nhu cầu, sở thích và nguyện vọng, không được ai lưu tâm và chia sẻ, thậm chí người mẹ sinh ra tôi. Người khác đang chung sống với tôi, chỉ lưu tâm và tố cáo những hành vi rối loạn bên ngoài. Ai có khả năng giúp đỡ tôi mang ra vùng ánh sáng, những xúc động, nhu cầu và lời yêu cầu ấy? Không tìm cách dạy cho tôi những bài học về quan hệ làm người nầy, làm sao tôi có thể trở thành người? Nếu tôi không được dạy và học về bài học cơ bản và đầu tiên nầy, những bài học khác chỉ là “uổng công đan giỏ bỏ cà, giỏ thưa, cà lọt, công đà uổng công”.

Nhằm minh họa, tôi xin trích dẫn một đôi ví dụ như sau:

Mỗi buổi sáng, sau khi thức dậy, theo cách quyết định đơn phương của mình, Sean phải là người đầu tiên vào phòng bếp, để ăn sáng, trước khi đi học. Nếu em Meagan hay là cha hoặc mẹ không tôn trọng cách làm ấy,  Sean sẽ bùng nổ, la lối, khóc lóc và gây rối loạn cho mọi người.

Nhìn lại sự cố ấy, Sean đã giải thích rằng: Sean cần có những qui luật bất biến, để ổn định đời sống của mình. Khi có người không tôn trọng thứ tự ấy, Sean không còn cảm thấy an toàn suốt cả ngày. Tuy nhiên, Sean không biết dùng cách nào, để bộc lộ và trình bày nguyện vọng ấy cho mọi người trong nhà. “Bùng nổ” là một cách khẳng định mình: Tôi cần được mọi người tôn trọng. Ai ở ngoài tôi có khả năng bắc nhịp cầu, giúp tôi dần dần hiểu được con người ở bên trong nội tâm của tôi? Thiếu bài học nầy, tôi thực sự chỉ là “một pháo đài trống rỗng”, như Bruno Bettelheim thường khẳng định, vào những năm 1960. Thiếu những ý nghĩa được xác định như vậy, câu nói trên đây chỉ làm tổn thương cho bao nhiêu cha mẹ, và đánh mất lòng quyết tâm, phấn đấu nơi họ

Một ví dụ thứ hai: Những lỗ thoát nước trong nhà tắm, cũng như trong phòng vệ sinh, luôn luôn bị kẹt cứng . Sean đã có thú vui là ném giấy hay là bút chì vào trong các lỗ thoát nước như vậy, để tìm hiểu những vật dụng sẽ đi đến đâu.

Nhìn lại sự cố ấy, đã gây ra bao nhiêu xáo trộn trong đời sống gia đình, cũng như những cơn thịnh nộ của cha mẹ, Sean đã thú nhận rằng: Những kẻ hở, những lỗ trống luôn luôn kích thích hiếu kỳ của mình, một cách tột độ. Cho nên, Sean cảm thấy băn khoăn, bối rối, khắc khoải, bao lâu chưa tìm cách “nghiên cứu”, nhằm hiểu rõ: những kẻ hở, những lỗ trống ấy dẫn nước và khí, cũng như bao nhiêu vật dụng khác đi về đâu, đến đâu.

4.- Ba câu hỏi cơ bản trong cuộc đời

Trong vòng hơn 20 năm ròng rã, cuộc đời của ông bà Barron đã chất chứa nhiều nước mắt và hối hận, nhiều giận hờn và thét la, nhiều đắng cay và tủi nhục. Trên những bước đường lần mò, mù lòa, giữa đêm tối dày đặc và triền miên, vô vọng và vô phúc, hai   ông bà vẫn luôn luôn giữ vững ngọn đuốc yêu thương đối với đứa con tự kỷ của mình. Nhờ thái độ vững tin, không bao giờ chấp nhận đầu hàng của hai cha mẹ, cậu bé Sean vẫn ngày ngày lớn lên và phát triển theo vận tốc hoàn toàn riêng biệt của mình.

-         Khi lên 3 tuổi, Sean đã bắt chước em là Meagan, lặp lại một đôi từ một cách máy móc, nhưng không hiểu rõ ý nghĩa và biết cách ứng dụng mỗi từ, với từng hoàn cảnh cụ thể, trong cuộc sống hằng ngày.

-         Từ 5 tuổi trở lên, ngôn ngữ đã xuất hiện, lúc ở nhà, cũng như tại trường học. Thế nhưng, ngôn ngữ của Sean chỉ là một tập hợp hỗn loạn, lộn xộn. Khi phát biểu, Sean kết ráp với nhau những từ lạ lùng, ít được ai dùng. Và khi kẻ khác diễn tả ý kiến và quan điểm của mình, Sean chi ghi nhận những tiếng động, tiếng ồn, những làn sóng bị nhiễm, như trên các kênh, các đài rađiô và truyền hình. Thậm chí, khi cha mẹ phẩn nộ, la nạt, rầy rà, Sean chỉ ghi nhận những điệu bộ “hoa tay múa cánh”, hay là những “nét mặt sừng sộ, hung tợn…” mà thôi. Ngoài ra, Sean không bao giờ hiểu rõ cha mẹ cố ý nói gì với mình, dạy gì cho mình.

-         Đó là một trong những lý do chính yếu tại sao Sean tìm cách tránh xa những quan hệ xã hội, thậm chí với cha mẹ. Hẳn thực, ở đâu có con người tiếp xúc, trao đổi qua lại, ở đó Sean cảm thấy bị tổn thương, nhức nhối, mất an toàn, cô đơn và lạc lỏng.

Từ ngày lắng nghe và tìm hiểu tiếng kêu trầm thống của Sean Barron, đã được viết ra với tất cả khổ đau lai láng tràn trể, trên suốt chiều dài hơn 20 năm, bản thân tôi đồng cảm với tình huống bế tắc, tiến thối lưỡng nan của mọi trẻ em có nguy cơ tự kỷ, khi phải tiếp cận với vấn đề ngôn ngữ. Ngôn ngữ phải chăng là phương tiện thiết yếu, tạo trung gian giữa người với người? Không tiếp thu và thấm nhuần bài học về ngôn ngữ, làm sao một trẻ em tiến lên khả năng hội nhập những bài học làm người khác? Tuy nhiên, ngôn ngữ bao gồm rất nhiều cạm bẫy, hiểm nguy và tai họa. Xuyên qua ngôn ngữ của người khác, bắt đầu từ cha mẹ sinh ra tôi, tôi dễ dàng đánh mất lòng tự tin đã có và có sẵn, từ ngày tôi vừa lọt lòng mẹ. 

Khi người lớn bắt đầu cấm đoán, trừng phạt, la rầy, tố cáo, mắng chửi… tôi đã từ từ nghi kỵ về chính mình: 

-         Phải chăng tôi là con người có giá trị?

-         Phải chăng tôi được yêu thương, trên suốt con đường học làm người?

-         Phải chăng tôi có khả năng làm cho đời tôi có ý nghĩa xây dựng và phục vụ?

Bao lâu 3 câu hỏi ấy chưa được cha mẹ và thầy cô trả lời cho tôi, một cách thỏa đáng, suốt dọc cuộc đời, tôi vẫn còn là đứa bé bơ vơ, phiêu bạt, lang thang…cơ hồ một chiếc thuyền không có bến đậu, giữa bão táp và phong ba.

Sống trong những tình huống như vậy, thay vì biết CHỌN LỰA và QUYẾT ĐỊNH, để trở thành con người tự do, có bản lãnh, tôi chỉ PHẢN ỨNG một cách máy móc và tự động, dưới sức ép của những xúc động tràn ngập và hoàn toàn vô thức. Theo lối nói chuyên môn của Tâm Lý Phật học, đó là VÔ MINH và DỤC VỌNG đang lèo lái cuộc đời. Lúc bấy giờ, tuy có tai, tôi vẫn không nghe như người câm điếc. Tuy có mắt, tôi vẫn không thấy như người đui mù. Tuy có làn da nhạy bén, tôi vẫn lạnh lùng và vô cảm, như một tảng băng sơn.

Và khi tôi chỉ phản ứng như vậy, hành vi khách quan bên ngoài của tôi có hai chiều hướng:

-         Một là chống đối, phản loạn, đập phá, cao bồi, du đãng,

-         Hai là bị động, ù lì, lệ thuộc, làm nạn nhân cho người khác.

5.- Những chuyển biến lớn lao của Sean Barron, từ năm lên 17 tuổi

Vào năm 1978, lúc Sean lên 17 tuổi, vì lý do thay đổi công ăn việc làm, ông bà Barron đã quyết định di chuyển nơi cư trú, từ bang Ohio, ở phía Đông Nước Mỹ, đến bang California ở về phía Tây, nằm sát bờ biển Thái Bình Dương.

Lúc ban đầu, Sean đã phản loạn, từ chối.

Nhưng sau gần một năm thích nghi với môi trường mới, những chuyển biến bắt đầu xuất hiện một cách rõ nét, trong cuộc sống của Sean. 

Trong khuôn khổ của bài chia sẻ vắn gọn nầy, tôi không có tham vọng phân tích mọi yếu tố đã đóng góp phần mình vào thành quả chuyển biến lớn lao, trong con người của Sean. Tôi chỉ nêu ra những sự cố có tính quyết định sau đây:

-         Sự cố thứ nhất là lớp học về cuộc sống hằng ngày.

Nhờ có nhiều giờ rảnh và các môn học ở trường trung học không quá khó khăn, Sean đã đăng ký theo học một khóa học về cuộc sống thường ngày. Chủ đề đầu tiên được bà giáo trình bày là “Hội Chứng Tự Kỷ”. Khi nghe bà giáo trình bày những dấu hiệu cần phát hiện và nhất là những hành vi đặc biệt và độc đáo của những người có những rối loạn này, Sean cảm nghiệm như bà giáo đang nói về chính con người của mình. “Tôi thấy mình như đang bị lột trần, trước mặt của mọi người”, đó là lời tự thú của Sean, sau giờ học. 

-         Sự cố thứ hai là cuốn phim với tựa đề “Hỡi con, hãy đứng thẳng lên”.

Nhờ lời giới thiệu của một bà bạn, Mẹ của Sean đã mang về nhà một cuốn phim. Bà Judy, Sean và Meagan, cả ba mẹ con đã cùng ngồi xem với nhau.

Cuốn phim trình bày nhân vật chính là một trẻ em 5 tuổi, có những hành vi, điệu bộ và sở thích hoàn toàn giống như Sean, cách đây 12 năm về trước.

Trong cuốn phim, bên cạnh đứa bé, bà mẹ chỉ làm công việc “phản ảnh” con, bằng cách lặp lại những điệu bộ, hoàn toàn giống như con. Khi đứa con thét la, ú ớ hay là bi bô, phát âm… bà mẹ bắt chước, làm y hệt như con.

Trong nhiều tháng, bà mẹ đã tìm cách “đi vào bên trong vũ trụ của con”. Ngày ngày, bà “ĐỒNG HÀNH” với con, để “ĐỒNG CẢM” với con.

Nhờ vậy, từ từ đứa con thoát ra khỏi vũ trụ Tự Kỷ của mình. Từ từ trở về thế giới bình thường với mẹ và giống như mẹ. Cuối cùng đứa con biết ĐỒNG CẢM và ĐỒNG HÀNH với mẹ.

Suốt buổi xem phim, bà Judy không cầm nổi nước mắt. Ngồi bên cạnh con, bà đã khóc tức tưởi.

Bà nhớ lại, vào lúc Sean lên 10 tuổi, bà đã có lần giải thích cho con “Hội Chứng Tự Kỷ” là gì…Sean chỉ nghe qua, nhưng không chú ý, rồi bỏ đi.

Lần nầy, Sean đã ngồi xem phim từ đầu chí cuối, một cách rất chăm chỉ.

Sau khi cuốn phim đã kết thúc, trong vòng 2 đến 3 phút, cả 3 mẹ con, ngồi bất động và thinh lặng hoàn toàn. Cuối cùng, chính Sean đã cất tiếng:

-         Mẹ ơi, thế thì con cũng mắc phải chứng Tự Kỷ?

-         Vâng, con ơi, bà mẹ trả lời, đúng như vậy.

Sau đó cả ba mẹ con ngồi nhìn nhau. Lần đầu tiên trong cuộc đời, Sean nhìn thẳng vào đáy mắt của mẹ, không còn chi để LO SỢ.

Cũng từ lúc ấy, theo lời thú nhận của Sean, “tôi có thể đặt ra cho mẹ tôi, tất cả mọi câu hỏi. Và mẹ sẽ trả lời cho tôi”. Ngôn ngữ không còn là một hố sâu thăm thẳm, giữa con người với con người. Ngôn ngữ là nhịp cầu nối kết con người lại với nhau.

  

Bí chú: 

1)  Hội Chứng Tự Kỷ: Hướng đến một lối nhìn khoa học và toàn diện.

2)  Judy Barron, Sean Barron  - Moi, l’enfant autiste – J’ai Lu, Librairie Plon, 1993.  -There’s a boy in here – Simon & Schuster, New York, 1992.

3)   Như số 1)

 Sách tham khảo: 

1)  NGUYỄN văn Thành  -  Trẻ Em Tự Kỷ  -  Nhà Xb Tôn Giáo, 2006

2)  NGUYỄN văn Thành  -  Nguy Cơ Tự Kỷ  -  UBBA-XH, 2006

3)  NGUYỄN văn Thành  -  Đồng Cảm để Đồng Hành  - TN Lausanne, Xuân 2003

4)  NGUYỄN văn Thành  -  Quan Hệ Mẹ Con  - TN, Lausanne, Xem và Sửa lại 2006


Quay lại Mục lục


Phụ Trương HAI:

Những bài học từ dễ đến khó

Trong Chương Trình CAN THIỆP SỚM

(dành cho trẻ em có nguy cơ tự kỷ từ 0 – 7 tuổi)

 

Trong bài chia sẻ này, tất cả 131 Tiết Mục (TM) trong Bản Lượng Giá của Eric SCHOPLER đã được chuyển biến thành một Dụng cụ can thiệp sớm, vừa khi trẻ em bắt đầu trình bày một vài rối loạn, trên tiến trình phát triển và tăng trưởng. Các Tiết Mục được sắp xếp từ dưới đi lên, từ dễ đến khó.

Trong cuốn sách “Nguy Cơ Tự Kỷ”, Chương Bốn, đoạn 4 đã giải thích, một cách rõ ràng và cụ thể, những thể thức can thiệp khác nhau.

Bảng số 10 : Những TM sắp theo thứ tự từ dưới đi lên, theo tiêu chuẩn lứa tuổi từ 3 lên 84 tháng (7t) 

Địa hạt thứ nhất : Bắt Chước

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

1) Trò chơi cúc cù 

52

10-15

12 tháng

2) Bắt chước trẻ làm 

129

16-22

19

3) Bắt chước trẻ bi bô

130

17-23

20

4) Đưa tay chào

142

17-23 

20

5) Vo tròn đất sét

11

24-33

28

6) Bắt chước gõ chuông

113

25-29

27

7) Bắt chước làm cho

15  

26-32

29

8) Bắt chước các cử động 

41

28-35

31

9) Bắt chước tiếng mèo     

14

28-35  

31

 

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

10) Lặp lại các từ

124

28-35

31 tháng

11) Lặp lại âm thanh

123

32-38

35

12) Xoay ống nhìn

6                  

37-43

40

13) Lặp lại 2-3 số

100

45-50

47

14) Làm con múa rối

13

45-50

47

15) Bấm chuông 2 lần

 8

55-58

56

16) Lặp lại 4-5 số

102

66-71

68 (5 tuổi)

 

 

 

Địa hạt thứ hai : Nhận thức Giác quan

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

1) Nhìn theo bọt xà phòng 

7-15

11 tháng

2) Vượt qua đường giữa    

4

7-15

11

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

3) Nghe tiếng chuông

111

7-15

11 tháng

4) Nghe, hướng về

57

7-15

11

5) Nghe, hướng về tiếng

35

7-15

11

6) Trả lời bằng cử điệu

59

13-17

15

7) Nhìn sách có hình

120

20-25                  

22

8) Mắt Chính và Phụ

7

30-35

32

9) Phân biệt Lớn và Nhỏ   

25

34-39

36

10) Lắp ráp đúng chỗ

19

34-49

41

11) Xếp theo màu

32

45-49

47

12) Lắp ráp 4 đồ vật          

23

45-49

47

13) Tìm ra vật che giấu     

108

58-62

60 (5t)

 

 

 

Địa hạt thứ ba:  Vận Động Tinh

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển    

Tuổi trung bình

1) Tay ấn sâu vào đất sét 

9

13-17

 15 tháng

2) Lấy cườm ra khỏi trục

65

13-20

16

3) Cầm thanh gỗ nhỏ          

10

15-19

17

4) Mở, đóng công tắc điện  

119   

15-20

17

5) Thả rơi khối vào bình     

99

15-21 

18

6) Xâu hạt cườm vào trụ    

66

16-23

19

7) Cầm với ngón cái và trỏ 

109

21-24

22

8) Phối hợp 2 tay

67

25-28            

26

9) Mở, đóng nắp chai

1

26-30

28

10) Thổi làm bọt xà phòng   

2

26-30           

28

11) Xâu hạt cườm

63

30-33            

31

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

12) Nhận ra đồ vật bằng tay

87

46-49            

47 tháng

13) Dùng kéo cắt giấy           

86

46-50

48

14) Nắn chiếc bát với đất sét

12

48-52

50

15) Ngón cái đụng các ngón 

42

62-64

63

16) Vẽ hình người                 

84

70-74

72 (6 tuổi)

 

 

 

 

Địa hạt thứ bốn: Vận Động Thô

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

 1) Cầm banh trong 2 tay      

47 

13-16             

14 tháng

2) Tay đẩy trái banh tới       

48

13-17  

15

 3) Ngồi thẳng trên ghế dựa  

50

14-19

16

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

4) Đi một mình

37     

14-22

18 tháng

5) Chuyển tay này qua tay kia

68

14-22

18

6) Cầm ly uống

 60

14-24             

19

7) Ném banh

44

19-27

23

8) Ngồi, dùng chân di động  

51

21-28

24

9) Đưa tay vượt đường giữa

24

24-28             

26

10) Chụm chân nhảy tới      

40

24-31

27

11) Vỗ tay

38

24-31

27

12) Phân biệt tay mạnh - yếu

72

28-33

30

13) Đá vào trái banh

45 

28-35

31

14) Đứng thẳng trên 1 chân

39

29-36

32

15) Chân chính, Chân phụ  

46

30-34

32

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

16) Đón bắt quả banh          

43

46-51 

48 tháng

17) Đu đưa sợi giây có cườm

64

46-51

48

18) Đi lên, mỗi chân 1 cấp   

49

61-65

63 (5 tuổi)

 

 

Địa hạt thứ năm :  Phối hợp Mắt và Tay

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

 1) Vẽ nguệch ngoạc tự do    

71

16-20

18 tháng

2) Lắp ráp 3 hình 3 cỡ

26

27-31

29

3) Lắp ráp 3 hình

20

27-31

29

4) Sắp lại các khối vào hộp  

94

27-31

 29

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

5) Chồng các khối lên nhau

93

35-38

36 tháng

6) Sắp đúng các chữ cái

80

39-42

40

7) Chép lại hình tròn           

74 

42-46 

44

8) Đồ lại trên các cạnh

79

44-51

47

9) Lắp ráp hình con mèo     

30

46-50              

48

10) Chép lại đường thẳng

73

46-50

48

11) Tô màu trong giới hạn   

78

51-54

52

12) Chép lại hình vuông

75

55-59

57

13) Chép lại hình tam giác   

76

67-69

68

14) Chép lại 7 chữ cái            

83

67-69

68

15) Chép lại hình thoi            

77

72-76 

74 (6 tuổi)

 

 

  

Địa hạt thứ sáu : Kỹ năng Tư Duy

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

1) Tìm ra một đồ vật được giấu      

53

10-14

12 tháng

2) Tiên liệu những điều quen 

141

19-23   

16

3) Biết cho, khi có người xin

117

21-26

23

4) Phân biệt 2 đồ vật khác nhau

98

23-27

25

5) Xếp đúng đồ vật với hình ảnh

115

24-27

25

6) Chỉ các phần trên thân thể

17

25-28

26

7) Chỉ các phần trên con rối 

16

26-31

28

8) Thi hành mệnh lệnh đơn sơ

131

27-29

28

9) Dùng bộ điệu tả các đồ vật

118

28-33

30

10) Phân biệt Lớn Nhỏ  

28

31-36

33

 

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

11) Thi hành chỉ thị bằng lời

128

36-41

38 tháng

12) Thi hành mệnh lệnh 2 phần      

97

36-41

38

13) Dùng điệu bộ tả 1 hình ảnh       

110

38-42

40

14) Phân biệt 3 hình : tròn, vuông  

22

40-44

42

15) Nhận biết các hình ảnh

121

42-45

43

16) Nhận biết 5 màu sắc

34

42-45

43

17) Chơi qua lại giữa 2 con rối

18

44-47

45

18) Sắp xếp theo màu và hình

114

49-52

50

19) Lắp ráp hình đưa con trai

89

49-52

50

20) Lắp ráp hình con mèo

29

49-52

50

 

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

21) Nhận biết đồ vật bằng xúc giác

88

54-56

55 tháng

22) Phân biệt số  lượng giữa 2 và 6  

96

60-63 

61

23) Viết ra tên mình

85

60-63

61

24) Nhận biết 9 chữ cái 

82

65-67 

66

25) Ghép lại 6 phần hình con bò       

31

70-73

71

26) Thi hành chỉ thị được viết ra

140

76-81

78 (6 tuổi)

 

 

Địa hạt thứ bảy :  Kỹ Năng Ngôn Ngữ

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

1) Xin giúp đỡ

61

17-13 

15 tháng

2) Nói được những câu 2 từ

132

22-26

24

3) Gọi đúng tên những vật dụng

116

25-28         

26

4) Dùng đại danh từ Tôi, Con…

135

25-29

27

5) Biết tên và họ của mình

69

28-33

30

6) Nói những câu có 4-5 từ

133

29-33

31

7) Biết thế nào là Nhiều, Ít

134

32-35

33

8) Biết mình trai hay gái 

70

32-38

35

9) Lặp lại câu ngắn

125

33-38

35

10) Lặp lại dãy 2-3 số

101

34-38

36

 

  

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

11) Biết dùng từ Lớn và Nhỏ   

27

40-45

42 tháng

12) Gọi tên các hình ảnh

122

40-45

42

13) Gọi tên 5 nàu sắc

33

46-51

48

14) Lặp lại câu khá dài, đơn sơ

126

46-51

48

15) Gọi tên 3 hình : tròn vuông…

21

48-53

50

16) Đếm lớn tiếng 

104

53-55

54

17) Đếm 2-7 khối

95

56-59

57

18) Lặp lại những câu phức tạp

127

58-62

60

19) Lặp lại dãy 4-5 số

103

60-63

61

20) Đọc những con số 1 - 10

105

60-64

62

21) Gọi tên những chữ cái

81

62-66

64

 

 

 

Thứ tự 

số TM   

Tuổi phát triển   

Tuổi trung bình

22) Tính nhẩm bài toán của mình

106

67-70

 68 tháng

23)  Đọc những từ ngắn gọn

136

68-72

70

24) Tính nhẩm bài toán khách quan 

107

68-72

70

25) Đọc câu ngắn

137

71-75

73

26) Đọc với vài ba lỗi 

138 

72-76

74

27) Đọc và hiểu

139

75-80       

77 (6 tuổi)

 

 

I.- BẮT CHƯỚC  (16 bài học) 

1.- Trò chơi cúc cù

 

TM số 52: Trò chơi “Cúc cù” hay là “Con kiến bò lên”

 

Dụng cụ: Một chiếc khăn lớn.

Cách làm:

-         Lấy chiếc khăn lớn che lúp mặt trẻ em vả hỏi “Em H ở đâu rồi?”,

-         Khi trẻ em tự tay rút tấm khăn khỏi mặt mình, hay là chính bạn cất chiếc khăn, bạn vui cười nói lớn: “Cúc cù, em H lại hiện ra đây nè”,

-         Lặp lại trò chơi và chờ xem trẻ em có tự tay rút khăn khỏi đầu và mặt của mình không?

-         Lặp lại thêm vài lần, nếu trẻ em chia sẻ niềm vui và hợp tác,

-         Cách thứ hai là dùng 2 ngón tay trỏ và giữa làm con kiến, bò từ từ lên vai và cổ của trẻ em. Vừa kích thích, vừa chọc cười, vừa phát âm “ki li, ki li”,

-         Lặp lại và chờ xem trẻ em có tham dự vào trò chơi, bằng cách vui đùa và bắt chước phát âm “ki li, ki li”, giống như bạn không?

Địa hạt: Bắt chước về vận động.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em tham dự ít nhất một lần, bằng cách vỗ tay, rút chiếc khăn, hay là bắt chước phát âm.

-         (+/-) Hiểu, vui thích, tươi cười, nhưng không lặp lại…

-         (-) Không tỏ ra vui thích, hợp tác.

-           

2.- Bắt chước trẻ em làm

TM số 129 : Phản ứng, khi người lớn bắt chước hành vi của mình

 

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

-         Bạn hãy bắt chước trẻ em,

-         Không chọn lựa những hành vi như « tự hủy, lặp đi lặp lại »,

-         Bắt chước 3 lần,

-         Quan sát và ghi nhận phản ứng của trẻ em.

Địa hạt : Bắt chước.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em ý thức mình được bắt chước, tỏ ra vui thích, đồng thời lặp lại và kéo dài trò chơi…

-         (+/-) Có ý thức, nhưng không kéo dài trò chơi quan hệ qua lại,

-         (-) Không tỏ ra dấu hiệu có ý thức.

 

3.- Bắt chước trẻ bi bô

 

TM số 130 : Phản ứng khi có người lặp lại cách phát âm của mình

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

-         Bắt chước khi trẻ em phát âm,

-         Quan sát thái độ của trẻ em : ý thức, vui thích, bằng lòng…

Địa hạt : Bắt chước.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em ý thức và tỏ ra vui thích,

-         (+/-) Ý thức nhưng không kéo dài trò chơi,

-         (-) Không ý thức, không chú ý.

 

4.-Đưa tay chào

TM số 142 : Đưa tay làm dấu Chào, khi ra đi

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

-         Trong lúc làm việc, bạn làm và bảo trẻ em làm : Vẫy chào con múa rối, trước khi xếp vào hộp,

-         Vào giờ nghỉ giải lao, bạn đi ra ngoài. Trước khi ra, bạn đưa tay vẫy chào và quan sát : Trẻ em có đáp lại hay là bắt chước bạn không ?

Địa hạt : Bắt chước.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em làm dấu đáp lại,

-         (+/-) Chỉ phác họa cử chỉ. Cử chỉ không rõ ràng,

-         (-) Không có phản ứng gì cả.

5.- Vo tròn đất sét

TM số 11 : Vo tròn đất sét và làm một khúc dồi thịt

Dụng cụ : Đất sét.

Cách làm :

-         Phân chia đất sét thành 2 phần,

-         Đưa cho trẻ em một phần,

-         Người lớn vo tròn đất sét trên bàn, và làm thành một khúc dồi thịt,

-         Bảo trẻ em hãy làm y như chúng ta.

Địa hạt: Bắt chước hành vi, vận động.

Chấm điểm:

-         (+) Vo tròn đất sét thành một khúc dồi thịt,

-         (+/-) Cầm đất sét lên, nhưng không có cử chỉ vo tròn,

-         (-) Không làm.

6.- Bắt chước gõ chuông

TM số 113: Bắt chước làm những tiếng động

Dụng cụ:

-         Cái phách gõ nhịp,

-         Cái chuông nhỏ,

-         Cái muỗng.

Cách làm:

-         Bạn bắt đầu gõ vào cái phách, làm tiếng kêu lách cách. Rồi đưa cái phách cho trẻ em và bảo: “Em làm đi”,

-         Bạn cũng làm theo một thể thức ấy, với 2 dụng cụ kia.

Địa hạt: Bắt chước.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em lần lượt cầm lên cả 3 dụng cụ và làm ra tiếng động,

-         (+/-) Cầm lên chơi, nhìn ngắm… nhưng không gây ra tiếng động,

-         (-) Không cầm lên, không bắt chước.

 

7.- Bắt chước làm như…

TM số 15: Bắt chước sử dụng 4 đồ vật thường ngày

Dụng cụ:

-         Một con múa rối,

-         Bốn đồ dùng quen thuộc như muỗng (thìa), cốc nhựa, bàn chải đánh răng, khăn lau bằng giấy.

Cách làm:

-         Người lớn chứng minh cách làm: mang con múa rối vào một tay, dùng tay kia để đút sữa, đánh răng, cho uống, lau miệng con múa rối,

-         Sau đó, người lớn vẫn giữ con múa rối trên tay mình, và lần lượt đưa cho trẻ một trong 4 dụng cụ trên đây,

-         Quan sát và ghi nhận cách làm của trẻ em.

Địa hạt: Bắt chước hành động của kẻ khác.

Chấm điểm:

-         (+) Biết dùng 3 vật dụng,

-         (+/-) Chỉ biết dùng 1 trong 4 vật dụng,

-         (-) Không làm được gì.

8.- Bắt chước các cử động

TM số 41: Bắt chước một số cử động

 

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Yêu cầu trẻ em nhìn: “Em hãy nhìn kỹ những điều thầy sắp làm",

-         Bạn thực hiện một số động tác như sau: ° Đưa thẳng một cánh tay lên quá đầu, °° Đưa tay sờ và đụng lỗ mũi, °°° Một tay đưa lên quá đầu, tay kia đụng lỗ mũi,

-         Sau mỗi một trong 3 động tác vừa được liệt kê, bảo trẻ em: “Hãy làm y như thầy vừa làm”.

Địa hạt: Bắt chước về mặt vận động.

Chấm điểm:

-         (+) Biết bắt chước cả 3 động tác,

-         (+/-) Bắt chước chỉ một động tác, và không làm hoàn toàn đúng hẳn.

-         (-) Không làm gì cả.

 

9.- Bắt chước làm tiếng mèo

TM số 14: Bắt chước tiếng kêu của loài vật

Dụng cụ: Con múa rối chó hoặc mèo.

Cách làm:

-         Chứng minh trước, như trong TM số 13,

-         Nhưng trong TM số 14 nầy, khuyến khích trẻ em vừa chơi vừa phát âm “Meo meo” hay là “Vâu vâu”.

Địa hạt: Bắt chước phát âm.

Chấm điểm:

-         (+) Phát âm Meo meo hay Vâu vâu một cách rõ ràng,

-         (+/-) Có bắt chước phát âm, nhưng âm thanh phát ra không phải là Meo hay Vâu,

-         (-) Không làm, không thử phát âm.

10.- Lặp lại các từ

TM số 124 : Lặp lại những từ

Dụng cụ : Không có.

Cách làm : Giống như TM số 123

-         Từ thứ nhất : Hốp,

-         Từ thứ hai : Uống hay là ăn,

-         Từ thứ ba : Em bé.

Địa hạt: Bắt chước.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em lặp lại được 2 từ trên 3,

-         (+/-) Chỉ lặp lại được 1 từ trên 3, hay là 1 phần của từ như Bé thay vì Em bé,

-         (-) Không lặp lại được.

11.- Lặp lại âm thanh

TM số 123 : Lặp lại các âm thanh

 Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

-         Bảo trẻ em : «Hãy lắng nghe thầy. Thầy nói gì, em nói lại như thầy».

-         Lần thứ nhất : Mờ mờ,

-         Lần thứ hai : Ba ba,

-         Lần thứ ba : Pa ta hay là Ta ta,

-         Lần thứ bốn : La la.

Địa hạt : Bắt chước phát âm.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em lặp lại được 3 âm thanh,

-         (+/-) Lặp lại được một âm thanh hay là cố gắng bắt chước, nhưng không phát âm đúng hoàn toàn,

-         (-) Trẻ em không làm, không bắt chước.

12.- Xoay ống nhìn vạn sắc…

TM số 6: Ống nhìn vạn sắc

Dụng cụ: Ống nhìn vạn sắc.

Cách làm:

-         Trình bày cách xoay tròn,

-         Nhìn vào trong,

-         Bảo trẻ em cũng làm theo như vậy.

Địa hạt: Bắt chước làm và bắt chước nhìn.

Chấm điểm:

-         (+) Nhìn vào trong và biết xoay tròn, để thay đổi màu sắc và hình thể,

-         (+/-) Tìm cách nhìn, nhưng không tỏ ra thích thú…

-         (-) Không nhìn.

13.- Lặp lại 2-3 số

TM số 100 và 101: Lặp lại theo người lớn những dãy số

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Sau khi gây chú y, bảo trẻ em: “Thầy đọc lên những hàng số, em hãy nghe cho kỹ”,

-         “Sau khi thầy đọc xong, em hãy lặp lại y nguyên”,

-         Sau mỗi số, dừng lại một giây.

-         Lặp lại thêm lần thứ hai, nếu trẻ em lặp sai trong lần thứ nhất,

-         Dãy thứ nhất: 2 số,

Lần Một: 7-9,

Lần Hai: 5-3.

-         Dãy thứ hai: 3 số,

Lần Một: 2-4-1,

Lần Hai: 5-7-9.

Địa hạt:

-         TM số 100: Bắt chước, lặp lại,

-         TM số 101: Kỹ năng ngôn ngữ. 

Chấm điểm:

-         (+) Lặp lại đúng một lần dãy 2 con số, và một lần dãy 3 con số,

-         (+/-) Chỉ lặp lại đúng một lần dãy 2 con số,

-         (-) Không lặp lại đúng dãy nào cả, trong 4 lần.

14.- Làm con múa rối

TM số 13: Sử dụng con múa rối “găng tay”

Dụng cụ: Một con múa rối kiểu găng tay, như con mèo hoặc con chó.

Cách làm:

-         Người lớn mang vào tay đầu mèo,

-         Nói với trẻ em: “Tôi là con mèo, meo meo… tôi đến chơi với bạn…

-         Sau đó, đưa cho trẻ em con múa rối vả bảo: “Em làm con mèo đi…”

Địa hạt: Bắt chước về mặt vận động.

Chấm điểm:

-         (+) Mang vào tay con múa rối và tìm cách làm những cử động với đầu và chân mèo,

-         (+/-) Mang vào tay chiếc găng, nhưng không làm các cử động,

-         (-) Không mang vào tay con múa rối.

15.-Bấm chuông 2 lần

TM số 8: Bấm hoặc rung chuông 2 lần

 

Dụng cụ: chuông nhỏ.

Cách làm:

-         Giới thiệu cách làm và bảo trẻ em làm theo,

-         Cố ý rung 2 lần,

-         Nếu trẻ em rung chỉ một lần, hay là nhiều hơn 2 lần, chúng ta chứng minh lại và bảo trẻ em làm giống như vậy.

Địa hạt: Bắt chước về mặt vận động.

Chấm điểm:

-         (+) Rung đúng 2 lần,

-         (+/-) Rung lộn xộn, không ghi nhận đúng 2 lần,

-         (-) Không làm, không bắt chước.

16.- Lặp lại 4-5 con số

TM số 102 và 103: Lặp lại những dãy có 4 và 5 con số.

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Chỉ khảo sát 2 TM nầy, nếu 2 TM số 100 và 101 đã được chấm điểm (+),

-         Cách làm hoàn toàn như trong 2 TM trên đây.

-         Dãy thứ ba: 4 số,

Lần Một: 5-8-6-1,

Lần Hai: 7-1-4-2.

-         Dãy thứ bốn: 5 số,

Lần Một: 3-2-9-4-8,

Lần Hai: 7-4-8-3-1.

Địa hạt:

-         TM số 102: Bắt chước,

-         TM số 103: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Lặp lại đúng một dãy 4 số và một dãy 5 số,

-         (+/-) Chỉ lặp lại đúng 1 dãy 4 số,

-         (-) Không lặp lại đúng dãy nào cả sau 4 lần.

II.- Nhận Thức giác quan (13 bài học)

1.- Nhìn theo bọt xà phòng

TM số 3: Đưa mắt nhìn theo bọt xà phòng di chuyển

 Dụng cụ: vẫn như trong TM số 2

Cách làm : Khi trẻ em thực hiện TM số 2,

-         Quan sát trẻ em có đưa mắt nhìn theo bọt xà phòng bay hay không,

-         Nếu trẻ em không biết thổi, chúng ta hãy thổi trước mặt trẻ em. Đồng thời, chúng ta quan sát đôi mắt của trẻ em: có theo dõi bọt xà phòng di chuyển không?

Địa hạt: Nhận thức thị giác.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em đưa mắt theo dõi,

-         (+/-) Có nhìn một cách sơ thoáng lúc ban đầu, rồi ngoảnh mặt qua chỗ khác,

-         (-) Không nhìn theo.

 2.- Vượt qua đường ở giữa

TM số 4: Liếc nhìn vượt qua đường ở giữa

Dụng cụ: dùng dụng cụ như trong các TM vừa qua, hay là dùng một trò chơi khác vui mắt.

Cách làm: di chuyển dụng cụ từ phía trái của trẻ em sang phải, làm thành một tam giác có gốc 90°, ở vị trí của trẻ em.

Địa hạt: Nhận thức thị giác.

Chấm điểm:

-         (+) Đưa mắt nhìn theo, từ trái qua phải,

-         (+/-) Dừng lại ở giữa hay là vượt quá một chút ít mà thôi, không làm thành một gốc 90°,

-         (-) Không nhìn theo.

3.- Nghe tiếng chuông

TM số 111 và *112: Phản ứng khi bất ngờ nghe tiếng chuông

Dụng cụ: Một cái chuông nhỏ.

Cách làm:

-         Khi trẻ em đang chơi hay là làm việc,

-         Đưa tay xuống dưới bàn, một cách kín đáo, không cho trẻ em thấy.

-         Bạn rung thật mạnh tiếng chuông,

-         Quan sát phản ứng của trẻ em.

Địa hạt:

-         TM số 111: Nhận thức về thính giác,

-         *TM số 112: Hành vi, phản ứng giác quan (Gq).

Chấm điểm:

   TM số 111: Nghe

-         (+) Tỏ ra đã nghe tiếng chuông: đặt câu hỏi, hành vi giật mình, nhìn và tìm, bịt tai lại,

-         (+/-) Nghe nhưng không có hành vi hướng về, tìm kiếm,

-         (-) Không tỏ dấu hiệu đã nghe, không phản ứng.

4.- Nghe, hướng về tiếng còi bất ngờ

TM số 57 và 58: Khi nghe tiếng còi một cách bất ngờ

Dụng cụ: Còi hay là dụng cụ tương tự.

Cách làm:

-         Khi trẻ em đang bận làm một điều gì, một cách kín đáo, người lớn thổi mạnh và làm một tiếng còi lớn,

-         Đồng thời quan sát phản ứng của trẻ em.

Địa hạt:

-         TM số 57: Nhận thức về thính giác,

-         *TM số 58: Quan hệ và Xúc động đối với những kích thích giác quan (Gq).

Chấm điểm:

   TM số 57

-         (+) Quay mặt về nơi có tiếng còi, đặt câu hỏi…

-         (+/-) Tỏ ra có nghe, nhưng quay nhìn nơi khác,

-         (-) Bất động, không có phản ứng.

5.- Nghe, hướng về tiếng phách

TM số 35 và 36: Tiếng “Phách gõ nhịp”

Dụng cụ: Một cái “phách”, dùng để gõ nhịp và phát ra âm thanh “lách cách” (claquette trong tiếng Pháp, và clack trong tiếng Anh).

Cách làm:

-         Trẻ em đang chơi hay là còn chăm chú vào một chuyện riêng tư,

-         Người lớn cầm cái lách, giấu ở dưới bàn làm việc, và gây ra âm thanh lách cách khá mạnh,

-         Trong khi làm như vậy, quan sát thái độ và ghi nhận phản ứng bên ngoài của trẻ em.

Địa hạt:

-         TM số 35: Nhận thức thính giác,

-         *TM số 36: Hành vi, phản ứng xúc động của trẻ em đối với kích thích giác quan (Gq).

Chấm điểm:

TM số 35

-         (+) Lắng nghe, quay về hướng của âm thanh,

-         (+/-) Có dấu hiệu nghe, nhưng không có thái độ hướng quay về phía âm thanh,

-         (-) Không có phản ứng khách quan bên ngoài.

6.- Trả lời bằng cử điệu

 TM số 59: Trước những điệu bộ (ngôn ngữ không lời)

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Làm điệu bộ như bảo trẻ em lại gần, đi ra mở cửa, lượm lên một đồ vật, ngồi xuống, đứng lên…

-         Tuyệt đối không dùng lời nói,

-         Quan sát phản ứng và cách nhận thức của trẻ em.

Địa hạt: Nhận thức về mặt thị giác.

Chấm điểm:

-         (+) Hiểu và trả lời một cách đứng đắn,

-         (+/-) Với điệu bộ nầy thì trả lời, với điệu bộ khác thì không…

-         (-) Không trả lời.

7.- Nhìn sách có hình

TM số 120 : Thích nhìn một cuốn tập hay sách có hình ảnh

Dụng cụ : Một cuốn tập hay sách về ngôn ngữ có nhiều hình ảnh.

Cách làm :

-         Để cuốn sách trước mặt trẻ em,

-         Quan sát và ghi nhận trẻ em có phản ứng gì, đối với cuốn sách ?

Địa hạt : Nhận thức về thị giác.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em mở sách, nhìn hình, lật các trang sách, tỏ ra thích thú, lưu tâm…

-         (+/-) Chỉ mở sách, lật qua lật lại, không nhìn các hình ảnh,

-         (-) Không mở sách ra.

8.-Phân biệt Mắt chính và phụ

TM số 7: Phân biệt mắt Trái và mắt Phải

Dụng cụ: Ống nhìn vạn sắc giống như trong TM số 6.

Cách làm: Quan sát một cách kỹ càng,

-         Trẻ em nhìn với con mắt nào một cách ổn định?

-         Hay là nhìn một cách lộn xộn, khi bên mặt, khi bên trái.

-         Nếu cần, chứng minh lại thêm một lần.

Địa hạt: Nhận thức thị giác.

Chấm điểm:

-         (+) Phân biệt cách rõ ràng và ổn định mắt trái và mắt phải,

-         (+/-) Luôn luôn bắt đầu với một bên, nhưng lại chuyển qua bên kia. Cách phân biệt chưa hoàn toàn ổn cố,

        -  (-) Khi thì dùng mắt nầy, khi thì dùng mắt khác, không có phân biệt trái và mặt.

9.- Phân biệt Lớn và Nhỏ

TM số 25 và 26 : Lắp ráp ba hình giống nhau, những có 3 cỡ lớn nhỏ khác nhau

Dụng cụ :

-         Một khung lắp ráp,

-         Hình của 3 chiếc găng tay có 3 cỡ khác nhau.

Cách làm :

-         Đặt trước mặt trẻ em một tấm khung và 3 hình bao tay có 3 cỡ khác nhau,

-         Tránh để gần nhau một hình thể với vị trí thích hợp của nó, trên bản khung,

-         Nếu sau một lúc, trẻ em không biết phải làm gì, người lớn có thể chứng minh cho trẻ em thấy cách làm,

-         Sau khi trình bày xong, lấy các hình thể ra khỏi bản khung và đặt lại chỗ cũ,

-         Bảo trẻ em :  « Hãy làm như thầy (cô) vừa mới làm ».

Địa hạt :

-         TM số 25 : Nhận thức thị giác,

-         TM số 26 : Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm : 2 lần khác nhau cho 2 số 25 và 26,

-         (+) Dùng tay chỉ đúng cả 3 vị trí cho 3 hình khác nhau, mặc dù không lắp ráp (TM số 25 : Nhận thức thị giác),

-         (+) Lắp ráp đúng cả 3 hình vào vị trí thích hợp (TM số 26 : Phối hợp mắt và tay),

-         (+/-) Đưa tay chỉ đúng hay là lắp ráp đúng một hình mà thôi, sau khi có chứng minh,

-         (-) Không chỉ, không làm, mặc dù người lớn đã chứng minh cách làm.

10.- Lắp ráp đúng chỗ

TM số 19 và 20 : Kết ráp các hình thể vào bản « khuôn »

Dụng cụ :

-         Ba hình Tròn, Vuông và Tam giác

-         Một bản gỗ có khoét lõm 3 hình tương tự.

Cách làm :

-         Đặt bản « khuôn » hay là « khung » trước mặt trẻ em,

-         Phía bên mặt của trẻ em, để lẫn lộn 3 hình tròn, vuông và tam giác, không theo thứ tự như trên bản khuôn,

-         Bảo trẻ em : « Tìm hình và ráp vào cho đúng ».

Địa hạt :

-         TM số 19 : Nhận thức thị giác,

-         TM số 20 : Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm :

-         (+) Kết ráp đúng hình nào vào khuôn nấy,

-         (+/-) Có làm và thử làm, nhưng không có kết quả,

-         (-) Không làm và không thử.

11.- Xếp theo màu

TM số 32: Xếp lại với nhau theo tiêu chuẩn Màu Sắc, hai vật thể khác nhau như hình khối và đĩa

Dụng cụ:

-         Năm hình khối có 5 màu khác nhau như: vàng, đỏ, xanh da trời, xanh lá cây, trắng,

-         Năm đĩa tròn bằng giấy cứng, cũng có 5 màu tương tự như trên.

Cách làm:

-         Khởi đầu với 3 khối và 3 đĩa. Để các đĩa trước mặt trẻ em,

-         Chỉ trao cho trẻ em một hình khối mà thôi, và bảo: “Hãy đặt để hình khối trên đĩa nào thích hợp”,

-         Nếu trẻ em tỏ ra không hiểu, hãy chứng minh cách làm, một lần, với 3 khối,

-         Sau đó, làm lại như từ đầu với trẻ em. Mỗi lần, chỉ trao cho trẻ em một khối vuông mà thôi,

-         Khi trẻ em đã làm xong với 3 khối, chỉ giữ lại 1 đĩa và 1 khối đã dùng,

-         Cất 2 khối và 2 đĩa kia đi,

-         Đem ra 2 đĩa và 2 màu khác chưa dùng,

-         Lần nầy cũng vậy, đưa cho trẻ em một khối, và yêu cầu trẻ em đặt khối vuông lên trên đĩa tròn nào thích hợp.

Địa hạt: Nhận thức về thị giác.

Chấm điểm:

-         (+) Làm đúng với 5 khối, không cần chứng minh trước,

-         (+/-) Làm được với 1 khối, hay là làm được, sau khi có chứng minh, mặc dù không thành tựu hoàn toàn,

-         (-) Không làm hay là không thử làm.

12.- Lắp ráp 4 đồ vật

TM số 23 : Kết ráp vào khung lõm 4 vật dụng

Dụng cụ :

-         Một tấm khung,

-         Bốn tấm hình : cái dù, con gà con, con bướm, trái lê.

Cách làm :

-         Đặt tấm khung trước mặt trẻ em,

-         Trao cho trẻ em một tấm hình, không cần theo một thứ tự nào. Bảo : « Em hãy lắp ráp vào đúng chỗ »,

-         Lặp lại lời yêu cầu với 3 tấm hình kia,

-         Nếu trẻ em bất động và tỏ ra không hiểu, hãy trình bày và chứng minh cách làm một cách cụ thể,

-         Sau đó, lấy ra khỏi tấm khung, tất cả 4 hình và bảo : « Bây giờ em làm đi ».

Địa hạt : Nhận thức bằng thị giác.

Chấm điểm :

-         (+) Làm đúng với tất cả 4 tấm hình,

-         (+/-) Làm đúng một tấm và cần có chứng minh,

-         (-) Không biết làm, dù được hướng dẫn.

13.- Tìm ra vật bị che giấu

TM số 108: Tìm ra chiếc kẹo được thu giấu

Dụng cụ:

-         Một chiếc kẹo,

-         Ba tấm khăn dày hay là 3 chiếc ly nhựa màu xám đục.

Cách làm:

-         Để 3 chiếc ly nhựa úp sấp thành một hàng ngang trước mặt trẻ em,

-         Trước mặt trẻ em, bạn làm những động tác: *để chiếc kẹo dưới chiếc ly ở giữa, **thay đổi chỗ qua lại 2 chiếc ly ở giữa và bên mặt,

-         Bảo trẻ em tìm chiếc kẹo,

-         Nếu trẻ không hiểu, bạn nâng cao chiếc ly bên mặt, để cho trẻ em thấy chiếc kẹo,

-         Sau đó, để chiếc kẹo lại ở giữa, và làm động tác thay đổi qua lại như trước,

-         Lần thứ hai, giấu kẹo ở bên trái và thay đổi ra giữa,

-         Lần thứ ba, giấu kẹo bên mặt và chuyển đổi qua bên trái.

Địa hạt: nhận thức thị giác.

Chấm điểm:

-         (+) Kết quả đúng 2/3,

-         (+/-) Kết quả đúng 1/3,

-         (-) Không tìm, ngồi yên.

III.- VẬN ĐỘNG TINH  (16 bài học)

1.- Tay ấn sâu vào đất sét

TM số 9: Đưa ngón tay ấn sâu vào đất sét

Dụng cụ: Đất sét công nghiệp.

Cách làm:

-         Trình bày trước một lần, cho trẻ em thấy: ấn sâu ngón tay vào đất sét,

-         Bảo trẻ em hãy làm giống như vậy.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Ấn mạnh, làm thành một lỗ,

-         (+/-) Có làm cử chỉ là đưa tay tiếp cận, nhưng không ấn mạnh, làm thành một lỗ,

-         (-) Không làm, không phác họa cử chỉ.

2.- Lấy hạt cườm ra khỏi trục

TM số 65: Lấy những hạt cườm ra khỏi một que gỗ

Dụng cụ:

-         6 hạt cườm vuông,

-         1 que gỗ nhỏ, dài chừng 25 cm.

Cách làm:

-         Bạn xâu những hạt cườm vuôn vào một que gỗ,

-         Trình bày cho trẻ em cách lấy những hạt cườm ra khỏi que gỗ. Lấy ra từng hạt một,

-         Trình bày xong, bảo trẻ em hãy làm như cách đã được chỉ dẫn,

-         Nếu trẻ em gặp khó khăn, một tay bạn giữ chặt một đầu que gỗ, tay kia hướng dẫn trẻ em lấy ra từng hạt cườm,

-         Chỉ dẫn xong bảo trẻ em hãy làm một mình.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em dùng 2 tay. Một tay giữ vững một đầu que gỗ. Tay kia lấy ra từng hạt cườm,

-         (+/-) Dùng chỉ một tay mà thôi. Hay là chỉ lấy ra được 1 hoặc 2 hạt cườm mà thôi,

-         (-) Không làm hay là làm không được.

3.- Cầm thanh gỗ nhỏ

TM số 10: Cầm một que gỗ nhỏ

Dụng cụ : Đất sét công nghiệp và 6 que gỗ hay là đũa nhỏ.

Cách làm :

-         Trải đất sét thành một tấm bánh sinh nhật,

-         Bảo trẻ em thêm vào những cây nến,

-         Người lớn lấy một que gỗ cắm lên trên, và đưa cho trẻ em một que gỗ khác,

-         Nếu trẻ em vẫn không làm theo chúng ta, hãy lấy tất cả que gỗ còn lại và cắm lên trên mặt đất sét,

-         Bảo trẻ em hãy rút những que gỗ ra.

Địa hạt : Vận động tinh.

Chấm điểm :

-         (+) Cầm que gỗ với 2 hoặc 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa), để cắm vào hoặc rút ra,

-         (+/-) Cầm với cả bàn tay.

-         (-) Không làm.

4.- Mở và đóng công tắc điện

Chấm điểm : TM số 119 : Mở và tắt đèn điện

Dụng cụ : Công tắc điện.

Cách làm :

-         Nếu đã có điện sáng trong phòng, bảo trẻ em : « Em đi tắt điện giùm cho thầy »,

-         Nếu chưa có điện, bảo trẻ em : « Em đi mở điện cho sáng »,

-         Chứng minh đớng và mở một lần, nếu trẻ em bất động.

Địa hạt : Vận động tinh.

 

-         (+) Trẻ em biết mở và đóng công tắc điện,

-         (+/-) Thử làm nhưng thiếu sức mạnh hay là cần chứng minh,

-         (-) Không làm được.

5.- Thả rơi một khối vào bình

TM số 99: Thả rơi một khối vuông vào trong một bình trong suốt hoặc bằng nhựa, hoặc bằng thủy tinh

Dụng cụ:

-         6 khối vuông,

-         Một bình nhựa trong hay thủy tinh.

Cách làm:

-         Chính người lớn làm một lần cho trẻ em thấy,

-         Sau đó, để trước mặt trẻ em một khối vuông,

-         Bảo trẻ em: “Hãy cầm khối vuông và thả rơi vào trong bình.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em làm đúng 1 lần,

-         (+/-) Trẻ em cố gắng làm, nhưng khối vuông vẫn rơi ra ngoài,

-         (-) Không thả rơi, không cầm lên.

6.- Xâu hạt cườm vào trụ

TM số 66: Xâu những hạt cườm vào một trụ đứng thẳng, cắm chặt vào một cái đế

Dụng cụ:

-         Một que gỗ,

-         Một cái đế nhằm giữ que gỗ đứng thẳng,

-         6 hạt cườm vuông.

Cách làm:

-         Bạn cắm chặt que gỗ vào một đế tròn,

-         Trình bày cho trẻ em cách xâu từng hạt cườm vào trục thẳng,

-         Trình bày xong, đưa cho trẻ em một hạt cườm. Một tay, bạn giữ chặt que gỗ đứng thẳng,

-         Sau đó, bạn không còn giữ chặt que gỗ. Đưa cho trẻ em từng hạt cườm, để trẻ em xâu vào trục thẳng.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em xâu được ít nhất 3 hạt, không cần người lớn giúp đỡ,

-         (+/-) Chỉ xâu được một hạt, hay là cần người lớn giúp đỡ mới xâu được,

-         (-) Không muốn hay là không làm được, mặc dù người lớn giữ vững trục gỗ đứng thẳng.

 7.- Cầm với 2 ngón tay cái và trỏ

TM số 109: Dùng hai ngón tay trỏ và cái, để cầm chiếc kẹo

Dụng cụ: Một chiếc kẹo.

Cách làm:

-         Mở bàn tay, đưa cho trẻ em chiếc kẹo,

-         Quan sát kỹ cách trẻ em cầm lấy chiếc kẹo.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Kẹp chiếc kẹo với 2 ngón tay cái và trỏ,

-         (+/-) Cầm lấy chiếc kẹo với 3 ngón tay cái, trỏ và giữa,

-         (-) Cầm chiếc kẹo với cả 5 ngón hay là cả bàn tay.

8.- Phối hợp 2 tay với nhau

TM số 67: Phối hợp hai tay với nhau

Dụng cụ:

-         Hạt cườm và sợi dây,

-         Giấy để vẽ và bút chì màu,

-         Kéo và giấy.

Cách làm:

-         Yêu câu trẻ em: * Xâu cườm, ** Dùng kéo cắt giấy, *** Dùng bút để tô màu,

-         Quan sát và ghi nhận cách trẻ em phối hợp 2 tay với nhau thế nào.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Dùng cả 2 tay, biết phối hợp,

-         (+/-) Dùng cả 2 tay, nhưng thiếu phối hợp một cách nhịp nhàng,

-         (-) Không biết và không thử.

9.- Mở và đóng nắp chai

TM số 1 :  Vặn náp chai : đóng và mở

Dụng cụ : Bình hay chai đựng nước xà phòng.

Cách làm :

-         Đặt chai nước xà phòng trên bàn, trước mặt trẻ em, và nói : « Chúng ta thổi bọt xà phòng ».

-         Xích chai nước lại gần trẻ em và quan sát. Đoạn nói với trẻ em : « Em vặn nắp ra đi ».

-         Nếu trẻ em vẫn không biết làm, chúng ta hãy trình bày cách làm. Trình bày xong, vặn nắp lại và bảo trẻ em hãy làm như vậy.

Địa hạt khảo sát : Vận động tinh.

Cách chấm điểm :

-         (+) Hiểu và làm được một mình,

-         (+/-) Thử làm nhưng không thành công, trẻ em có cử chỉ cầm nắp chai và tìm cách vặn ra,

-         (-) Không có cử chỉ và không thử làm.

10.- Thổi làm bọt xà phòng

TM số 2 : Thổi và làm ra bọt xà phòng

Dụng cụ : Đồ đựng nước xà phòng và chiếc vòng.

Cách làm :

-         Người lớn trình bày cách làm, 

-         Đưa chiếc vòng cho trẻ em, 

-         Bảo trẻ em: « Em làm đi ».

Địa hạt khảo sát: Vận động tinh.

Cách chấm điểm:

-         (+) Trẻ em hiểu và làm được,

-         (+/-) Không làm được, nhưng phác họa cử chỉ: đưa chiếc vòng lên miệng và thổi,

-         (-) Thất bại, không có cử chỉ cần thiết.

 11.- Xâu hạt cườm

TM số 63: Xâu hạt cườm

Dụng cụ:

-         Hai hạt cườm,

-         Một sợi dây có thắt nút ở một đầu.

Cách làm:

-         Đặt để 2 hạt cườm và sợi dây trước mặt trẻ em,

-         Bảo trẻ em: “Em hãy xâu  hạt cườm đi”,

-         Sau một chốc lát, nếu trẻ em không làm gì, người lớn trình bày cách làm cho trẻ em.

-         Sau đó, bảo trẻ em: “Em hãy xâu hạt cườm, như thầy vừa làm”.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em xâu được ít nhất 1 hạt, cách dễ dàng,

-         (+/-) Xâu và hiểu phải làm gì. Nhưng làm một cách rất khó và lâu,

-         (-) Không làm, không biết cách.

12.- Nhận ra đồ vật bằng tay

TM số 87 : Dùng tay tiếp cận và nhận biết những vật dụng quen thuộc

Dụng cụ :

-         Một bao vải khá rộng,

-         Năm vật dụng quen thuộc : * cây bút chì, * khối vuông, * bút màu có nắp đậy, * quả banh nhỏ, * một chiếc vòng hay một đồng tiền kẽm.

Cách làm :

-         Bỏ vào bao 5 vật liệu trên đây,

-         Bảo trẻ em đưa tay vào trong bao tìm vật dụng mà bạn gọi tên, không nhìn vào trong bao,

-         Bỏ vào lại vật dụng mà trẻ em vừa lấy ra, trước khi yêu cầu trẻ em tìm một đồ vật khác,

-         Nếu trẻ em gặp khó khăn, không hiểu…bạn có thể dùng những vật dụng cụ thể khác, y hệt như các vật dụng trong bao, đưa ra trước mắt trẻ em.

-         Ví dụ : « Em hãy lấy ra một quả banh giống như quả banh nầy ».

Địa hạt : Vận động tinh.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em lấy ra đúng 4 vật dụng,

-         (+/-) Lấy ra đúng 1 vật,

-         (-) Không lấy ra đúng vật nào cả.

13.- Dùng kéo cắt giấy

TM số 86 : Dùng kéo cắt giấy

Dụng cụ : Giấy và kéo.

Cách làm :

-         Bạn dùng kéo cắt giấy ra thành từng mảnh…

-         Bảo trẻ em : « Em hãy dùng kéo cắt giấy ra, như thầy vừa làm ».

Địa hạt : Vận động tinh.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em cầm kéo một cách đứng đắn và cắt giấy thành vài mảnh,

-         (+/-) Cố gắng cầm kéo lên, nhưng không cắt được,

-         (-) Không làm.

14.- Nắn chiếc bát với đất sét

TM số 12: Dùng đất sét làm một cái bát

Dụng cụ: Đất sét.

Cách làm: Chứng minh cách làm và bảo trẻ em làm theo.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em làm được một kết quả tương tự,

-         (+/-) Làm được một kết quả, cho dù không giống một cái bát,

-         (-) Không làm.

15.- Dùng ngón tay cái đụng các ngón khác

TM số 42: Dùng ngón tay cái đụng đến đầu 4 ngón tay khác thuộc cùng một bàn tay

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Đứng bên cạnh trẻ em và cùng nhìn về một hướng như trẻ em,

-         Yêu cầu trẻ em chú ý nhìn kỹ cách bạn làm,

-         Bạn đưa tay lên phía trước trẻ em, lòng bàn tay quay về phía trẻ em,

-         Tách rời 5 ngón tay ra và tạo ra những khoảng cách rõ ràng giữa từng 2 ngón,

-         Lấy ngón tay cái đụng đến đầu của 4 ngón kia,

-         Làm theo thứ tự: ngón tay trỏ, ngón tay giữa, ngón tay đeo nhẫn, ngón tay út.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

-         (+) Làm được tất cả theo thứ tự,

-         (+/-) Dùng ngón tay cái đụng được 1 trong 4 ngón kia,

-         (-) Có nhúc nhích các ngón tay, nhưng không đụng đến ngón nào. Hay là không làm gì cả.

16.- Vẽ hình người

TM số 84 : Vẽ hình người

Dụng cụ : Giấy và bút màu.

-         « Em hãy vẽ một hình người, hay là hình một đứa con trai (con gái),

-         Chứng minh cách làm, nếu trẻ em không biết làm. Tuy nhiên, hãy tránh cách trình bày với những đường, những gạch thẳng…

Địa hạt : Vận động tinh.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em vẽ được hình người, có những phần như : đầu, thân mình và tay, chân. Trên phần đầu, có thêm ít nhất 1 chi tiết trình bày về mắt, mũi, miệng hoặc tóc.

-         (+/-) Vẽ một hình người còn thiếu nhiều phần…

-         (-) Không làm gì cả.

 IV.- VẬN ĐỘNG THÔ (18 bài học)

1.- Cầm banh trong 2 tay

TM số 47 : Cầm trái banh trong 2 tay và bước tới

Dụng cụ : Trái banh loại nhẹ.

Cách làm :

-         Giữa lúc trẻ em đang chơi, người lớn yêu cầu trẻ em mang trái banh đến cho mình,

-         Hay là bảo trẻ em mang trái banh bỏ vào giỏ,

-         Quan sát cách trẻ em cầm trái banh và đi.

Địa hạt : Vận động thô.

Chấm điểm :

-         (+) Cầm trái banh trong 2 tay và đi tới được 4 bước, mà không làm rơi xuống đất,

-         (+/-) Đi được chừng 2 bước và đánh rơi quả banh xuống đất,

-         (-) Không thể vừa cầm trái banh vừa đi tới.

-         N.B. Trong TM số 37, nếu đã chấm điểm (-) không đi được một mình, thì trong TM số 47 nầy, cũng chấm điểm (-).

 2.- Lấy tay đẩy trái banh lăn tới trước

TM số 48: Đưa tay đẩy trái banh lăn tới một hướng

Dụng cụ: Một trái banh loại nhẹ.

Cách làm:

-         Cùng ngồi trệt xuống trên sàn nhà với trẻ em,

-         Yêu cầu trẻ em đưa tay đẩy quả banh lăn tới một hướng nhất định.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Cố ý đẩy lăn trái banh về một hướng và thành tựu,

-         (+/-) Chỉ biết đẩy tới, nhưng không theo đúng hướng,

-         (-) Không làm được.

-         N.B. Nếu trong TM số 44 có điểm (+), ở trong TM số 48 nầy cũng tự nhiên sẽ có điểm (+).

3.- Ngồi thẳng lưng trên ghế dựa

TM số 50: Ngồi trên một ghế dựa

Dụng cụ: Ghế dựa có chiều cao thích hợp với tầm của trẻ em.

Cách làm: Quan sát cách trẻ em ngồi, trong suốt thời gian lượng giá.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Ngồi không cần có người giúp,

-         (+/-) Cần có người giúp,

-         (-) Không ngồi được.

4.- Đi một mình, không cần vịn tay vào đâu cả

TM số 37: Biết bước đi một mình (dành cho trẻ nhỏ)

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Đặt trẻ em ở thế đứng,

-         Khích lệ trẻ em bước tới một mình, không bám víu, không dựa vào vào một điểm tựa.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Đi một mình, không vịn tay vào đâu cả,

-         (+/-) Đi nhưng cần nắm tay người khác,

-         (-) Không đi, hay chỉ đi khi được người lớn cầm cả 2 tay.

5.- Chuyển từ tay này qua tay kia

TM số 68: Chuyển vật dụng từ tay nầy qua tay kia

Dụng cụ:

-         Trò chơi lắp ráp,

-         Xâu hạt cườm vào sợi dây…

Cách làm: Quan sát cách làm của trẻ em, có chuyển các vật dụng từ tay nầy qua tay khác không?

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Chuyển từ tay nầy qua tay khác một cách dễ dàng,

-         (+/-) Có chuyển nhưng với nhiều khó khăn,

-         (-) Không thể và không thử làm.

6.- Cầm ly uống

TM số 60: Cầm ly uống

Dụng cụ:

-         Một ly nhựa,

-         Đồ uống mà trẻ em yêu chuộng.

Cách làm:

-         Rót đồ uống vào ly,

-         Đặt ly nước trên bàn, trước mặt trẻ em,

-         Bảo trẻ em: “ Em hãy uống đi”,

-         Khi trẻ em uống, quan sát cách trẻ em cầm ly.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em cầm ly nước và uống, không làm đổ nước ra ngoài, không sùi bọt mép. Cầm ly với các ngón tay, một bên là ngón tay cái, bên kia là các ngón khác,

-         (+/-) Cầm ly trong lòng bàn tay, vừa uống, vừa đổ nước ra ngoài,

-         (-) Không thể một mình cầm ly và uống.

7.- Ném banh

TM số 44 : Ném banh trả lại

Dụng cụ :

Một trái banh nhẹ như trong TM số 43.

Cách làm : Trong TM 43, quan sát cách thức trẻ em ném trái banh trả lại cho người lớn.

Địa hạt : Vận động thô.

Chấm điểm :

-         (+) Ném trả lại được 1 lần,

-         (+/-) Ném qua chỗ khác, hay là làm rơi khỏi tay,

-         (-) Không tìm cách ném trả lại.

8.- Ngồi ghế trệt có 4 bánh xe, dùng chân di động

TM số 51: Ngồi và di chuyển trên một chiếc ghế trệt có 4 bánh xe nhỏ

Dụng cụ: Chiếc ghế trệt có 4 bánh xe.

Cách làm:Yêu cầu trẻ em ngồi và dùng chân đẩy mạnh, để di chuyển từ chỗ nầy qua chỗ khác.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Biết dùng chân để di chuyển, đẩy lui đẩy tới, đẩy qua bên nầy bên kia,

-         (+/-) Biết dùng chân đẩy lui tới, nhưng không biết vừa ngồi, vừa di chuyển,

-         (-) Không ngồi và không làm cử động đưa chân đẩy mạnh.

9.- Đưa tay vượt qua đường giữa

TM số 24 : Vượt qua đường ở giữa

Dụng cụ :

-         Dùng lại 4 tấm hình và khung lắp ráp trong TM số 23.

-         Nếu trẻ em thất bại trong TM 23, hãy sáng tạo cách làm tương tự sau đây, với một dụng cụ khác.

Cách làm :

-         Để 2 hình cái dù và con gà con, phía bên tay trái của trẻ em, để trẻ em đưa tay qua bên trái lấy hình và lắp ráp ở bên mặt,

-         Để 2 hình con bướm và trái lê ở bên mặt.

Địa hạt : Vận động thô.

Chấm điểm :

-         (+) Vượt qua đường ở giữa nhiều lần,

-         (+/-) Chỉ vượt qua 1 lần,

-         (-) Không vượt qua được.

10.- Chụm chân nhảy tới

TM số 40: Chụm hai chân lại và nhảy tới trước

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Chứng minh cách làm cho trẻ em thấy,

-         Bảo trẻ em hãy làm giống như bạn vừa làm.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Vừa biết chụm 2 chân lại với nhau, vừa biết nhảy tới trước, không tách hai chân ra,

-         (+/-) Tìm cách bắt chước, nhưng không biết nhảy, hay là nhảy mà không chụm chân lại,

-         (-) Không nhảy và không dám nhảy.

11.- Vỗ 2 tay

TM số 38: Vỗ tay

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Bạn vỗ tay nhiều lần trước mặt trẻ em,

-         Tìm cách gây chú ý, để trẻ em nhìn vào bạn,

-         Bảo trẻ em cùng làm.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em vỗ tay nhiều lần,

-         (+/-) Chỉ phác họa cử chỉ,

-         (-) Không làm gì cả.

12.- Phân biệt tay Mạnh va tay Yếu

TM số 72: Tay nào mạnh?

             Tay trái hay tay mặt?

Dụng cụ: Chú ý quan sát và ghi nhận cách làm của trẻ em, trong các TM từ số 73 đến số 79.

Cách làm:

-         Quan sát và ghi nhận: Trẻ em làm với tay nào?

-         Làm thế nào, cố định hay là thay đổi tay từ trang giấy nầy qua trang giấy khác?

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em có tay mạnh, có tay yếu, một cách rõ ràng,

-         (+/-) Không rõ ràng, không ổn định, tùy bên nào tiện cho mình,

-         (-) Không làm gì cả.

13.- Đưa chân đá vào trái banh

TM số 45 : Đưa chân đá mạnh vào quả banh

Dụng cụ : Quả banh loại nhẹ.

Cách làm :

-         Bảo trẻ em hãy nhìn kỹ cách làm của bạn,

-   Bạn đưa chân đá mạnh quả banh,

-         Chuyền quả banh qua cho trẻ em, và bảo trẻ em làm y như bạn,

-          Yêu cầu trẻ em làm lui tới 3 lần.

Địa hạt : Vận động thô.

Chấm điểm :

-         (+) Làm được 1 lần trong 3,

-         (+/-) Có thử làm, nhưng chỉ đưa chân đụng nhẹ, thay vì đá mạnh,

-         (-) Không thử làm.

14.- Đứng thẳng trên một chân

TM số 39: Đứng vững trên một chân

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Người lớn làm mẫu trước cho trẻ em thấy,

-         Yêu cầu trẻ em: “Hãy làm giống hệt như thầy”,

-         Nếu trẻ em mất quân bình, sẵn sàng đưa tay nâng đỡ.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Đứng vững trên một chân, trong vòng 2 giây,

-         (+/-) Tìm cách đưa chân lên, nhưng cần tay bạn nâng đỡ, để khỏi té ngã,

-         (-) Không đưa chân lên, không hiểu.

15.- Phân biệt chân Chính và chân Phụ

TM số 46 : Dùng chân phải hay trái ?

Dụng cụ :

-         Quả banh loại nhẹ,

-         Hay là cầu thang.

Cách làm :

-         Trong TM số 45, quan sát trẻ em luôn luôn dùng chân nào để đá mạnh vào quả banh,

-         Hay là khi bước lên cầu thang, trẻ em bắt đầu dùng chân nào ?

Địa hạt : Vận động thô.

Chấm điểm :

-         (+) Phân biệt một cách rõ ràng chân nào mạnh, chân nào yếu,

-         (+/-) Bắt đầu phân biệt nhưng chưa ổn định,

-         (-) Không phân biệt.

16.- Đón bắt quả banh

TM số 43: Đón bắt quả banh nhẹ có đường kính 20-25 cm

Dụng cụ: Quả banh.

Cách làm:

-         Yêu cầu trẻ em cùng đứng lên với bạn,

-         Bạn làm dấu sẽ ném quả banh qua cho trẻ em,

-         Bạn đi xa một khoảng cách chừng 1 mét và ném trái banh cho trẻ em,

-         Quan sát trẻ em đón bắt trái banh làm sao,

-         Yêu cầu trẻ em ném trái banh lại cho bạn,

-         Ném qua ném lại 3 lần.

Địa hạt : Vận động thô.

Chấm điểm :

-         (+) Đón bắt được quả banh, 1 trong 3 lần,

-         (+/-) Có cử chỉ đón bắt, nhưng để banh rơi khỏi tay,

-         (-) Không tìm cách đón bắt.

17.- Đu đưa sợi giây có xâu hạt cườm

TM số 64: Cầm sợi dây với 2 hạt cườm, đu đưa qua lại

Dụng cụ: như trong TM số 63.

Cách làm:

-         Chính người lớn lấy dây xâu vào 2 hạt cườm,

-         Đứng dậy, cầm sợi dây có cườm, đu đưa qua lại,

-         Sau đó, trao dây có 2 hạt cườm cho trẻ em.

-         Bảo trẻ em: “Em hãy làm giống như thầy vừa làm”.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em biết đu đưa qua lại,

-         (+/-) Làm vài cử động, nhưng không biết đu đưa qua lại,

-         (-) Không làm, không thử.

18.- Đi lên các cấp thang, mỗi chân một cấp

TM số 49: Đi lên cầu thang, bước mỗi chân một cấp

Dụng cụ: Cầu thang không có tay vịn.

Cách làm:

-         Dẫn trẻ em đến trước một cầu thang,

-         Trình bày cho trẻ em thấy phải đi lên như thế nào,

-         Yêu cầu trẻ em: “Hãy làm y như thầy đã bảo”,

-         Nếu trẻ em gặp khó khăn, đưa tay ra nâng đỡ, để trẻ em khỏi té nhào lui đằng sau.

Địa hạt: Vận động thô.

Chấm điểm:

-         (+)  Đi lên cầu thang và đặt mỗi chân trên một cấp,

-         (+/-) Đi lên, nhưng đưa tay cầm lấy tay người lớn, hay là đặt cả 2 chân lên từng mỗi cấp,

-         (-) Không làm được hay là bò lên.

-         N.B. Nếu trong TM số 37, chấm điểm (-) không thể bước đi một mình, thì ở đây, trong TM số 49, cũng chấm điểm (-).

 V.- PHỐI HỢP MẮT VÀ TAY (15 bài học)

1.- Vẽ nguệch ngoạc tự do

TM số 71 : Vẽ tự do, theo ý của mình

Dụng cụ: Giấy và bút màu ( loại phớt).

Cách làm:

-         Trao cho trẻ em giấy và bút màu,

-         Bảo trẻ em vẽ tự do: “Em muốn vẽ gì thi vẽ, tùy ý em”,

-         Nếu trẻ em vẫn giữ tư thế bất động, người lớn vẽ nguệch ngoạc trước, trên một tờ giấy, để cho trẻ em thấy và bắt chước.

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em vẽ, gạch, làm bất cứ cái gì, miễn là để lại một dấu vết trên trang giấy,

-         (+/-) Trẻ em cần có người lớn trình bày trước, mới bắt chước,

-         (-) Không làm, mặc dù người lớn đã làm trước.

2.- Lắp ráp 3 hình có 3 cỡ khác nhau

TM số 25 và 26 : Lắp ráp ba hình giống nhau, nhưng có 3 cỡ lớn nhỏ khác nhau

Dụng cụ :

-         Một khung lắp ráp,

-         Hình của 3 chiếc găng tay có 3 cỡ khác nhau.

Cách làm :

-         Đặt trước mặt trẻ em một tấm khung và 3 hình bao tay có 3 cỡ khác nhau,

-         Tránh để gần nhau một hình thể với vị trí thích hợp của nó, trên bản khung,

-         Nếu sau một lúc, trẻ em không biết phải làm gì, người lớn có thể chứng minh cho trẻ em thấy cách làm,

-         Sau khi trình bày xong, lấy các hình thể ra khỏi bản khung và đặt lại chỗ cũ,

-         Bảo trẻ em :  « Hãy làm như thầy (cô) vừa mới làm ».

Địa hạt :

-         TM số 25 : Nhận thức thị giác,

-         TM số 26 : Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm : 2 lần khác nhau cho 2 số 25 và 26,

-         (+) Dùng tay chỉ đúng cả 3 vị trí cho 3 hình khác nhau, mặc dù không lắp ráp (TM số 25 : Nhận thức thị giác),

-         (+) Lắp ráp đúng cả 3 hình vào vị trí thích hợp (TM số 26 : Phối hợp mắt và tay),

-         (+/-) Đưa tay chỉ đúng hay là lắp ráp đúng một hình mà thôi, sau khi có chứng minh,

-         (-) Không chỉ, không làm, mặc dù người lớn đã chứng minh cách làm.

3.- Lắp ráp 3 hình khác nhau

TM số 19 và 20 : Kết ráp các hình thể vào bản « khuôn »

Dụng cụ :

-         Ba hình Tròn, Vuông và Tam giác

-         Một bản gỗ có khoét lõm 3 hình tương tự.

Cách làm :

-         Đặt bản « khuôn » hay là « khung » trước mặt trẻ em,

-         Phía bên mặt của trẻ em, để lẫn lộn 3 hình tròn, vuông và tam giác, không theo thứ tự như trên bản khuôn,

-         Bảo trẻ em : « Tìm hình và ráp vào cho đúng ».

Địa hạt :

-         TM số 19 : Nhận thức thị giác,

-         TM số 20 : Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm :

-         (+) Kết ráp đúng hình nào vào khuôn nấy,

-         (+/-) Có làm và thử làm, nhưng không có kết quả,

-         (-) Không làm và không thử.

4.- Sắp lại các khối vào hộp

TM số 94: Bỏ lại các khối vuông vào hộp

Dụng cụ:  Các khối vuông và 1 hộp.

Cách làm:

-         Sau TM số 93, để thêm trên bàn một chiếc hộp,

-         Yêu cầu trẻ em sắp xếp các khối vuông vào hộp,

-         Nếu trẻ em không hiểu, chứng minh một lần với 2 khối vuông, và bảo trẻ em làm lại từ đầu.

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

   -(+) Trẻ em bỏ được 1 khối vào hộp,

   - (+/-) Tìm cách bỏ, nhưng quá vụng về trong địa hạt phối hợp tay mắt, cho nên trẻ em làm không được,

   (-) Không làm.

5.- Chồng các khối lên trên nhau

TM số 93: Sắp xếp các khối vuông chồng lên nhau

Dụng cụ: 12 khối vuông.

Cách làm:

-         Đặt để 12 khối vuông trên bàn, trước mặt trẻ em,

-         Trình bày cho trẻ em thấy phải sắp chồng các khối vuông lên trên nhau,

-         Sau đó, lấy từng khối xuống và bỏ rải rác khắp đó đây, trong tầm tay của trẻ em,

-         Bảo trẻ em: “Hãy làm như thầy đã làm”,

-         Yêu cầu trẻ em làm 3 lần, mỗi lần dùng ít nhất 8 khối vuông, trên tổng số 12 khối.

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trong 3 lần ít nhất 1 lần, trẻ em sắp chồng lên được 8 khối trên nhau, mà không làm rơi,

-         (+/-) Chồng lên trên nhau được 3 khối. Hay là chồng lên được nhiều khối hơn, nhưng các khối không đứng vững, rơi xuống…

-         (-) Không làm. Hay là không chồng được 2 khối lên trên nhau.

6.-Sắp đúng các chữ cái

TM số 80: Đặt các chữ hoa vào các ô trên bản mẫu

Dụng cụ: 9 chữ cái hay chữ hoa: H, I, V, D, U, E, Y, S, G.

Cách làm:

-         Đặt trước mặt trẻ em bản mẫu có 9 chữ hoa trên đây,

-         Đưa cho trẻ em chữ S, và yêu câu trẻ em đặt chữ S vào đúng ô của mình,

-         Nếu trẻ em gặp khó khăn, trình bày cách làm với chữ S,

-         Sau khi trình bày, lấy lại chữ S, và bảo trẻ em đặt lại chữ S vào đúng ô của mình,

-         Lần lượt bảo trẻ em làm với các chữ khác. Mỗi lần, chỉ đưa cho trẻ em 1 chữ mà thôi.

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em làm đúng với tất cả 9 chữ,

-         (+/-) Chỉ làm đúng ít nhất 2 chữ,

-         (-) Không làm được với bất cứ chữ nào.

7.- Chép lại hình tròn

TM số 74: Sao chép hình tròn

Dụng cụ, cách làm : giống như TM số 73.

Địa hạt: Phối hợp Mắt và Tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em vẽ được một hình tương đối tròn gồm có đường cong và đóng lại, sau 3 lần sao chép, không cần có người lớn chứng minh trước,

-         (+/-) Làm nhưng không vẽ được một hình đóng. Hay là chỉ làm sau khi người lớn trình bày cách làm,

-         (-) Không làm.

8.- Đồ lại trên các cạnh

TM số 79: Dùng bút màu đồ lại các cạnh của 4 hình

Dụng cụ: Bản sao của 4 hình trên đây: tròn, vuông, tam giác và hình thoi.

Cách làm:

-         Bảo trẻ em lấy bút đồ lại trên các cạnh,

-         Chứng minh cách làm, nếu trẻ em không hiểu phải làm gì.

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Biết dùng bút đồ lên trên các cạnh, hay là dùng ngón tay trỏ lướt lên trên các cạnh,

-         (+/-) Biết làm, nhưng cần người lớn chỉ dẫn,

-         (-) Không biết và không thử làm.

9.- Lắp ráp hình con mèo

TM số 29 và 30: Lắp ráp hình con mèo

Dụng cụ: Hình con mèo có 4 mảnh khác nhau.

Cách làm:

-         Để 4 mảnh hình con mèo một cách lộn xộn, tách rời khỏi nhau ở 4 vị trí, trước mặt trẻ em,

-         Bảo trẻ em: “Em hãy ghép lại với nhau”,

-         Sau một lúc, nếu trẻ em vẫn bất động, người lớn chứng minh cho trẻ em cách làm,

-         Đoạn bảo trẻ em: “Hãy làm giống như thầy vừa làm”.

Địa hạt:

-         TM số 29: Khả năng Tư duy,

-         TM số 30: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Biết ghép lại 4 mảnh thành hình con mèo, không cần người lớn chứng minh trước,

-         (+/-) Ghép lại 2 hình với nhau, hay là cần có người lớn chỉ bày cách làm, mới làm,

-         (-) Không làm và không thử làm.

10.- Chép lại đường thẳng

TM số 73: Sao chép đường thẳng đứng

Dụng cụ: Giấy và một tấm mẫu để sao chép.

Cách làm:

-         Trao hình mẫu cho trẻ em và bảo hãy chép lại giống như vậy 3 lần,

-         Người lớn trình bày cách làm, nếu trẻ em tỏ ra lúng túng, khó khăn…

-         Quan sát: trẻ em cầm bút với tay nào?

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em chép lại được một đường thẳng đứng, sau 3 lần làm, không cần người lớn chứng minh trước,

-         (+/-) Làm, nhưng kết quả là đường ngang, cong, gãy, hơn là đường thẳng đứng. Hay là trẻ em chỉ làm, sau khi có chứng minh trước,

-         (-) Không làm gì cả.

11.- Tô màu trong giới hạn được chỉ định

TM số 78: Tô màu trong giới hạn chỉ định, không tràn ra ngoài

Dụng cụ: Giấy và bút.

Cách làm:

-         Trao cho trẻ em hình con thỏ, để tô màu,

-         Chỉ yêu cầu tô màu 2 phần mà thôi: 2 lỗ tai, cái đuôi hay là 4 chân,

-         Không cần tô hết toàn hình.

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em tô màu, không tràn ra ngoài,

-         (+/-) Tô những yếu tố chỉ định, nhưng tràn ra ngoài,

-         (-) Không làm hay là bôi đen tất cả.

12.- Chép lại hình vuông

TM số 75: Sao chép hình vuông

Dụng cu, cách làm: như trong TM số 73.

Địa hạt: Phối hợp Mắt và Tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em vẽ được hình vuông, có 4 cạnh, 4 gốc tương đối vuông,

-         (+/-) Vẽ hình có đường, có gốc, nhưng cạnh không đều, gốc không vuông. Hay là chỉ làm việc, sau khi có người trình bày trước,

-         (-) Không làm gì.

13.- Chép lại hình tam giác

TM số 76: Sao chép hình tam giác

Dụng cụ, cách làm: như trong TM số 73.

Địa hạt: Phối hợp Mắt va Tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em sao chép không cần có chỉ dẫn, một hình có 3 yếu tố cần thiết: 3 cạnh, 3 gốc, một hình đóng. Chấp nhận một vài khuyết điểm nhỏ…

-         (+/-) Làm một hình, nhưng kết quả không có nhữn yếu tố cần thiết,

-         (-) Không làm gì.

14.- Chép lại 7 chữ cái

TM số 83: Sao chép lại 7 chữ hoa

Dụng cụ:

-         Giấy và bút màu,

-         7 chữ hoa: A, L, B, Y, E, D, G.

Cách làm : Bảo trẻ em nhìn và chép lại từng chữ để riêng ra.

Địa hạt : Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em chép lại đúng 7 chữ,

-         (+/-) Sao chép lại « gần đúng » chỉ 1 chữ,

-         (-) Không làm, không chép lại được chữ nào.

15.- Chép lại hình thoi

TM số 77: Sao chép hình thoi

Dụng cụ, cách làm: như trong TM số 73.

TM số 73: Sao chép đường thẳng đứng

Dụng cụ: Giấy và một tấm mẫu để sao chép.

Cách làm:

-         Trao hình mẫu cho trẻ em và bảo hãy chép lại giống như vậy 3 lần,

-         Người lớn trình bày cách làm, nếu trẻ em tỏ ra lúng túng, khó khăn…

-         Quan sát: trẻ em cầm bút với tay nào?

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em chép lại được một đường thẳng đứng, sau 3 lần làm, không cần người lớn chứng minh trước,

-         (+/-) Làm, nhưng kết quả là đường ngang, cong, gãy, hơn là đường thẳng đứng. Hay là trẻ em chỉ làm, sau khi có chứng minh trước,

-         (-) Không làm gì cả.

VI.- KỸ NĂNG TƯ DUY (26 bài học)

1.- Tìm ra một đồ vật được giấu

TM số 53: Tìm ra đồ vật được cất giấu

Dụng cụ:

-         Một ly nhựa không trong suốt (không để thấy vật ở bên trong),

-         Hay là một chiếc khăn dày,

-         Một đồ chơi mà trẻ em rất thích.

Cách làm:

-         Bạn làm những cử động cất giấu trước mặt trẻ em,

-         Lấy đồ chơi cất giấu ở dưới chiếc khăn, hay là dưới cái ly lật ngược,

-         Bảo trẻ em tìm lại đồ chơi,

-         Nếu trẻ em không tìm, bạn lấy khăn hoặc ly nhựa che lại một phần nửa đồ chơi mà thôi.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy và hiểu biết.

Chấm điểm:

-         (+) Tìm ra đồ chơi, một cách dễ dàng,

-         (+/-) Tìm 2 lần hay là chỉ tìm ra, khi đồ chơi được che giấu một nửa,

-         (-) Không tìm.

2.- Tiên liệu những điều đã thành quen thuộc

TM số 141 : Đoán trước những điều đã thành quen thuộc

Dụng cụ : Một chiếc khay, hay hộp, để sắp xếp lại các dụng cụ, sau khi mỗi tiết mục hoàn tất.

Cách làm :

-         Suốt thời gian Lượng Giá, sau mỗi TM, khi có dụng cụ, chúng ta sắp xếp các dụng cụ vào trong một chiếc hộp lớn.

-         Khi làm như vậy, chúng ta yêu cầu trẻ em cùng làm, giúp đỡ chúng ta,

-         Trong TM số 141, chúng ta ghi nhận kết quả : Trẻ em có hiểu và tự động xếp lại các dụng cụ, như đã làm từ đầu không ?

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Sau độ 10 TM, trẻ em đã hiểu và tự động làm, không cần người lớn yêu cầu,

-         (+/-) Trẻ em đã hiểu, sau một thời gian dài hơn 2 hoặc 3 lần. Chỉ hiểu sau thời gian nghỉ giải lao ở giữa,

-         (-) Cho đến cuối giờ, trẻ em vẫn không tự động sắp xếp.

3.- Biết CHO, khi có người XIN

TM số 117 : Biết cho, khi có người yêu cầu

Dụng cụ : Dùng lại các vật dụng và hình ảnh trong TM số 115.

Cách làm :

-         Trong một chiếc hộp trong suốt, ở trước mặt trẻ em, có sẵn 7 vật dụng trẻ em đã biết,

-         Bạn đưa tay và xin : « Hãy lấy cho thầy chiếc giày »,

-         Nếu trẻ em bất động, không hiểu, bạn cầm lên hình ảnh chiếc giày và lặp lại lời yêu cầu : « Hãy lấy cho thầy chiếc giày ».

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em biết cho 3 vật dụng, không cần phải thấy 3 hình ảnh,

-         (+/-) Trẻ em cho 1 đồ vật, không cần có hình ảnh được đưa ra trước mặt. Hay là cho 3 đồ vật, có hình ảnh giới thiệu,

-         (-) Không lấy và cho, mặc dù có hình ảnh trợ giúp và giới thiệu.

4.- Phân biệt 2 đồ vật khác nhau

TM số 98: Phân biệt và chọn lựa 2 loại đồ vật khác nhau

Dụng cụ:

-         6 khối vuông cùng màu,

-         6 con cờ màu đen,

-         2 hộp nhựa trong suốt hay là bằng thủy tinh.

Cách làm:

-         Để làm mẫu, bạn bỏ một khối vuông trong một hộp, một con cờ đen trong hộp kia,

-         Bảo trẻ em: “Em hãy bỏ khối vuông với khối vuông, bỏ cờ đen với cờ đen”,

-         Sau đó bạn đưa cho trẻ em hoặc là 1 con cờ đen hoặc là 1 khối vuông, không theo một thứ tự cố định nào cả,

-         Lưu ý trẻ em: “trong 4 lần đầu, em có thể sửa lại, nếu em thấy em sai. Sau 4 lần, em không còn được thay đổi”.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em làm đúng 6 lần cho cả 2 loại,

-         (+/-) Làm đúng 4 lần,

-         (-) Không làm hay là làm mà kết quả ở dưới 4 lần.

5.- Xếp đúng đồ vật cụ thể với hình ảnh

TM số 115: Sắp xếp đồ vật cụ thể lên đúng với hình ảnh

Dụng cụ:

-         7 vật dụng: chiếc giày, ly nhựa, bàn chải đánh răng, cây bút chì, kéo, lược,

-         7 hình ảnh của các vật dụng trên đây: cùng màu, cùng hình thể, cùng cỡ lớn.

Cách làm:

-         Lần thứ nhất: Bạn hãy chứng minh cách làm với 1 vật dụng và một tấm hình: lấy vật dụng đặt lên trên tấm hình,

-         Lần thứ hai: Đặt trước mặt trẻ em 2 tấm hình, và đưa cho trẻ em 2 vật dụng được trình bày trên 2 tấm hình. Lần nầy, nếu trẻ em làm sai, bạn co thể sửa lại cho trẻ em thấy.

-         Sau lần thứ hai, từ từ trải ra 2 tấm hình và đưa cho trẻ em 2 đồ vật có liên hệ.

-         Và cứ như vậy cho đến hết.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em sắp xếp đúng 5 lần,

-         (+/-) Làm đúng 2 lần,

-         (-) Không làm, hay là làm sai tất cả.

6.- Chỉ các phần khác nhau trên thân thể

TM số 17: Đưa tay chỉ những phần thân thể của chính mình

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Không chứng minh trước,

-         Chỉ yêu cầu trẻ em đưa tay sờ: Mắt, Mũi, Tai, Miệng của mình.

Địa hạt: Kỹ năng tư duy và hiểu biết.

Chấm điểm:

-         (+) Chỉ hay là đụng đến 3 phần,

-         (+/-) Chỉ hay là đụng đến 1 phần mà thôi,

-         (-) Không làm gì cả.

7.- Chỉ các phần khác nhau trên con rối hay búp bê

TM số 16: Đưa tay chỉ những phần thân thể của con múa rối

Dụng cụ: Con múa rối chó hoặc mèo.

Cách làm:

-         Chính người lớn mang chiếc găng múa rối vào tay mình,

-         Đưa tay có mang găng lại gần trẻ em,

-         Yêu cầu trẻ em chỉ hay là đụng đến các phần thân thể của con múa rối như: tay, mắt, mũi, tai và miệng.

Địa hạt: Tư duy và Hiểu biết.

Chấm điểm:

-         (+) Chỉ đúng 3 phần,

-         (+/-) Chỉ đúng hay là có cử chỉ đưa tay hướng đến bất kỳ 1 phần nào,

-         (-) Không làm một cử động nào cả.

8.- Biết thi hành mệnh lện đơn sơ

TM số 131 : Thi hành mệnh lệnh ( chỉ bằng ngôn ngữ)

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

-         Chỉ dùng lời nói, không làm cử điệu,

-         Những mệnh lệnh sau đây :

1- Ngồi xuống,

2- Đứng lên,

3- Đến đây,

4- Đưa cho thầy…

5- Không đụng tới…

6- Mở cửa ra.

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em hiểu và thi hành 3 mệnh lệnh,

-         (+/-) Thi hành 1 mệnh lệnh.

-         (-) Không thi hành.

9.- Dùng cử điệu mô tả các đồ vật

TM số 118 : Biết dùng điệu bộ giải thích cách dùng của mỗi đồ vật

Dụng cụ :

5 vật dụng

-         Một chiếc ly nhựa,

-         Một cái muỗng,

-         Một bút chì,

-         Một cái lược,

-         Một cái kéo.

Cách làm :

-         Cầm đưa ra trước mặt trẻ em một vật dụng,

-         Đặt câu hỏi cho trẻ em : « Em dùng đồ vật nầy để làm gì ? Làm cử chỉ giải thích cho thầy cách em làm »,

-         Chứng minh cho trẻ em một lần, nếu trẻ em không biết cách làm.

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em biết dùng điệu bộ giải thích 4 vật dụng,

-         (+/-) Biết làm với 1 vật dụng mà thôi,

-         (-) Không làm.

10.- Phân biệt LỚN và NHỎ

TM số 28 : Biết phân biệt Lớn và Nhỏ, thay vì dùng ngôn ngữ

Dụng cụ : Như trong TM số 27.

Cách làm:

-         Để 2 bao tay trước mặt trẻ em,

-         Bảo trẻ em lần thứ I: “Lấy đưa cho thầy chiếc bao tay nhỏ”,

-         Sau khi để bao tay lại chỗ cũ, yêu cầu trẻ em: “Lấy đưa cho thầy bao tay lớn”,

-         Lặp lại lần thứ II, những lời yêu cầu như trước đây.

Địa hạt: Khả năng tư duy và hiểu biết.

Chấm điểm:

-         (+) Biết làm đúng trong cả 2 lần,

-         (+/-) Trong 4 lần yêu cầu, chỉ biết làm đúng 1 lần,

-         (-) Không làm hay là làm không đúng lần nào cả.

11.- Thi hành chỉ thị chỉ được diễn tả bằng ngôn ngữ

TM số 128: Biết thi hành chỉ thị (ý kiến của người lớn)

Dụng cụ: 4 vật dụng sau đây:

-         1 trái banh,

-         1 ly nhựa,

-         1 con chó (múa rối),

-         1 hộp lớn đựng ly.

Cách làm:

-         Để các dụng cụ trên bàn, trước mặt trẻ em,

-         Bảo trẻ em: “Em hãy làm điều thầy yêu cầu”,

-         Điều thứ nhất: Gõ nhẹ vào hộp,

-         Điều thứ hai: Vuốt ve con chó,

-         Điều thứ ba : Đứng dậy và nhảy,

-         Điều thứ bốn : Bỏ ly vào hộp, sau đó ngồi xuống,

-         Điều thứ năm : Gõ cửa, và sau đó đưa tay đụng vào vách.

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em biết thi hành 4 yêu cầu,

-         (+/-) Biết thi hành 1 yêu cầu, hay là một phần trong 2 mệnh lệnh,

-         (-) Không thi hành, không hiểu, không làm.

12.- Thi hành một mệnh lệnh có 2 phần đi theo nhau

TM số 97: Biết thi hành một mệnh lệnh gồm có 2 vế

Dụng cụ: Một ly nhựa và các khối vuông.

Cách làm:

-         Trước hết yêu cầu trẻ em chú ý nhìn và nghe,

-         Bảo trẻ em: “Lấy một khối vuông  bỏ vào ly nhựa, sau đó  cầm ly nhựa để xuống đất”,

-         Lặp lại mệnh lệnh sau một lúc, nếu trẻ em gặp khó khăn, không hiểu,

-         Khi trẻ em bắt đầu thi hành mệnh lệnh, người lớn hoàn toàn giữ thinh lặng, không nói hay là không làm thêm bộ điệu.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em làm đúng cả 2 vế của mệnh lệnh,

-         (+/-) Trẻ em thi hành mệnh lệnh, nhưng bỏ sót hoặc vế đầu, hoặc vế sau, đảo ngược thứ tự, hay là bỏ 2 khối vào ly,

-         (-) Không làm được.

13.- Dùng điệu bộ tả một hình ảnh

TM số 110: Trình bày bằng điệu bộ, cử chỉ… cách dùng của một đồ vật

Dụng cụ: Một số hình ảnh của 5 vật dụng như ; - chiếc còi, - trái banh, - cái trống, -chìa khóa, - cái cưa.

Cách làm:

-         Chọn một tấm hình và đưa cho trẻ em nhìn,

-         Bảo trẻ em: “Đồ vật nầy dùng để làm gì? Em thử đưa tay làm dấu, giải thích cho thầy biết”,

-         Nếu trẻ em gặp khó khăn, hãy chứng minh cho trẻ em, cách dùng của đồ vật đầu tiên.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em dùng điệu bộ giải thích cách dùng của 5 đồ vật.

-         (+/-) Chỉ làm được l lần,

-         (-) Không làm được gì cả.

14.- Phân biệt 3 hình: Tròn, vuông và tam giác

TM số 22 : Biết nhận ra tên gọi của 3 hình

Dụng cụ : Dùng lại 3 hình : tròn, vuông và tam giác.

Cách làm : bảo trẻ em :

-         Hãy đưa cho thầy hình tròn…

-         Hay là : Em cầm lấy hình vuông…

-         Hay là : Hình tam giác ở đâu ?...

Địa hạt : Tư duy và Hiểu biết.

Chấm điểm :

-         (+) Chỉ, cầm hay là đưa đúng 3 hình,

-         (+/-) Chỉ làm đúng 1 hình mà thôi,

-         (-) Không làm gì cả.

15.- Nhận biết các hình ảnh trong một cuốn sách

TM số 121 : Nhận biết các hình ảnh

Dụng cụ : Một cuốn sách có hình ảnh, như trong TM số 120.

Cách làm :

-         Bạn mở sách ra trang đầu, đưa tay chỉ cho trẻ em từng tấm hình và gọi tên,

-         Sau đó, để sách trước mặt trẻ em và hỏi : « Con bò đâu, chỉ cho thầy ? Con vịt ?... »

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em nhận biết ít nhất 14 hình ảnh,

-         (+/-) Nhận biết ít nhất 1 hình ảnh,

-         (-) Không nhận biết hình ảnh nào cả.

16.- Nhận biết 5 màu sắc khác nhau

TM số 34: Biết phân biệt các màu

Dụng cụ: Năm đĩa có 5 màu.

Cách làm:

-         Đặt để trên bàn, trước mặt trẻ em, 5 đĩa tròn bằng giấy, có 5 màu khác nhau,

-         Yêu cầu trẻ em: “Hãy lấy đưa cho thầy đĩa màu đỏ”,

-         Có thể dùng những cách nói tương đương: “Ở đâu? Chỉ cho thầy màu”,

-         Để lại trên bàn vào chỗ cũ chiếc đĩa, và tiếp tục đặt câu hỏi về những màu khác.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Biết đưa tay chỉ đúng 5 màu,

-         (+/-) Biết chỉ đúng 1 màu,

-         (-) Không làm được.

17.- Chơi tác động qua lại giữa 2 con rối

TM số 18: Trò chơi “Thiết lập quan hệ hai chiều”

Dụng cụ:

Hai con múa rối chó và mèo.

Cách làm:

-         Trao cho trẻ em một con múa rối,

-         Người lớn mang vào tay con kia,

-         Bạn bảo: “Bây giờ chó và mèo chơi với nhau”,

-         Nếu trẻ em không biết làm gì, bạn đề nghị: ăn với nhau, nhảy với nhau…

Địa hạt: Kỹ năng tư duy và hiểu biết.

Chấm điểm:

-         (+) Hai con múa rối trao đổi qua lại,

-         (+/-) Trẻ em tìm cách chơi với con múa rối của mình hay là với con múa rối trong tay của người lớn, nhưng hai con múa rối không chơi với nhau,

-         (-) Không chơi, không làm gì cả.

18.- Sắp xếp vừa theo màu và hình

TM số 114: Phân biệt, chọn lựa, sắp xếp các tấm hình theo 1 trong 2 tiêu chuẩn khác nhau là màu sắc và hình thể

Dụng cụ:

-         12 tấm hình,

-         Các tấm hình trình bày 4 hình thể khác nhau: vuông, tròn, thoi và tam giác,

-         Các tấm hình có 3 màu sắc khác nhau: xanh lục. đỏ và tím.

Cách làm:

-         Trải cả 12 tấm hình ra bên cạnh nhau, trước mặt trẻ em,

-         Bảo trẻ em: “Em hãy sắp xếp các loại hình với nhau”,

-         Nếu trẻ em lúng túng, trình bày một lần cách làm như sau: sắp xếp các hình tam giác lại với nhau hay là các hình màu xanh lục lại với nhau.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em biết sắp xếp cả 12 tấm hình, hoặc theo tiêu chuẩn hình thể, hoặc theo tiêu chuẩn màu sắc,

-         (+/-) Cần chứng minh mới làm, có thử sắp xếp lại với nhau, nhưng không biết phân biệt theo tiêu chuẩn rõ ràng,

-         (-) Bất động, không thử.

19.- Lắp ráp hình đứa con trai

TM số 89 : Lắp ráp một hình người

Dụng cụ :

-         Một tấm khung,

-         8 phần thân thể của một bé trai.

Cách làm :

-         Đặt tấm khung và 8 phần thân thể trước mặt trẻ em,

-         Dùng một phần lắp vào khung cho đúng chỗ và khít khang,

-         Lấy ra lại phần vừa được dùng, và bảo trẻ em : « Em hãy ráp tất cả lại thành hình người ».

-         Nếu trẻ em không làm được, bạn hãy chứng minh với tất cả 8 phần.

-         Sau đó, lấy ra lại tất cả và bảo trẻ em làm.

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em lắp ráp được tất cả, không cần chứng minh,

-         (+/-) Lắp ráp được ít nhất 2 phần, hay là cần có chứng minh trước.

-         (-) Không làm được.

20.- Lắp ráp hình con mèo

TM số 29 và 30: Lắp ráp hình con mèo

Dụng cụ: Hình con mèo có 4 mảnh khác nhau.

Cách làm:

-         Để 4 mảnh hình con mèo một cách lộn xộn, tách rời khỏi nhau ở 4 vị trí, trước mặt trẻ em,

-         Bảo trẻ em: “Em hãy ghép lại với nhau”,

-         Sau một lúc, nếu trẻ em vẫn bất động, người lớn chứng minh cho trẻ em cách làm,

-         Đoạn bảo trẻ em: “Hãy làm giống như thầy vừa làm”.

Địa hạt:

-         TM số 29: Khả năng Tư duy,

-         TM số 30: Phối hợp mắt và tay.

Chấm điểm:

-         (+) Biết ghép lại 4 mảnh thành hình con mèo, không cần người lớn chứng minh trước,

-         (+/-) Ghép lại 2 hình với nhau, hay là cần có người lớn chỉ bày cách làm, mới làm,

-         (-) Không làm và không thử làm.

21.- Nhận biết đồ vật bằng xúc giác

TM số 88 : Tìm ra các vật dụng, khi nghe tên mà thôi

Dụng cụ : Dùng lại y nguyên các vật dụng, như trong TM số 87.

Cách làm :

-         Bạn chỉ gọi tên vật dụng,

-         «  Hãy tìm và lấy ra quả banh ».

Địa hạt : Khả năng Tư Duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em lấy ra đúng 4 vật,

-         (+/-) Chỉ lấy ra đúng 1 vật,

-         (-) Không lấy ra đúng vật nào.

22.- Phân biệt số lượng giữa 2 và 6

TM số 96: Hãy đưa cho thầy các khối

Dụng cụ: 8 khối cùng màu.

Cách làm:

-         Lần thứ nhất: “Hãy đưa cho thầy 2 khối”,

-         Lần thứ hai: “Hãy đưa cho thầy 6 khối.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-  (+) Trẻ em biết đưa 2 và 6 khối cho người lớn,

-  (+/-) Trong 2 lần chỉ làm đúng 1 lần: hoặc đưa đúng 2, hoặc đưa đúng 6,

-  (-) Không hiểu, không làm.

23.- Viết ra tên của mình

TM số 85 : Viết ra tên của mình

Dụng cụ : Giấy và bút.

Cách làm :

-         Em hãy viết ra tên của em »,

-         Sau một hồi, nếu trẻ em không làm, người lớn viết ra tên của trẻ em, trên một tờ giấy, và bảo trẻ em : « Em hãy viết tên em như thế nầy ».

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em viết ra đúng tên mình, không cần có cách trình bày trước,

-         (+/-) Trẻ em viết ra, nhưng có những điểm sai và thiếu. Hay là trẻ em cần người lớn trình bày trước,

-         (-) Không viết ra được.

24.- Nhận biết 9 chữ cái

TM số 82: Bảo trẻ em đưa tay chỉ, khi chúng ta gọi tên mỗi chữ

Dụng cụ: 9 chữ cái hay chữ hoa: H, I, V, D, U, E, Y, S, G.

Cách làm:

-         “Hãy lấy đưa cho thầy chữ S”,

-         Lặp lại lời yêu cầu, với 8 chữ kia.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em đưa tay chỉ đúng tất cả 9 chữ,

-         (+/-) Chỉ đúng ít nhất 2 chữ,

-         (-) Không làm hay là không chỉ đúng chữ nào cả.

25.- Ghép lại 6 phần khác nhau của con bò

TM số 31: Lắp ráp lại hình con bò

Dụng cụ: Hình con bò được chia cắt ra thành 6 mảnh khác nhau.

Cách làm:

-         Để hình con bò trước mặt trẻ em, với 6 mảnh khác nhau được trình bày một cách lộn xộn,

-         Nói với trẻ em: “Đây là hình con bò, em hãy ghép các mảnh lại với nhau”,

-         Chứng minh cách làm một lần, sau một lúc chờ đợi, nếu trẻ em không biết phải làm thế nào.

Địa hạt: Khả năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Làm đúng hoàn toàn,

-         (+/-) Chỉ ghép đúng 2 mảnh, hay là phải chờ có chứng minh cách làm,

-         (-) Không làm hay là làm không được, mặc dù có chứng minh.

26.- Thi hành chỉ thị được viết ra trên trang giấy

TM số 140 : Đọc và thi hành những chỉ thị được viết ra

Dụng cụ :

-         Một tấm giấy có ghi sẵn một câu để đọc :  « Bé Mai nhặt trái banh và bỏ vào hộp »,

-         Một trái banh,

-         Một cái hộp.

Cách làm :

-         Soạn sẵn và để trước mặt trẻ em 3 dụng cụ trên đây,

-         Bảo trẻ em đọc tấm giấy, trong im lặng,

-         Khi trẻ em đọc xong, bảo trẻ em : « Em hãy làm như bé Mai đã làm ».

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em bỏ trái banh vào hộp,

-         (+/-) Trẻ em chỉ cầm trái banh lên nhìn,

-         (-) Không làm gi, không hiểu.

VII.- KỸ NĂNG NGÔN NGỮ (27 bài học)

1.- Xin giúp đỡ

TM số 61: Biết yêu cầu kẻ khác giúp đỡ

Dụng cụ:

-         Kẹo hoặc một đồ chơi mà trẻ em thích,

-         Kẹo được đặt để trong một hộp nhựa trong suốt, có nắp đậy kỹ càng,

-         Nhìn vào, trẻ em có thể thấy kẹo hoặc đồ chơi.

Cách làm:

-         Đưa cho trẻ em hộp kẹo, có nắp đậy chặt lại,

-         Bảo trẻ em: “Em có thể lấy ra mà ăn”,

-         Quan sát cách làm của trẻ em, chứ không vội giúp đỡ,

-         Sau một hồi, nếu trẻ em không có phản ứng gì, bảo trẻ em: “Em có muốn thầy giúp cho em không?”.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em xin giúp đỡ bằng lời hay điệu bộ rõ ràng, không cần người lớn đề nghị giúp,

-         (+/-) Chỉ nhìn nhưng không nói gì, chỉ dám yêu cầu, sau khi người lớn đề nghị,

-         (-) Không làm gì cả.

2.- Nói được những câu có 2 từ

TM số 132 : Nói một câu gồm có 2 từ

Dụng cụ : Đồ uống, 1 cái ly, bánh ngọt, 1 cái lược, bọt xà phòng.

Cách làm :

-         Mục đích chủ yếu của TM nầy là : đặt câu hỏi, tạo điều kiện cho trẻ em nói.

-         Sau đây là những ví dụ :

1)    Nước uống và ly : « Em có thích uống nước cam không ? Bây giờ em muốn uống không ? Nếu muốn uống, em xin làm sao ?Ly ở đâu ? Bây giờ làm gì ?... »

2)    Bánh ngọt : « Em muốn ăn bánh không ? Em hãy xin đi. Em có thích có thêm một miếng, đem về cho mẹ em ở nhà không ?... »

3)    Lược chải : «Cái gì đây ? Tên của cái nầy là gì ? Em dùng cái này làm gì ? Ở nhà, ai chải tóc cho em ?... »

4)    Bọt xà phòng : « Em làm gì với đồ chơi nầy ? Em biết thổi bọt xà phòng không ? Em thích thầy thổi cho em thấy không ? Em đang làm gì đó ? Làm nổ chiếc bong bóng đi… »

Địa hạt : Khả năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em nói được 2 câu, mỗi câu có 2 từ,

-         (+/-) Nói được 1 câu,

-         (-) Không nói gì cả.

3.- Gọi đúng tên những vật dụng quen thuộc

TM số 116 : Gọi đúng tên các vật dụng

Dụng cụ : Dùng lại 7 đồ vật trong TM số 115.

 Cách làm :

-         Cầm lên từng mỗi đồ vật và hỏi : « Cái gì đây ? »,

-         Nếu trẻ em không trả lời, bạn diễn tả lại : « Đây là… », và để cho trẻ em bổ túc, tiếp tục.

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em gọi đúng tên 5 đồ vật,

-         (+/-) Chỉ gọi đúng tên một đồ vật, hay là làm điệu bộ giải thích,

-         (-) Không nói, không làm.

4.- Dùng Đại danh từ Tôi, con…(ngôi thứ nhất)

TM số 135: Dùng đại danh từ Tôi, Con (Em)

Dụng cụ: Nước ngọt, 2 ly, bánh ngọt, một con múa rối.

Cách làm :

1)    Đặt câu hỏi về tay

Người lớn đặt tay mình trên bàn,

Bảo trẻ em đặt tay mình bên cạnh,

Chỉ tay của người lớn và hỏi: “Tay này của ai?”

Chỉ tay của trẻ em va hỏi: “Tay này của ai?”

2)    Đặt câu hỏi về nước ngọt và ly

Bạn cầm ly và uống. Sau đó hỏi trẻ em: “Ai vừa uống?”

Bảo trẻ em uống và hỏi sau đó: “Ai vừa uống ?”

3)    Đặt câu hỏi về bánh ngọt

Chia ra 2 phần và hỏi: “Phần nầy của ai?”

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Biết phân biệt Thầy và EM (Con),

-         (+/-) Biết nói về chính mình, nhưng còn lầm lẫn về cách xưng hô,

-         (-) Không dùng cách nói Tôi, Con, Em.

5.- Biết tên và họ của mình

TM số 69: Em tên gì?

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Giữa lúc làm việc, hỏi trẻ em 2 câu hỏi: “Em tên gì?”,

-         Câu hỏi thứ hai: “Tên họ là gì?”.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em biết tên riêng và tên họ của mình,

-         (+/-) Chỉ biết tên riêng hay là cách gọi thường ngày trong gia đình,

-         (-) Không biết, không trả lời.

6.- Nói những câu có 4-5 từ

TM số 133 : Nói một câu có 4 hoặc 5 từ

Dụng cụ : Sách về ngôn ngữ, như trong các TM số 120, 121, 122.

Cách làm :

-         Mở sách ra, đặt trước mặt trẻ em,

-         Nếu trẻ em thích hình ảnh nào, thì đặt những câu hỏi về hình ảnh ấy,

-         Nếu có cả 3 hoặc 4 hình trên một trang giấy không thể gây chú ý, bạn hãy lấy một tấm giấy che lại 3 hình và chỉ chừa lại một hình mà thôi,

-         Đặt những câu hỏi như :

1)    Em nhìn cái gì ?

2)    Ở trong nhà em, có cái nầy không ?

3)    Ở nhà, em làm gì ?

4)    Em chơi banh và đạp xe ở chỗ nào ?

5)    Em làm gì, khi đi học về ?

6)    Em có giúp mẹ em nấu ăn không ?

7)    Em thích món ăn nào ?

8)    Em có mặc áo quần một mình không?

9)    Ai giúp em mặc áo quần ban sáng, trước khi đi học?

10) Em thích mặc áo màu gì?

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Nói 1 câu có 4 hoặc 5 từ, để mô tả một đồ vật hay một công việc…

-         (+/-) Nói 1 câu ngắn hơn,

-         (-) Không nói tư nào, không trả lời.

7.- Biết phân biệt NHIỀU và ÍT

TM số 134: Bao nhiêu, nhiều, ít

Dụng cụ: Ngoài những vật liệu như khối vuông, bút màu, banh…chúng ta nói chuyện về áo quần, đồ chơi, các phần thân thể như tay… chân… mắt…

Cách làm :

Đặt những câu hỏi “Bao nhiêu, Mấy”, để trẻ em trả lời về số lượng Nhiều hay Ít...

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em hiểu thế nào là nhiều, biết trả lời mấy tay, mấy chân…

-          (+/-) Biết chỉ đúng, khi người lớn hỏi: “Bên nào nhiều…”,

-         (-) Không phân biệt được nhiều, ít.

8.- Biết mình là TRAI hay Gái

TM số 70: Em là trai hay gái (nếu trẻ em là con trai),

              Em là gái hay trai (nếu trẻ em là con gái).

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

-         Đặt câu hỏi giữa lúc làm việc,

-         Đặt câu hỏi như trên, để tránh hiện tượng trẻ em lặp lại vế sau cùng.

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em biết trả lời về phái tính của mình,

-         (+/-) Lặp lại vế cuối cùng,

-         (-) Không trả lời và không biết.

9.- Lặp lại những câu ngắn

TM số 125: Lặp lại những câu ngắn

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

       -    Bảo trẻ em lặp lại 3 câu sau đây, như trong TM số 123:

-         Câu thứ nhất: “Em bé uống sữa”,

-         Câu thứ hai: “Con đói bụng”,

-         Câu thứ ba: “Nó không còn khóc”.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em lặp lại được 2 câu,

-         (+/-) Lặp lại 1 câu, hay là 2 từ trong một câu,

-         (-) Không lặp lại gì cả.

10.- Lặp lại dãy 2-3 số

TM số 100 và 101: Lặp lại theo người lớn những dãy số

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Sau khi gây chú y, bảo trẻ em: “Thầy đọc lên những hàng số, em hãy nghe cho kỹ”,

-         “Sau khi thầy đọc xong, em hãy lặp lại y nguyên”,

-         Sau mỗi số, dừng lại một giây.

-         Lặp lại thêm lần thứ hai, nếu trẻ em lặp sai trong lần thứ nhất,

-         Dãy thứ nhất: 2 số,

Lần Một: 7-9,

Lần Hai: 5-3.

-         Dãy thứ hai: 3 số,

Lần Một: 2-4-1,

Lần Hai: 5-7-9.

Địa hạt:

-         TM số 100: Bắt chước, lặp lại,

-         TM số 101: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Lặp lại đúng một lần dãy 2 con số, và một lần dãy 3 con số,

-         (+/-) Chỉ lặp lại đúng một lần dãy 2 con số,

-         (-) Không lặp lại đúng dãy nào cả, trong 4 lần.

11.- Biết dùng từ LỚN và NHỎ

TM số 27 : Biết dùng 2 từ Lớn và Nhỏ (gọi tên)

Dụng cụ :

Dùng lại 2 bao tay lớn và nhỏ trong TM số 25 và 26.

Cách làm :

-         Để bao tay nhỏ bên tay trái, và bao tay lớn bên tay mặt của trẻ em,

-         Nói với trẻ em : « Hãy nhìn kỹ hai bao tay trước mặt em »,

-         Hai bao tay không giống nhau, tại sao ? Không giống nhau ở chỗ nào ?

-         Bạn cầm lên cái bao lớn và hỏi : « Cái bao tay nầy thế nào ? »,

-        Sau đó, cầm lên cái bao tay nhỏ và hỏi : « Cái bao tay nầy thế nào ? ».

Địa hạt : Khả năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Biết dùng từ Lớn và Nhỏ để trả lời,

-         (+/-) Biết trả lời 1 lần đúng mà thôi, trong bốn lần đặt câu hỏi,

-         (-) Không trả lời và không tìm cách trả lời.

12.- Gọi tên các hình ảnh

TM số 122 : Gọi tên các hình ảnh

Dụng cụ : Cuốn sách về ngôn ngữ như trong TM số 120.

Cách làm :

-    Mở sách ở trang đầu, đưa tay chỉ hình (con bò) và hỏi :  « Đây là gì ?»,

-    Khi có những động tác, đặt câu hỏi : « Làm gì đây ? »,

-    Bạn dừng lại, không còn tiếp tục đặt câu hỏi, khi trẻ em liên tiếp trả lời SAI hay là bất động, không có phản ứng với 5 tấm hình.

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em gọi đúng tên 14 hình ảnh,

-         (+/-) Chỉ gọi đúng tên 1 hình ảnh,

-         (-) Không gọi, hay là không gọi đúng hình nào cả.

13.- Gọi tên 5 màu sắc

TM số 33: Gọi tên 5 màu sắc

Dụng cụ: Dùng lại 5 khối có 5 màu khác nhau,

Cách làm:

-         Để cả 5 khối trước mặt trẻ em,

-         Bạn cầm lên chỉ 1 khối và hỏi: “Màu gì đây?”,

-         Đặt câu hỏi như vậy, lần lượt với cả 5 khối.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Gọi đúng 5 màu,

-         (+/-) Gọi đúng chỉ một màu, cho dù trẻ em chỉ dùng một tên gọi mà thôi, với cả 5 màu,

-         (-) Không gọi được.

14.- Lặp lại câu đơn sơ nhưng dài

TM số 126: Lặp lại những câu đơn sơ, dài hơn 3-4 từ

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Giống như trong TM số 123,

-         Câu thứ nhất: “Em bé chơi với trái banh màu đỏ”,

-         Câu thứ hai: “Tôi thấy chiếc máy bay trên trời cao”,

-         Câu thứ ba: “Tuyết Mai đi mua một con búp bê và một chiếc xe ôtô”.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em lặp lại đúng 2 câu,

-         (+/-) Lặp lại 1 câu, với một vài thay đổi hay bỏ sót,

-         (-) Không lặp lại  gì cả.

15.- Gọi tên 3 hình : Tròn, Vuông và Tam giác

TM số 21 : Gọi tên 3 loại hình thể

Dụng cụ :

Dùng lại 3 loại hình trong TM số 19 và 20.

Cách làm :

-         Để 3 hình tròn, vuông và tam giác trên bàn,

-         Đưa tay chỉ hình tròn, và hỏi trẻ em : « Cái gì đây ? Hình nầy là hình gì ? »,

-         Lặp lại câu hỏi với 2 hình kia.

Địa hạt : Khả năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Gọi tên cả 3 hình,

-         (+/-) Chỉ gọi đúng một hình, hay là dùng một tên gọi duy nhất cho cả 3 hình,

-         (-) Không tìm cách phát âm gì cả.

16.- Đếm lớn tiếng

TM số 104: Đếm lớn tiếng Một, Hai, Ba…

Dụng cụ: Không có,

Cách làm:

-         Bạn bảo trẻ em: “Em hãy đếm đi”,

-         Nếu trẻ em lúng túng, không biết cách làm, bạn hãy khởi đầu: “ Một…và sau đó là gì?”

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Đếm đúng đến 10,

-         (+/-) Đếm đúng đến 3,

-         (-) Không đếm đúng đến 3.

17.- Đếm 2-7 khối vuông

TM số 95: Đếm được từ 2 đến 7

Dụng cụ: 7 khối cùng một màu.

Cách làm:

-         Để 2 khối trước mặt trẻ em và hỏi: “Có bao nhiêu khối?”,

-         Khích lệ trẻ em đưa ngón tay đếm từng khối,

-         Nếu trẻ em đếm được 2, đem ra thêm 5 cho đủ 7 khối trên bàn.

-         Yêu cầu trẻ em đếm lại từ đầu, như lần trước.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em đếm được cả 2 lần (2 và 7) một cách đứng đắn,

-         (+/-) Đếm được đến 2. Thử đếm lên trên 2, nhưng không làm được,

-         (-) Không làm.

18.- Lặp lại những câu phức tạp

TM số 127: Lặp lại những câu phức tạp (có 2 mệnh đề)

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Giống như trong TM số 123,

-         Câu thứ nhất: “Dù chó sủa, mèo vẫn không chạy trốn”,

-         Câu thứ hai: “Trước khi ăn, tôi nhớ rửa tay, theo lời mẹ dạy”,

-         Câu thứ ba: “Nếu em ngồi yên, thầy sẽ cho em xem hình”.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em lặp lại đúng 2 câu,

-         (+/-) Lặp đúng một câu, hay là lặp lại vài từ trong 2 câu,

-         (-) Không lặp lại.

19.- Lặp lại dãy 4-5 số

TM số 102 và 103: Lặp lại những dãy có 4 và 5 con số.

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Chỉ khảo sát 2 TM nầy, nếu 2 TM số 100 và 101 đã được chấm điểm (+),

-         Cách làm hoàn toàn như trong 2 TM trên đây.

-         Dãy thứ ba: 4 số,

Lần Một: 5-8-6-1,

Lần Hai: 7-1-4-2.

-         Dãy thứ bốn: 5 số,

Lần Một: 3-2-9-4-8,

Lần Hai: 7-4-8-3-1.

Địa hạt:

-         TM số 102: Bắt chước,

-         TM số 103: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Lặp lại đúng một dãy 4 số và một dãy 5 số,

-         (+/-) Chỉ lặp lại đúng 1 dãy 4 số,

-         (-) Không lặp lại đúng dãy nào cả sau 4 lần.

20.- Đọc những con số 1-10

TM số 105: Đọc được những con số

Dụng cụ: Mười tấm giấy có ghi số từ 1 đến 10.

Cách làm:

-         Bạn rút ra bất kỳ một tấm số nào và đưa cho trẻ em đọc: “Số mấy đây?”

-         Nếu trẻ em không trả lời, sau một vài giây, chính bạn đọc lớn con số và bỏ tấm số trở lại trong xấp giấy,

-         Tiếp tục rút ra những tấm khác và đưa cho trẻ em đọc,

-         Trẻ em đọc được tấm nào, bỏ riêng tấm ấy ra một nơi khác.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Đọc được cả 10 tấm từ 1 đến 10,

-         (+/-) Chỉ đọc được một tấm, hay là dọc lui đọc tới một số duy nhất, với tất cả mọi tấm.

-         (-) Không đọc, bất động.

21.- Gọi tên những chữ cái

TM số 81: Gọi tên các chữ Cái

Dụng cụ: Dùng lại 9 chữ hoa, như trong TM số 80.

Cách làm:

-         Lấy riêng ra từng chữ và để trước mặt trẻ em,

-         Chỉ vào mỗi chữ và hỏi: “Chữ nầy tên gì?”

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em gọi đúng tên cả 9 chữ,

-         (+/-) Chỉ gọi đúng tên 1 chữ mà thôi. Hay là dùng đúng 1 tên, để gọi tất cả 9 chữ,

-         (-) Không gọi được tên của một chữ nào.

22.- Tính nhẩm bài toán của mình

TM số 106: Tính nhẩm trong đầu những bài toán cọng và trừ

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Đọc lớn tiếng một cách rõ ràng cho trẻ em, những bài toán sau đây,

-         Đọc xong, để cho trẻ em một thời gian, để tính toán và trả lời,

-         Có thể đọc lui tới vài lần, nhất là khi trẻ em yêu cầu,

-         Bài Một: “Nếu em có 1 cái kẹo, thầy cho thêm 2 cái. Em sẽ có tất cả bao nhiêu cái kẹo?”

-         Bài Hai: “Nếu em có 2 trái banh, thầy cho em thêm 4 trái. Em sẽ có tất cả bao nhiêu trái banh?”

-         Bài Ba: Nếu em có 5 tấm ảnh, em tặng cho bạn em 2 tấm. Em còn lại mấy tấm?”

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy và Ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em tính đúng ít nhất 2 bài,

-         (+/-) Tính đúng chỉ 1 bài,

-         (-) Không tính được bài nào hay là không làm.

23.- Đọc những từ ngắn gọn

TM số 136: Đọc một số từ vắn và gọn

Dụng cụ: Sáng chế những tấm giấy có 4 từ: 1-Bánh, 2-Một, 3-Ba, 4-Áo.

Cách làm :

Đưa ra cho trẻ em những trang giấy đã soạn sẵn, có những từ trên đây. Bảo trẻ em: “Em đọc đi”.

Địa hạt: Kỹ năng Ngôn ngữ

Chấm điểm:

-         (+) Đọc được 3 từ.

-         (+/-) Đọc được 1 từ hay là nói một câu, trong đó có từ phải đọc.

-         (-) Không đọc.

24.- Tính nhẩm bài toán khách quan

TM số 107: Tính nhẩm những bài toán cọng và trừ, được trình bày một cách khách quan, ở ngôi thứ 3, áp dụng cho một người khác

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

-         Đọc lớn và rõ ràng,

-         Có thể lặp lại, nếu trẻ em cần và yêu cầu,

-         Bài thứ nhất: “Bạn Xuân có 5 chiếc kẹo. Bạn ấy đem tặng cho em bạn 2 chiếc kẹo. Vậy bây giờ bạn Xuân còn bao nhiêu cái kẹo?”

-         Bài thứ hai: “Bạn Thu có 2 bút chì màu. Mẹ bạn mua thêm cho bạn 4 bút chì khác. Vậy bây giờ bạn Thu có tất cả bao nhiêu bút chì màu?”

-         Bài thứ ba: “Bạn Đông có 3 cuốn tập. Ba cho thêm 1 cuốn. Vậy bây giờ bạn Đông có tất cả bao nhiêu cuốn tập?”

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy và Ngôn ngữ.

Chấm điểm:

-         (+) Trẻ em trả lời đúng 2 bài,

-         (+/-) Đúng 1 bài,

-         (-) Không làm được bài nào.

25.- Đọc câu ngắn

TM số 137: Đọc một câu ngắn

Dụng cụ:

Sáng tạo những tấm giấy hay là một cuốn tập có những câu ngắn.

Cách làm:

Để trước mặt trẻ em những trang giấy có những câu đã soạn sẵn:

-         Câu thư nhất: Tuyết có áo đẹp,

-         Câu thứ hai: Tuyết đã chơi banh,

-         Câu thứ ba : Mai ở nhà với cha mẹ và đứa em,

-         Câu thư tư : Mai nhặt trái banh và bỏ vào hộp.

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em đọc được 1 câu ngắn,

-         (+/-) Đọc được 2 từ trong một câu,

-         (-) Không đọc được.

26.- Đọc chữ với vài ba lỗi

TM số 138 : Đọc với một số lỗi

Dụng cụ : Cũng như trong TM số 137.

Cách làm :

Khảo sát kỹ lưỡng những lỗi của trẻ em, khi đọc những câu trong TM số 137.

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em đọc xuôi chảy, chỉ vấp váp với những chữ khó như Tuyết, Banh, Đứa, Hộp. Nhảy qua một đôi chữ, không đọc được những từ như Đã, Đứa,

-         (+/-) Đọc nhiều câu, không bỏ cuộc, mặc dù có nhiều vấp váp, bỏ sót hay là đọc sai,

-         (-) Không đọc.

27.- Đọc và hiểu

TM số 139: Hiểu ý nghĩa, khi đọc

Dụng cụ: như trong TM số 137.

Cách làm:

-         Bảo trẻ em đọc lại các tấm giấy hay là cuốn tập trong TM số 137,

-         Chỉ đọc một mình, trong im lặng,

-         Sau khi trẻ em đọc xong, bạn hãy đặt ra những câu hỏi:

1)    Ở nhà, Mai có ai?

2)    Tuyết chơi gì ?

3)    Ai mặc áo đẹp ?

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm :

-         (+) Trẻ em trả lời đúng 2 câu,

-         (+/-) Đúng 1 câu,

-         (-) Không đúng câu nào, hay là không trả lời.

DỤNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG

TRONG BẢNG LƯỢNG GIÁ

STT

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

Tiết mục sử dụng số

Tìm mua tại 

1.     

Chai nước xà phòng thổi bóng

1 - 2 - 3 - 4

Cửa hàng đồ chơi

2.     

Khối logic hình vuông, tròn, tam giác

5 - 19

20 - 21 - 22

Cửa hàng đồ dùng dạy học

(ĐDDH)

3.     

Ống nhìn vạn hoa, vạn sắc

6 - 7

Cửa hàng đồ chơi

4.     

Chuông

8

Cửa hàng đồ chơi

5.     

Đất sét công nghiệp

9 - 11 - 12

Cửa hàng ĐDDH

6.     

Que tính bằng gỗ hay nhựa

10

Cửa hàng ĐDDH

7.     

Rối “găng tay“ mèo hay chó

13 - 14 - 16

18

Cửa hàng đồ chơi

8.     

Muỗng, cốc nước, bàn chải răng, khăn giấy

15

Cửa hàng tạp hóa

9.     

Bảng lắp ráp khung lõm 4 hình : gà, dù, bướm, trái lê

23 - 24

Cửa hàng đồ chơi

 

 

STT

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

Tiết mục sử dụng số

Tìm mua tại 

10.   

Hình lắp ráp con mèo 4 mảnh

29 - 30

Cửa hàng đồ chơi

11.   

Hình lắp ráp con bò 6 mảnh

31

Cửa hàng đồ chơi

12. 

5 hình khối và 5 dĩa nhựa có màu khác nhau: đỏ -xanh da trời - xanh lá  vàng - trắng

32 - 33 - 34

Cửa hàng ĐDDH. Cửa hàng tạp hóa

13.   

“Phách” gõ nhịp

35 - 36

Cửa hàng ĐDDH Cửa hàng dụng cụ âm nhạc

14.   

Quả banh nhựa

d = 25cm

43 - 44 - 45 46 - 47 - 48

Cửa hàng đồ chơi

15.   

Cầu thang không tay vịn

49

Tìm bậc thang bất cứ nơi nào

16.   

Ghế dựa có chiều cao phù hợp

50

Cửa hàng đồ nhựa

17.   

Chiếc khăn lớn chơi trốn tìm

52

Cửa hàng tạp hóa

18.   

Ly nhựa đục, hay chiếc khăn dầy. Một đồ chơi cất dấu

53 - 60

Cửa hàng tạp hóa

 

 

STT

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

Tiết mục sử dụng số

Tìm mua tại 

19.   

Tấm gương soi

54

Cửa hàng tạp hóa

20.   

Còi

57 - 58

Cửa hàng đồ chơi

21.   

Kẹo để trong hộp nhựa trong suốt

61

Cửa hàng tạp hóa

22.   

Dây dù

62

Cửa hàng tạp hóa

23.   

Xâu hạt cườm có trụ xỏ hay que gỗ. Giấy vẽ. Bút chì màu

63 - 64 - 65 66 - 67 - 68

Cửa hàng ĐDDH

24.   

Giấy và bút nỉ màu Vẽ sẵn hình con Thỏ – 4 hình cơ bản: tròn, vuông, tam giác, chữ nhật

71 - 72 - 73  74 - 75 - 76  77 - 78 - 79  84  - 85

Cửa hàng ĐDDH

25.   

Dùng 9 chữ cái – Chữ hoa H I V D U E Y S

80 - 81 - 82 83

Cửa hàng đồ chơi Bitis 

Cửa hàng đồ chơi bằng gỗ

26.   

Giấy và kéo cắt

86

Cửa hàng tạp hóa

 

 

 

STT

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

Tiết mục sử dụng số

Tìm mua tại 

27.   

Một bao vải khá rộng + 5 vật dụng: bút chì, khối vuông, quả banh nhỏ, bút nỉ có nắp đậy, tách

87 - 88

Cửa hàng ĐDDH

Cửa hàng đồ chơi

28.   

Tấm khung

8 phần thân thể của bé trai: tóc thân, đầu, mình, tay…

89

 

Cửa hàng ĐDDH

29.   

12 khối vuông nhỏ bằng gỗ hay nhựa

93 - 94 - 95 96 - 97

Cửa hàng ĐDDH

30.   

8 khối vuông cùng màu – 6 con cờ màu đen – 2 hộp nhựa trong suốt

98 - 99     134

Cửa hàng ĐDDH

31.   

Một chiếc kẹo

3 tấm khăn dầy hay 3 chiếc ly nhựa màu xám đục

108 - 109

Cửa hàng ĐDDH

32.   

Còi, banh, trống, chìa khóa, cái lược

110

Cửa hàng đồ chơi

33.   

Một chuông nhỏ

111 - 112

Cửa hàng đồ chơi

 

 

 

STT

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

Tiết mục sử dụng số

Tìm mua tại 

34.   

Phách gõ nhịp, chuông, muỗng

113

Cửa hàng dụng cụ âm nhạc

35.   

Cuốn tập hay cuốn sách có hình ảnh

120 - 121 122- 133

Cửa hàng sách

36.   

Một trái banh, 1 ly nhựa, chó múa rối, hộp lớn đựng ly

128 - 135

Cửa hàng đồ chơi

37.   

Thức uống, 2 ly , bánh ngọt, một cái lược, bọt xà phòng

132

Cửa hàng tạp hoá

38.   

Chiếc khay hay hộp lớn

141

Cửa hàng tạp hoá

 

Quay lại Mục lục


Phụ Trương Ba: 

Phát Huy « Tư Duy  không lời » nơi trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ…

 

Từ lứa tưổi 2-3 tháng cho đến giai đoạn chung quanh 2-3 năm, trước khi ngôn ngữ xuất hiện, một trẻ em bình thường đã biết vận dụng, một cách tự phát, 3 giác quan Thị Thính và Xúc, để khám phá môi trường chung quanh. Môi trường sinh hoạt nầy bao gồm những đồ vật cụ thể trong tầm tay của trẻ em, cũng như những người thân có mặt trong gia đình.

Một cách đặc biệt, xuyên qua vai trò trung gian và sự hiện diện liên tục của người mẹ, trẻ em sẽ ngày ngày lặp đi lặp lại những kinh nghiệm giác quan như : nhìn với đôi mắt, nghe với hai tai, cũng như vui đùa, tiếp cận với tay chân hay là làn da của mình. Nhờ vào đó, trẻ em đã bắt đầu phát huy tư duy và khả năng hiểu biết của mình, bằng cách thu hóa và hội nhập một số tin tức – tuy còn rất hạn chế -  về cuộc sống đang diễn ra hai bên cạnh.

Chung quanh 2-3 năm, sau khi ngôn ngữ xuất hiện, trẻ em có thêm một phương tiện hữu hiệu khác, trong chiều hướng mở rộng vòng sinh hoạt và những quan hệ của mình. Nói khác đi, từ đây, trẻ em có thể diễn tả và thông đạt ra bên ngoài những nhận thức và hiểu biết có mặt bên trong nội tâm, cũng như chia sẻ, trao đổi và đồng cảm với những tâm tình và ý định của kẻ khác. Sáu lãnh vực như cảm giác, vận động, xúc động, quan hệ, tư duy và ngôn ngữ, lúc bấy giờ, sẽ giao thoa chằng chịt, cũng như tác động qua lại hai chiều trên nhau và phát huy lẫn nhau.

Trong tinh thần và ý hướng vừa được trình bày, khi một trẻ em vừa bộc lộ một vài dấu hiệu báo động về « nguy cơ Chậm Phát Triển hay là Tự Kỷ » – còn đang mập mờ và không chính xác – chúng ta cần xúc tiến tức khắc công việc « Can Thiệp Sớm », bằng cách tổ chức một cách đều đặn, những sinh hoạt « Kích Thích » với những chiều hướng và hình thức như sau :

-         Chiều hướng thứ nhất bao gồm những sinh hoạt như : Bắt chước, Vận động thô, Vận động tinh, Phối hợp mắt và tay…

-         Chiều hướng thứ hai là những trò chơi nhằm kích thích những sinh hoạt « Nhận Thức » còn mang tên là « Tư Duy không lời ».

Hy vọng trong tương lai rất gần, tôi sẽ lần lượt giới thiệu cho cha mẹ và giáo viên một số sinh hoạt cụ thể, nhằm kích thích trẻ em trong những lãnh vực như bắt chước, vận động hay là phối hợp mắt và tay…Trong khuôn khổ của bài chia sẻ nầy, tôi chỉ trình bày một vài bài học thuộc chiều hướng thứ hai, với những bước đi lên cụ thể và có thứ tự từ dễ đến khó.

 

                                                ****

 1.-Sinh hoạt « Sắp xếp hay là tập hợp lại với nhau 2 đơn vị hoàn toàn giống nhau »

Đặt để trước mặt trẻ em 2 chiếc đĩa bằng giấy  và bảo : « Em hãy xếp lại với nhau ».

Nếu trẻ em còn phân vân chưa biết làm, cha mẹ hay thầy cô chứng minh một lần cách làm, cho trẻ em thấy. Sau đó, tách rời các đĩa ra từng chiếc một và đặt để mỗi đĩa ở một nơi, và lặp lại lời chỉ dẫn. Nếu trẻ em thành tựu mục tiêu, chúng ta khen thưởng. Nếu trẻ em chưa làm được, chúng ta cầm tay hướng dẫn. Sau đó, hướng dẫn bằng cử điệu mà thôi, cho đến khi trẻ em thành tựu.

2.- « Sinh hoạt « Sắp xếp 3 chiếc đĩa giấy lại với nhau »

Chúng ta hướng dẫn và đi theo những thứ tự giống hệt như trên.

3.- Sinh hoạt « Thả rơi vào trong một chiếc bình hay hộp bằng nhựa trong suốt, hai hạt cườm hoàn toàn giống nhau.

Thay vào hai hạt cườm, chúng ta có thể dùng 2 khối vuông nhỏ, hay là 2 hạt đậu lớn.

Chiếc bình hay hộp cần có miệng rộng.

Sau lời chỉ dẫn, chúng ta chứng minh một lần.

Khi trẻ em đã làm được một mình với 2 hạt cườm, chúng ta tăng số lượng dần dần, từ 2 lên 5.

4.- Tách rời ra khỏi nhau 2 ly nhựa hay là hai đĩa giấy

Đặt để trước mặt trẻ em hai chiếc đĩa hay là 2 ly nhựa chồng lên nhau và bảo trẻ em : « Em hãy tách hai ly nhựa ra khỏi nhau ».

Chúng ta chứng minh một lần.

Với trẻ em đang gặp khó khăn, hướng dẫn bằng tay. Sau đó, chúng ta tạo khoảng cách, chỉ dùng cử điệu, kèm theo lời nói.

Khi trẻ em đã thành tựu với 2 đơn vị, chúng ta tăng dần lên tới 5.

5.- Xếp lại với nhau vật nào theo vật nấy.

Đặt để trước mặt trẻ em một ly nhựa chứa đựng nhiều hạt cườm, và một ly khác có nhiều khối vuông hay là một thứ khác tương tự.

Đưa cho trẻ em một hạt cườm và bảo : «  Em hãy xếp hạt cườm nầy với những hạt cườm khác ». Sau đó, đưa thêm một khối vuông và bảo trẻ em bỏ khối vuông vào ly có những khối vuông.

Sau khi trẻ em đã hiểu cách làm, chúng ta đưa cho trẻ em :

-         lần thứ nhất : 2 hạt cườm và 1 khối vuông,

-         lần thứ hai : 2 hạt cườm và 2 khối vuông,

-         lần thứ ba : 3 hạt cườm và 3 khối vuông trộn lẫn vào nhau,

-         lần thứ tư : nhiều hạt cườm và khối vuông, với số lượng không đồng đều nhau.

6.- Lần nầy, chúng ta sử dụng 2 loại vật dụng khác nhau, để sắp xếp vào trong 2 hộp hoặc 2 ly giống nhau và hoàn toàn trống rỗng.

Đặt để trước mặt trẻ em 3 chiếc xe ô-tô nho nhỏ và 3 hạt cườm (hoặc viên bi), cùng với 2 ly hay là 2 hộp nhựa. Bảo trẻ em xếp xe ô-tô vào một hộp, và xếp hạt cườm vào một hộp khác.

Chúng ta chứng minh một lần và sau đó lặp lại lời chỉ dẫn.

Sau khi trẻ em đã thành tựu, chúng ta tăng dần độ khó :

-         lần thứ nhất : đưa cho trẻ em 4 xe ô-tô và 4 hạt cườm,

-         tăng dần lên tới 6 đơn vị, trong mỗi loại,

-         Sau cùng, dùng 3 loại vật dụng khác nhau, với 3 chiếc hộp hoàn toàn giống nhau.

 7.- Sắp xếp bằng cách so sánh 3 hình khối có 3 loại hình thể khác nhau với 3 độ lớn khác nhau.

Đặt để trước mặt trẻ em 3 tấm giấy cứng có vẽ sẵn 3 loại hình khác nhau : tròn, vuông và tam giác, với 3 độ lớn khác nhau.

Đưa cho trẻ em 3 hình khối có 3 hình thể tròn, vuông và tam giác. Bảo trẻ em xếp khối tròn lên tấm giấy có hình tròn, khối vuông trên tấm giấy có hình vuông và khối tam giác trên tấm giấy có hình tam giác.

Chứng minh một lần.

Chúng ta đi theo tiến trình sau đây :

-         lần thứ nhất, dùng 3 hình khối có 3 màu khác nhau. Trên mỗi tấm giấy có hình vẽ được tô màu giống như hình khối.

-         lần thứ hai, dùng lại 3 hình khối có 3 màu khác nhau. Trên mỗi tấm giấy, chỉ tô màu rập theo màu của hình khối, các đường khung của hình vẽ mà thôi.

-         Lần thư ba, không tô màu các đường khung của hình vẽ trên tấm giấy. Chỉ có đường khung màu đen trên cả 3 tấm giấy.

8.- Phân phối một cách đồng đều

Đưa cho trẻ em 2 hạt cườm và hai ly nhựa hoàn toàn giống nhau.

Bảo trẻ em bỏ vào trong mỗi ly nhựa một hạt cườm.

Chứng minh cách làm một lần cho trẻ em thấy và hiểu.

Dùng lời nói bảo trẻ em : « Bây giờ em hãy bỏ một hạt cườm vào một ly nhựa ». Nếu trẻ em bỏ cả 2 hạt vào trong một ly duy nhất, chúng ta vừa đưa tay làm dấu và vừa nói « Không phải ». Chứng minh cho đến khi trẻ thành tựu.

Sau khi thành tựu với 2 hạt cườm và hai ly, chúng ta tăng lên 3. Rồi lên 4 và 5. Với bao nhiêu hạt đậu, chúng ta dùng bấy nhiêu ly nhựa. Nếu trẻ em đã biết bên trái và bên mặt, chúng ta bảo trẻ em bắt đầu bên trái và từ từ đi qua mặt. Tuy nhiên, chúng ta không quá nhấn mạnh đến cách làm nầy, với trẻ em đang có nhiều khó khăn.

9.- Dùng các hộp đựng trứng trong các siêu thị

Chúng ta bảo trẻ em lặp lại tác động phân phối trên đây, với các loại hộp đựng trứng trong các siêu thị.

Lần thứ nhất, dùng hộp có 6 ô và trao cho trẻ em 6 hạt cườm. Bảo trẻ em : « Hãy đặt vào trong mỗi ô trứng 1 hạt cườm ».

Ban đầu, để cho trẻ em làm một cách tự phát. Dần dần thử đề nghị làm từ trái qua mặt. Xong hàng trên, đi xuống hàng dưới. Tuy nhiên với trẻ em chưa xác định trái và mặt, trên và dưới, chúng ta không quá nhấn mạnh.

Lần thứ hai, sau khi trẻ em thành tựu công việc với hộp trứng có 6 ô, chúng ta trao cho trẻ em hộp trứng có 12 ô với 12 hạt cườm.

Thể thức tiến hành hoàn toàn giống như trước đây.

10.- Phân phối và xếp loại, bằng cách so sánh và phân biệt 2 màu sắc khác nhau (Xếp loại theo một tiêu chuẩn)

Trong bài học nầy, chúng ta dùng những vật dụng hoàn toàn giống nhau về hình thức và độ lớn, chỉ khác nhau về màu sắc. Ban đầu dùng 2 màu sắc rất khác biệt với nhau, như màu đỏ và màu xanh dương.

Cách tiến hành : Trao cho trẻ em chỉ 2 đơn vị, một màu đỏ và một màu xanh dương, cùng với 2 hộp màu đỏ và xanh dương. Bảo trẻ em : « Em hãy bỏ trái banh đỏ vào hộp đỏ, trái banh xanh vào hộp xanh ».

Sau khi trẻ em thành tựu công việc xếp loại với 2 đơn vị, chúng ta tăng dần các đơn vị lên cho tới 7 với 7 màu khác nhau.

Từ lần thứ 2 hay thứ 3 trở lên, chúng ta không dùng loại hộp có màu sắc thích hợp với vật dụng được phân phối. Chỉ dùng một loại hộp giống nhau cho bất cứ màu nào.

Vật dùng để xếp loại, theo tiêu chuẩn màu sắc, có thể là những đồ chơi nho nhỏ như: xe ôtô, máy bay, hạt bi…

11.- Trò chơi lô-tô

Sau khi trẻ em đã có khả năng so sánh và xếp lại với nhau 2 đồ vật cụ thể hoàn toàn giống nhau, chúng ta sử dụng hai hình ảnh hoàn toàn giống nhau, để tổ chức trò chơi lô-tô. Một tấm giấy cứng và lớn có nhiều hình ảnh được sắp xếp theo hàng và theo cột. Bên cạnh có những tấm hình ảnh tách rời khỏi nhau. Bảo trẻ em chọn 1 hình ảnh rời và tìm 1 ô vuông trên khung mẫu có hình ảnh hoàn toàn giống như vậy, và đặt để chồng lên nhau.

Thay vì mua sắm những trò chơi lô-tô có sẵn trong các siêu thị, cha mẹ hoặc giáo viên có thể sáng chế những tấm lô-tô với các hình ảnh quen thuộc và có cỡ lớn thích hợp với trẻ em.

Chúng ta có thể dùng :

-         lô-tô về màu sắc,

-         lo-tô về loài vật,

-         lô-tô về các vật dụng quen thuộc,

-         lô-tô về loài vật,

-         lô-tô về các loại hoa.

Mỗi khung mẫu có 4 hoặc 6 ô hay là nhiều hơn, tùy vào lứa tuổi và mức độ phát triển của trẻ em.

12.- So sánh và xếp loại theo tiêu chuẩn lớn nhỏ (cấp một)

Ban đầu chúng ta khởi sự với những khối vuông. Đưa cho trẻ em 2 khối vuông có 2 cỡ lớn khác nhau. yêu cầu trẻ em xếp một khối vuông lớn vào trong một hộp có sẵn một vài khối vuông lớn. Sau đó, xếp khối vuông nhỏ vào hộp thứ hai có sẵn một vài khối vuông nhỏ.

Lặp đi lặp lại 2 hoặc 3 lần. Sau mỗi lần, thay đổi chỗ các hộp, cho đến khi trẻ em thành tựu một cách dễ dàng.

13.- So sánh và xếp loại theo cỡ (cấp hai)

Trong tiết mục số 12, trẻ em chỉ có 2 khối vuông, để sắp xếp. Với cấp hai nầy, trẻ em có nhiều đơn vị lớn và nhỏ trộn lẫn vào nhau. Ban đầu, trong mỗi hộp, có sẵn một khối làm mẫu hướng dẫn. Khi trẻ em đã hiểu thế nào là lớn và nhỏ, chỉ có 2 hộp trống, để trẻ em chọn lựa hộp nào dành cho cỡ lớn, hộp nào dành cho cỡ nhỏ.

Những vật liệu được dùng có thể là:

-         khối vuông,

-         trái banh,

-         nút áo…

14.- Xếp loại theo cỡ (cấp ba)

Ở cấp ba nầy, chúng ta có thể dùng các loại hộp có nắp đậy. Hình thức các hộp giống nhau. Nhưng cỡ lớn khác nhau. Trao cho trẻ em 2 hộp và 2 chiếc nắp đậy khác nhau. Bảo trẻ em: “Em hãy lấy nắp đậy các chiếc hộp lại. Mỗi hộp có một chiếc nắp riêng”.

   - Lần thứ nhất,  chọn 2 cỡ rất khác nhau và dễ phân biệt,

   - Lần thứ hai, chọn 2 cỡ còn khác nhau,

   - Lần thứ ba, chọn 2 cỡ rất gần với nhau.

15.- Xếp loại theo cỡ (cấp bốn)

Dùng 2 ly nhựa có 2 cỡ khác nhau và bảo trẻ em: “Em hãy lồng ly nhỏ vào trong ly lớn.

Ban đầu, dùng hai ly có 2 cỡ rất khác nhau.

Lần thứ hai, thêm 1 chiếc ly có cỡ trung bình.

Lần thứ ba, tăng số lượng lên 4 và nhiều hơn.

Vật liệu được dùng để xếp loại:

-         những vòng tròn,

-         những loại trứng,

-         những con búp-bê của người Nga.

16.- Nhận ra những tiếng kêu của loài vật

Có 3 cách làm khác nhau:

-         Cách thứ nhất, thầy hay cô làm một tiếng kêu như: “vâu vâu, meo meo, cốc cô cồ”…Tiếp theo, hỏi trẻ em: “Con vật nào kêu như vậy?”. Trẻ em tìm một trong 3 con vật bằng gỗ hay cao-su có để sẵn trước mặt và đưa lên cao.

-         Cách thứ hai, cô cầm con vật bằng gỗ và hỏi trẻ em: “Con vật nầy kêu thế nào?”. Trẻ em cần bắt chước tiếng kêu của con vật.

-         Cách thứ ba, thầy giáo đưa lên hình ảnh của con vật và yêu cầu trẻ em làm tiếng kêu.

Chúng ta bắt đầu với những con vật quen thuộc và gần gũi như gà, vịt, chó, mèo, lợn…

17.- Nhận ra những âm thanh

Chúng ta bắt đầu với những dụng cụ thông thường như chuông, còi, lúc-lắc, trống, sáo...

-         Cách làm thứ nhất: trước mặt trẻ em, có để sẵn 2 hoặc 3 dụng cụ quen thuộc. Đằng sau một tấm màn, thầy hoặc cô có một bộ dụng cụ giống hệt. Thầy cô thổi một tiếng sáo. Sau đó yêu cầu trẻ em: “Hãy phát ra một âm thanh giống như cô”. Nếu trẻ em làm đúng, chúng ta khen thưởng lập tức. Nếu trẻ em làm sai, chúng ta bảo trẻ em hãy chăm chỉ lắng nghe. Hay là chúng ta cất tấm màn che, để cho trẻ em thấy dụng cụ trên tay của chúng ta, để bắt chước.

-         Sau khi trẻ em đã thành tựu cách làm thứ nhất, chúng ta đưa lên hình ảnh của dụng cụ và yêu cầu trẻ em phát ra một âm thanh, với dụng cụ có sẵn ở trước mặt.

-         Cách làm thứ ba là trở lại với tấm màn che, để giúp trẻ em lắng nghe và phát ra một âm thanh tương tự, với các dụng cụ có sẵn trước mặt.

-         Cách thứ tư, chúng ta cất đi những vật dụng cụ thể, và yêu cầu trẻ em làm một cử điệu như rung chuông, thổi sáo…khi nhận ra âm thanh của chuông và ống sáo.

18.- Chuẩn bị học vẽ và học viết

Trên mặt tấm bảng trước mặt trẻ em, chúng ta yết sẵn thành hàng một số hình ảnh quen thuộc, mà trẻ em đã nhận biết, như:

-         cuốn sách,

-         chiếc bàn,

-         trái banh lớn,

-         cái chén,

-         cái đĩa,

-         con mèo…

Thầy giáo hỏi: “Hình ảnh chiếc bàn nằm ở đâu? Em hãy lên lấy bút màu làm một dấu x ở bên dưới.

Chúng ta có thể thêm: dấu x màu đỏ ở dưới hình chiếc bàn, dấu x màu vàng dưới hình con mèo…, để trẻ em có thể nhận ra các bút màu khác nhau.

19.- Ý thức về sơ đồ thân thể

Bảo trẻ em: “Hãy nhìn và làm theo như thầy” :

-         đưa hai tay lên cao,

-         đưa 2 tay đụng đầu,

-         đưa tay mặt dụng trán,

-         đưa tay trái đụng tai trái,

-         ngồi xuống,

-         đứng lên,

-         đưa hai tay đụng mặt đất,

-         đưa tay mặt đụng vai bên trái,

-         đưa tay trái đụng tai bên mặt,

-         đưa 2 tay đụng đầu gối…

Sau khi trẻ em đã biết bắt chước và nhận biết các phần của thân thể, thầy giáo cho phép trẻ em làm và ra lệnh. Thầy giáo bắt chước.

Cuối cùng, thầy giáo chỉ ra lệnh, trẻ em làm. Hay là cho phép trẻ em ra lệnh, thầy giáo làm.

20.- Xếp thành đôi

Trước mắt trẻ em, chúng ta trình bày một cách lộn xộn những chiếc giày, chiếc dép và chiếc vớ. Bảo trẻ em sắp xếp lại thành đôi, một cách đứng đắn và thích hợp, theo cỡ, theo màu, theo hình thức…

21.- Kết ráp những thành phần lại với nhau của một tấm hình.

Chọn trong các tờ báo những tấm hình lớn, dán vào các tấm bìa dày và chắc. Sau đó, chúng ta cắt ra thành 4-5 mảnh. Bảo trẻ em kết ráp các mảnh lại với nhau cho đúng vị trí.

Nếu trẻ em gặp khó khăn, dùng một tấm hình hoàn toàn y hệt làm mẫu.

Dần dần, chúng ta cất đi những bản mẫu, để trẻ em có thể phỏng đoán, tìm kiếm, hình dung.

Khi trẻ em đã làm quen với cách làm, chúng ta chọn nhiều nội dung khác nhau, với số lượng các mảnh càng ngày càng tăng lên.

23.- Đo lường dung lượng

Dùng các ly nhựa trong suốt và ghi ở ngoài một lằn mức rõ ràng. Bảo trẻ em rót nước vào ly cho đến lằn mức được ấn định, trên mỗi ly.

Thay vào nước, chúng ta có thể dùng các loại hạt khác nhau, hay là cát biển…

24.- Sắp xếp các hình theo thứ tự thời gian trước sau.

Với máy ảnh, chúng ta có thể sáng tạo những bộ hình ảnh từ 3 đến 4-5 tấm, để trẻ em sắp xếp từ trái sang phải, theo thứ tự thời gian.

Ví dụ:

-         tấm thứ nhất, em A đi ra tiệm,

-         tấm thứ hai, em A mua một cây kem nơi bà bán hàng,

-         tấm thứ ba, em A trả tiền,

-         tấm thứ bốn, em A bắt đầu ăn kem.

-         tấm thứ năm, em A chỉ còn một nửa cây kem.

 

****

Với 24 tiết mục trên đây, tôi đã trình bày 24 cách làm khác nhau, mà các bậc cha mẹ hay là người giáo viên trong các trường và lớp học chuyên biệt, có thể sử dụng, để giúp trẻ em phát huy tư duy “không lời” của mình.

Mục tiêu chính yếu của tôi là chứng minh rằng: dưới hình thức vui chơi, có mặt với trẻ em, chúng ta có thể làm rất nhiều điều  đơn sơ, với những dụng cụ có sẵn trong tầm tay, để giúp trẻ em  vượt qua những khó khăn của mình, trong lãnh vực học tập và phát triển.

Chúng ta vừa làm, vừa chơi, và nhất là tạo vui thích và hứng khởi cho trẻ em học sinh và con cái của chúng ta.

Với 24 tiết mục trên đây, tôi không có tham vọng “tát cạn” mọi khó khăn và vấn đề của trẻ em. Tuy nhiên dựa vào đó, mỗi cha mẹ, cũng như mỗi người giáo viên có thể sáng tạo, với tất cả trí thông minh và lòng thương yêu rộng lớn của mình “CHO trẻ em, VÌ trẻ em và VỚI trẻ em”.


Quay lại Mục lục


Phụ Trương Bốn :  

Để giúp trẻ em có « nguy cơ Tự Kỷ » sử dụng và phát huy Ngôn Ngữ

 

       Mục đích của ngôn ngữ bao gồm 2 thể loại chính yếu.

   - Mục đích thứ nhất là diễn tả ra ngoài cho kẻ khác hiểu biết những xúc động và lối nhìn của mình đang được cưu mang trong nội tâm : « tôi CẦN gì ? » và « tôi có Ý ĐỊNH làm gì ? ».

  

- Mục đích thứ hai là thông đạt và trao đổi với kẻ khác đang kết dệt quan hệ với chúng ta. Nhờ tiếp xúc qua lại như vậy, một đàng tôi trình bày cho kẻ khác biết tôi ghi nhận và hiểu biết ý kiến của họ thế nào. Đàng khác, sau khi nghe họ phát biểu, tôi kiểm chứng cách họ hiểu biết về tôi có ăn khớp với thực tế và nhu cầu cơ bản của tôi hay không.

 

Nói một cách vắn gọn, xuyên qua vai trò trung gian của ngôn ngữ, con người có khả năng gọi ra vùng ánh sáng của ý thức, những nội dung đang hiện hình và có mặt trong nội tâm, thuộc 2 lãnh vực Tư Duy và Xúc Động. Nhờ đó, hai chủ thể đang tiếp xúc với nhau, có thể thiết lập và kết dệt qua lại những quan hệ trao đổi, đồng cảm và đồng hành, nhằm bổ túc và kiện toàn cho nhau.

 

Không nắm vững hai mục đích nầy, khi sử dụng ngôn ngữ, người nói chỉ tác động giống như keo vẹt, lặp lại một cách máy móc, hay là giống như một chiếc máy hoàn toàn vô tâm, vô trí, đang phát âm một cách tự động. Tệ hại hơn nữa là chúng ta dùng lời nói để áp đặt, cưỡng chế, tố cáo, gây ra hận thù, bạo động, chia rẽ và kỳ thị.

 

Để có thể sử dụng ngôn ngữ một cách có ý thức, trẻ em từ ngày ra khỏi cung lòng của người mẹ, đã phải kinh qua một tiến trình học hỏi và tập luyện, trong nhiều lãnh vực khác nhau, như : Bắt chước, Vận động Tinh và Thô, Phối hợp các giác quan, Tư duy và nhất là Quan hệ với kẻ khác. Nói cách khác, ngôn ngữ là thành quả, là hoa trái phát xuất từ nhiều điều kiện sinh hoạt, đang giao thoa chằng chịt và tác động qua lại với nhau.

 

Chính vì những lý do vừa được trình bày, khi một trẻ em bộc lộ những hiện tượng chậm trể về ngôn ngữ, như trong trường hợp của các trẻ em có nguy cơ « Tự Kỷ », nguyên nhân gây ra rối loạn  không hẳn chỉ được thu hẹp trong lãnh vực và giai đọan ngôn ngữ, từ lứa tuổi 15 đến 36 tháng (3 năm) mà thôi. Trái lại, chúng ta cần phải trở lui về trước, củng cố tất cả những sinh hoạt nền tảng.

 

Trong tinh thần và lăng kính ấy, nhằm trang bị cho trẻ em « có nguy cơ Tự Kỷ », những dụng cụ và điều kiện cần thiết để đi vào lãnh vực ngôn ngữ, bài chia sẻ nầy sẽ lần lượt khảo sát và đề nghị những bài học trong 3 chiều hướng sau đây:

 

-         Chiều hướng thứ nhất : Những bài học lắng nghe, tiếp thu và hiểu biết ý nghĩa của một số tình huống trong cuộc sống hằng ngày,

-         Chiều hướng thứ hai : Những bài học bắt chước kẻ khác, trong lãnh vực điệu bộ, cử chỉ… còn mang tên là « ngôn ngữ không lời »

-         Chiều hướng thứ ba : Những bài học chuẩn bị phát âm và sử dụng ngôn ngữ, nếu những cơ quan liên hệ đến vấn đề phát âm không bị thương tổn.

 

 

                                                       ***

 

 

 

Phần thứ Nhất : Những bài học về nghe và hiểu biết

 

 

Để có thể khởi đầu những bài học nầy, trẻ em cần được khám xét về mặt chuyên môn y khoa, nhất là trong lãnh vực Tai-Mũi-Họng và Hệ Thần Kinh trung ương.

 

Hẳn thực, để có thể biết nghe và hiểu,

 

-         Trẻ em không « khiếm thính » : những cơ quan và đường giây thần kinh có liên hệ đến thính giác, vẫn nguyên vẹn.

 

-         Trẻ em không thuộc diện « bại não » : thùy Thái Dương thuộc hệ thần kinh trung ương có liên hệ đến thính giác vẫn hoạt động bình thường. Thùy Trán có phần vụ điều khiển những cử động và phản ứng không bị tổn thương.

 

 

 

1.-Bài học thứ nhất : Ghi nhận và phát huy những phản ứng đối với những loại tiếng động và âm thanh, trong nhiều tình huống khác nhau.

 

Điều kiện làm việc : 2 người lớn, các loại dụng cụ như chuông, lúc lắc, trống, thanh la, kèn…

 

Một người lớn ở phía sau trẻ em, trong một lúc bất ngờ, tạo nên những tiếng động hay là những âm thanh khá mạnh.

 

Một người lớn quan sát trẻ em và ghi nhận kết quả. Nếu trẻ em có những phản ứng như giật mình, bịt tai, la ó…Hãy lại gần giải thích sự kiện, tạo an toàn và khen thưởng. Ví dụ ôm choàng trẻ em và nói : « Em nghe tiếng kèn rất lớn do cô C tạo nên, em giật mình, run rẩy, em thét la vì sợ…Như vậy, cô biết là em có lỗ tai rất thính, nghe rõ ràng. Cô mừng. Hoan hô em. Cô sẽ báo tin mừng cho cha mẹ của em…Để thưởng em, cô cho phép em chơi trò chơi nầy trong 5 phút, hay là ra chơi cầu tuột ».

 

 

 

2.-Bài học thứ hai : Phát hiện nguồn gốc của tiếng động và âm thanh.

 

Điều kiện làm việc vẫn giống như trong bài học một.

Người gây ra tiếng động hoặc âm thanh, sau khi ghi nhận phản ứng của trẻ em, lùi lại với những khoảng cách càng lúc càng xa, đối với vị trị hiện tại của trẻ em.

 

Người lớn có nhiệm vụ ghi nhận phản ứng của trẻ em, cần quan sát thêm : sau mỗi lần tiếng động xuất hiện, trẻ em có phản ứng quay đầu nhìn về phía tiếng động không. Phản ứng phát hiện nguồn gốc của tiếng động như vậy bắt đầu từ vị trí nào và chấm dứt ở vị trí nào, với âm thanh của dụng cụ nào.

 

Trong mỗi bài học, sau khi trẻ em có phản ứng, người lớn luôn luôn khen thưởng trẻ em, bằng cách phản ảnh hoàn cảnh đang xảy ra và bộc lộ cho trẻ em thấy nỗi niềm sung sướng và bằng lòng của mình. Tuyệt đối tránh xa những câu khen sáo cưởng như : « hoan hô, em giỏi lắm… » không có khả năng phản hồi cho trẻ em về giá trị hiện thực của mình. Đàng khác, những thái độ hôn hít lung tung, lộn xộn chỉ tạo nên cho trẻ em tình trạng lệ thuộc. Mục tiêu chính yếu của bài học bị đánh mất.

 

 

3.- Bài học thứ ba : Phản ứng khi được gọi bằng tên riêng của mình.

 

Thoảng hoạt trong ngày, cô giáo hay là cha me gọi trẻ em bằng tên riêng, từ nhiều vị trí khác nhau, như khi ở trước mặt, khi ở bên cạnh, khi ra xa, khi lại gần… Mỗi lần, ghi nhận phản ứng của trẻ em. Không quên khen thưởng, khi trẻ em bộc lộ phản ứng tích cực.

 

 

4.- Bài học thứ tư : « Hãy nhìn Mẹ (cô) đây này », và ghi nhận cách trẻ em trả lời, đáp ứng.

 

Vừa nói, vừa một tay giả bộ che mắt lại. Đưa ngón tay trỏ của tay kia chỉ vào miệng của mình.

 

Với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ, chúng ta hãy tập cho trẻ em bắt đầu nhìn miệng, trước khi em có thể nhìn thẳng vào mắt.

 

 

5.- Bài học thứ năm : Hiểu và Dừng lại khi người lớn nói « KHÔNG »

 

Khi trẻ em vừa khởi đầu một hành vi « rối loạn », như đánh một em khác, nhổ tóc…tức khắc nói « KHÔNG » một cách rõ ràng và nghiêm nghị.

 

Những cách làm :

 

-         Khởi đầu càng sớm càng hữu hiệu, vừa khi hành vi  mới « chớm nở, ló lên »,

 

-         Vừa nói Không, vừa lại gần trẻ em,

 

-         Chúng ta vừa tiến lại gần, nếu trẻ em còn tiếp tục, vừa đưa tay tách rời và cản ngăn hành vi. Tách rời khỏi đối tượng của hành vi (như trẻ bị đánh, đồ chơi bị ném xa…).

 

-         Tuyệt đối không nói nhiều, để rồi trẻ em không hiểu rõ chúng ta muốn nói gì. Cho nên trong tình huống nầy, nhiều tác giả như Th. PEETERS đề nghị dùng ký hiệu « Cấm xe đi qua » (Bảng tròn đỏ có hình chủ nhật trắng ở giữa).

 

-         Vừa nói Không, vừa đưa ngón tay làm dấu « Không ».

 

-         Nếu trẻ em còn tiếp tục, cầm tay trẻ em và tách rời chính trẻ em ra khỏi đối tượng.

 

-         Tuyệt đối không bảo ra ngoài, khỏi mặt chúng ta, hay là dùng kế « đánh trống lảng », bằng cách trao một đồ chơi, vì đó là những hình thức củng cố và tăng cường hành vi, thay vì giảm khinh, làm tan biến.

 

-         Cách làm cuối cùng là cô lập trẻ em, trong vòng tay cứng rắn của chúng ta.

 

Chúng ta làm tất cả và trải qua những giai đoạn trên đây, với một tâm hồn tự tin, thanh thản, an bình, không một gợn ý đồ trừng phạt, áp chế và bạo động. Theo lối nói của Spencer JOHNSON, đó là món quà Tình Yêu « loại cương » ( hard love ), mà chúng ta đang trao tặng cho trẻ em. Chính Tình yêu loại cương nầy có khả năng tạo an toàn và cấu trúc hóa cho trẻ em. Nhờ đó, trẻ em có khả năng học được bài học phân biệt :  « Tôi có thể làm được gì, và tôi KHÔNG CÓ PHÉP làm những gì, trong đời sống làm người. Hành vi hiện tại của tôi không được mẹ, cô chấp nhận. Tuy nhiên, mẹ và cô vẫn thương và kính trọng con người và giá trị của tôi ». Cũng nhờ vào ý thức nầy, sau khi làm những điều nhằm « hạn chế » trẻ em, chúng ta « không trách mình, không có mặc cảm tội lỗi, không lo buồn, trầm cảm ». Trong tiếng Anh, thuật ngữ thường được dùng, để diễn tả tâm trạng nội tâm có xu thế « tố cáo và trừng phạt mình, một cách lải nhải suốt ngày đêm » là « BURN-OUT », có nghĩa là bị thiêu rụi, bị đốt cháy thành tro tàn ». Hẳn thực, không ai ác độc với mình, bằng chính mình.

 

Một cách đặc biệt, bài học về từ « KHÔNG » cần được tổ chức thường xuyên với những trẻ em có hành vi :

 

-         tự hủy,

 

-         tấn công trẻ em khác,

 

-         lặp đi lặp lại.

 

 

6.- Bài học : « Thôi, dừng lại »

 

Song song với bài học về từ « KHÔNG »,  có giá trị rất quan trọng,  trong lãnh vực giáo dục và đời sống làm người, thoảng hoạt trong ngày, trong tuần, chúng ta cần tổ chức những trò chơi hay bài học « Dừng lại ».

 

Bài học nầy cần được tổ chức một cách tập thể, để những trẻ em đã tiến bộ có thể tác động và giúp đỡ những trẻ em bé dại.

 

Sau đây tôi xin giới thiệu một cách tổ chức « Ban Âm Nhạc », nhằm kích thích hoặc xúc tác tài năng sáng tạo của mỗi cha mẹ và giáo viên :

 

Phát cho mổi trẻ em một dụng cụ làm tiếng động, như gõ mõ, đánh trống, thổi kèn, quay lúc lắc…Ban đầu thầy hay cô làm nhạc trưởng ra lệnh cho trẻ em chơi, với bàn tay ra hiệu hay là dùng một bảng hiệu với một bên đèn xanh, bên kia dèn đỏ. Giải thích cho trẻ em hiểu về ý nghĩa của bảng hiệu hay là 2 cử chỉ « Bắt đầu » và « Dừng lại ». Một cô khác làm giám thị, có phần vụ trịch thu dụng cụ và loại ra ngoài vòng, khi trẻ em nào không thi hành đúng hiệu lệnh « Dừng lại ».

 

Sau khi mọi người đều hiểu trò chơi và biết chơi, lần lượt một em được gọi lên bệ cao làm nhạc trưởng, một em khác cũng đứng trên bệ làm giám thị.

 

Trò chơi nầy cần được tổ chức nhiều lần, với tất cả mọi trẻ em, nhất là với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ, cho đến khi mổi em thành tựu những khả năng sau đây :

 

-         Biết dừng lại khi có hiệu lệnh,

 

-         Biết điều khiển ban nhạc, với 2 mệnh lệnh « Bắt Đầu » và « Dừng Lại ».

 

-         Biết phát hiện nhạc sĩ tí hon nào không tuân lệnh của nhạc trưởng.

 

 

7.- Bài học :  « Hãy cho… »

 

Chuẩn bị và để sẵn trên bàn, gần trẻ em, những vật dụng như đồ chơi quen thuộc, con búp-bê, khối vuông, vòng tròn… Và gần chỗ của cô giáo, cũng có những vật dụng giống y hệt như vậy.

 

Để cho trẻ em làm quen và chơi với các vật dụng, trong một chốc lát. Sau đó, một tay đưa ra trước, làm cử chỉ XIN, cô giáo nói : « (Xuân) hãy cho cô con búp-bê ».

 

Đợi xem phản ứng của trẻ em.

 

Trường hợp trẻ em không hiểu, cô giáo cầm lên con búp-bê, với tay trái, và tay mặt đưa ra trước : « Xuân ơi, hãy cho cô con búp-bê ở gần bên cạnh của em ».

 

Nếu trẻ em vẫn chưa cho, chính cô giáo làm động tác cho :  « Cô cho Xuân con búp-bê của cô … Và bây giờ, Xuân cho cô con búp-bê của Xuân đi ».

 

Với những trẻ em còn bé dại, một cô giáo hay người trợ tá ở đằng sau, hướng dẫn trẻ em bằng tay. Sau 2 hoặc 3 lần, chỉ hướng dẫn bằng ngón tay trỏ.

 

 Sau khi tổ chức bài học nầy trong vòng 2-3 phút, dù có kết quả tích cực hay không, chúng ta dừng lại ca hát, làm việc khác. Nhiều lần trong ngày và nhiều lần trong tuần, chúng ta lặp lại bài học, cho đền khi trẻ em biết cách làm.

 

Từ khi đó, chúng ta thay đổi các vật dụng, mỗi khi lặp lại bài học.

 

 

8.- Bài học : « Hãy để xuống… »

 

Cách tổ chức bài học nầy cũng tương tự như trong bài học số 7.

Tiến trình :

 

-         cô làm, trẻ em bắt chước.

 

-         vừa ra lệnh bằng lời nói, vừa làm cử điệu bằng tay.

 

-         Cô giáo ra lệnh, người phụ tá hướng dẫn trẻ em làm động tác « ĐỂ xuống ». Hướng dẫn bằng tay, cho đến khi trẻ em hiểu cần phải làm gì. Sau đó chỉ hướng dẫn bằng bộ điệu.

 

-         Khi trẻ em đã biết làm, không còn hướng dẫn.

 

-         Cô giáo hãy biết chờ đợi, đừng quá thúc giục một cách vội vàng, hối hả.

 

-         Cô giáo hãy biết nhìn, quan sát, khích lệ bằng ánh mắt và điệu bộ, thay vì nói quá nhiều.

 

-         Trước mỗi bài học, chuẩn bị người phụ tá về cách hướng dẫn.

 

 

9.- Bài học : « Hãy đến đây… »

 

Sau khi trẻ em đã biết đi, biết đứng, biết ngồi về mặt vận động, cô giáo dạy thêm bài học : « Hãy đến đây… ».

 

-         Ban đầu, giữa cô và trẻ em chỉ có khoảng cách 2-3 mét, trẻ em nhìn thấy cô.

 

-         Càng ngày càng kéo dài thêm khoảng cách, từ đầu phòng đến cuối phòng.

 

-         Cuối cùng trẻ em không nhìn thấy cô, chỉ nghe tiếng cô gọi, từ một nơi khác : « Thu ơi, đến đây với cô ».

 

 

10.- Bài học : « Hãy Đứng lên, hãy Ngồi xuống… »

 

-         Ban đầu vừa dùng lời nói, vừa làm dấu hiệu « Đứng » và « Ngồi ». Cô giáo ở trường và cha mẹ ở nhà cần thống nhất với nhau, trong cuốn sổ liên lạc tùy thân, về những cử điệu cơ bản nầy.

 

-         Tổ chức bài học, với một người phụ tá ở bên cạnh trẻ em. Lúc đầu, sau khi nghe lệnh của cô giáo, cô phụ tá hãy làm, không cần chờ trẻ em. Sau khi trẻ em đã biết làm, làm sau trẻ em một chốc lát. Giả vờ quên làm một đôi khi, để xem trẻ em có nhắc cho mình hay không.

 

-         Nếu trẻ em vẫn không làm theo, cô trợ tá hướng dẫn bằng tay, lần lần chuyển qua bằng cử điệu mà thôi.

 

-         Vào giai đoạn cuối cùng, khi trẻ em đã hiểu và biết làm, cô giáo gọi trẻ em ra xa,  tại nơi không có ghế ngồi, đoạn ra lệnh :  « Hãy ngồi xuống », và quan sát phản ứng của trẻ em có biết tìm về chỗ ngồi của mình hay không ( hay là tìm một chỗ ngồi khác).

 

 

11.-Bài học : « Nhận biết những phần khác nhau của thân thể »

 

Cô giáo bảo trẻ em : « Đông ơi, đưa tay chỉ lỗ mũi nằm đâu ». Vừa nói, cô giáo vừa chỉ mũi của mình.

 

Nếu cần, nhờ người phụ tá ngồi bên cạnh trẻ em và hướng dẫn.

 

Từ từ giảm đi những điệu bộ và cách hướng dẫn.

 

Sau đây là những phần thân thể quan trọng :

 

-         chân,

-         cánh tay,

-         tay,

-         ngón tay,

-         đầu gối,

-         bụng,

-         ngực,

-         ngón tay cái,

-         ngón tay trỏ

 

Cuối cùng tập cho trẻ em làm động tác CHỈ, với ngón tay trỏ mà thôi.

 

 

12.- Bài học : « Nhận biết và thực thi những động tác với các phần khác nhau của thân thể ».

 

Thể thức tổ chức bài học nầy hoàn toàn giống như các bài học trước : vừa nói, vừa làm, dùng thêm người hướng dẫn, cuối cùng cô giáo chỉ dùng lời nói mà thôi…

 

Sau đây là những động tác, mà trẻ em cần thu hóa và nhuần nhuyễn :

 

-         đưa 2 cánh tay lên trên cao,

-         đưa tay mặt vẫy qua vẫy lại,

-         vỗ tay vào bàn,

-         vòng tay lại,

-         vỗ hai tay với nhau,

-         đưa chân lên cao,

-         khi ngồi, đưa chân nầy đụng chân kia,

-         nắm tay lại thật chặt,

-         mở tay ra,

-         há miệng ra to, ngậm kín miệng lại,

-         mở mắt ra, nhắm mắt lại…

 

 

13.- Bài học: “Nhận biết, phân biệt, cầm lấy và trao cho người khác, những dụng cụ, đồ vật quen thuộc, nhưng có hình thức khác nhau.

 

Để gần trẻ em một số dụng cụ, ban đầu sắp thành hàng 4-5 đồ vật tối đa. Dần dần tăng số lượng và đặt để các vật liệu tách rời khỏi nhau, nhưng không sắp xếp theo thứ tự.

 

Cách làm:

 

-         “Em Châu, tìm và đưa cho cô trái banh”.

-         Khen thưởng, khi trẻ em làm đúng.

-         Nói “Không phải, đây là chiếc vòng. Em hãy nhìn và tìm  trái banh”, khi trẻ em làm sai.

-         Khi trẻ em làm sai nhiều lần (hơn 2 lần), chỉ giữ lại 2 dụng cụ  rất quen thuộc mà thôi. Sau mỗi lần, thay đổi 2 dụng cụ nầy với 2 dụng cụ khác.

-         Từ từ đi lên 3 rồi 4…

-         Nguyên tắc cần thực hiện: tạo mọi điều để cho trẻ em thành tựu. Nếu cần, hãy trở lui với những giai đoạn mà trẻ em đã thành tựu một cách dễ dàng trước đây. Có thành tựu, trẻ em mới phát huy lòng tự tin, vui thích và hứng thú.

-         Nguyên tắc thứ hai cần tôn trọng là không bao giờ quá kéo dài thì giờ làm việc và tăng lên độ khó quá nhanh chóng. Một cách vắn gọn, DỪNG LẬI, trước khi trẻ em bước qua NGƯỠNG CHỊU ĐỰNG.

-         Nguyên tắc thứ ba là vừa làm vừa chơi, làm một cách hứng thứ như chơi. Và chính cô giáo hay là cha mẹ là trò chơi lớn lao nhất, có khả năng tạo vui thú cho trẻ em. Nhờ vậy trẻ em mới thích học để biết, như lòng mong đợi của cha mẹ và giáo viên…

 

 

 

14.- Bài học: “Kết hợp hai vật dụng lại với nhau”

 

-         “ Em hãy bỏ chiếc banh vào TRONG hộp”…

-         Đặt búp mê nằm TRÊN trên giường,

-         Bỏ hạt cườm vào TRONG ly nhựa,

-         Để cuốn sách lên TRÊN bàn viết,

-         Xếp hình khối vào TRONG hộp nhựa…

Về cách tổ chức bài học, hãy đi theo những tiến trình như trước đây.

 

15.- Bài học: “Biết phân biệt để chọn lựa”

 

Trong bài học số 14 vừa qua, chỉ có 2 đồ vật cần liên kết lại với nhau.

Trong bài học nầy, có thêm một đồ vật thứ ba, để trẻ em học phân biệt trước khi chọn lựa, không thể làm theo thói quen.

 

-         (con búp-bê, trái banh, cái hộp) : “Em hãy bỏ CHIẾC BANH vào trong hộp”.

-         (hạt cườm, chiếc ly, cái thau): chiếc ly trong cái thau.

-         (con gà, con bò, chiếc xách tay): con gà trong xách tay.

 

Trong bài 14, chú trọng vào vị trí.

Trong bài 15, chú trọng vào việc chọn lựa.

 

 

16.- Bài học: “Thay đổi những động tác…”

 

-         ném xa trái banh,

-         đưa chân đẩy trái banh ra trước,

-         bỏ tờ giấy vào giỏ rác,

-         há miệng ra,

-         để cuốn sách trên bàn của cô,

-         đi đóng cửa lại.

 

Lặp lại mỗi động tác 3-4 lần,

Tổ chức bài học nầy nhiều lần trong ngày và trong tuần, cho đến khi trẻ em không còn do dự.

 

 

17.- Bài học: “Sơ đồ Thân Thể”

 

 

Bài nầy tiếp nối  các bài số 11 và 12. Ở đây, chúng ta chú trọng vào những thành phần thoát khỏi tầm mắt của trẻ em. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, chúng ta vừa ra lệnh, vừa làm trên mình chúng ta, để giúp trẻ em vừa nghe, vừa nhìn, vừa bắt chước.

Sau khi trẻ em đã quen thuộc với cách làm, chúng ta chỉ dùng lời nói mà thôi.

 

“Em hãy lấy tay chỉ cho thầy…..”

-         đầu,

-         mắt,

-         miệng,

-         mũi,

-         tóc,

-         răng,

-         lưỡi,

-         lưng,

-         ót.

 

 

18.- Bài học: “Di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác…”

 

Trong giai đoạn đầu, có người phụ tá hướng dẫn.

Sau khi trẻ em đã làm quen với những nơi khác nhau trong lớp và gần lớp, chúng ta bảo trẻ em đến những nơi khác như phòng ăn, phòng tắm, lớp học của cô A, thầy B…

 

Một vài ví dụ:

-         “Em hãy đi đến cửa ra vào…”

-         đến cửa sổ,

-         đến bàn viết của cô,

-         đến phòng tắm,

-         đến hồ bơi,

-         đến nhà bếp…

Khi trẻ em di chuyển, người lớn đưa mắt xem chừng hay là nhờ người khác theo dõi.

 

 

19.- Bài học: “Đi đến một nơi và mang về một đồ vật từ nơi ấy”

 

Ví dụ:

-         Em đi qua phòng ăn, lấy mang về cho cô một cái muỗng.

-         Em ra chỗ treo áo, lấy chiếc mũ của em đem về đây.

-         Em qua lớp của cô C, mời cô qua đây…

-         Con ra ngoài vườn, mời ba vào ăn cơm,

-         Con vào phòng khách, lấy cái ly cho mẹ…

 

 

20.- Bài học: “Phát âm, bắt chước các con vật quen thuộc…”

 

Khi trẻ em líu lo, bập bẹ một cách tự phát, người lớn bắt chước và khuyến khích trẻ em kéo dài thêm, một cách vui thú.

Bắt chước nhưng tiếng mèo kêu, chó sủa, chim hót, em bé khóc…

Tổ chức trò chơi với một vài trẻ em khác, để trẻ em bắt chước nhau, như giả bộ khóc hu hu, cười ha ha, thút thít.

 

                                                      

 

 

Phần thứ hai: Những bài học Bắt Chước

 

Trong phần thứ nhất vừa qua, cũng như trong 2 cuốn sách “Trẻ em Tự Kỷ” (2005) và “Nguy cơ Tự Kỷ” (2006), tôi đã trình bày và giới thiệu nhiều bài học về Bắt Chước. Một cách đặc biệt, tôi đã nhấn mạnh rằng: trẻ em chỉ bắt chước những người mà các em có quan hệ thương yêu và gắn bó với mình.

 

Thay vì lặp lại những điều đã được đề cập với đầy đủ mọi chi tiết, ở đây tôi chỉ nhắc lại một số bài học cơ bản.

 

 

 

21.-Bài học: “Hãy nhìn …”

 

Xem lại bài học số 4 trên đây.

Một trong những triệu chứng cần phát hiện, nơi trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ, là những trẻ em nầy không có “liếc nhìn thẳng mặt, mắt chạm mắt”. Ngay từ giây phút đầu tiên, sau khi sinh ra, được mẹ bồng ẵm, trẻ em uốn cong lưng, như vòng cung, và nhìn xuống, thay vì nhìn thẳng vào mắt của mẹ.

 

Cho nên bài học “Hãy nhìn Mẹ…” phải được bắt đầu rất sớm, được chừng nào hay chừng ấy.

 

-         Người mẹ dùng đôi môi làm tiếng động, để giúp con chú ý đến lỗ miệng của mình, cầm tay con đưa lên miệng hôn.

-         Rồi từ lỗ miệng, giúp con đưa tay đụng cằm, đụng tai, đụng tóc… trước khi đưa tay tiếp xúc với mắt mẹ và nhìn mẹ.

-         Ngày ngày lặp lui lặp tới những động tác nho nhỏ như vậy, nhất là khi cho con bú, người mẹ không nôn nóng hay là buồn phiền, chỉ thanh thản xác tín rằng: có gieo thì có gặt, nước chảy đá mòn.

 

Nhiều bậc phụ huynh không ngần ngại lặn suối trèo non, đi tìm những vị thầy và thang thuốc ở tận bốn phương trời cho con, không kể tốn kém và nhọc mệt. Tôi chỉ yêu cầu họ có mặt với con, ngắm nhìn con, vui với con, hạnh phúc với con, cầm tay con để giúp con tiếp xúc với làn da và thớ thịt của mình.

 

Không đợi chờ, không nôn nóng, không phiền trách ai cả…thì thế nào, cơ hồ một bụi tre hay bụi trúc, sau 3 năm trời nằm im lìm dưới lòng đất, mới có thể nhú lên một chồi măng. Từ khi đó, cây tre sẽ lớn lên vùn vụt.

 

Phải chăng đó là bài học mà người lớn, như cha mẹ và thầy cô… phải học, để cho trẻ em, con cái và học sinh của chúng ta có thể học bao nhiêu bài học khác, trong cuộc sống làm người?

 

-         Mẹ đẩy một chiếc xe về phía con, ba cầm tay giúp con đẩy chiếc xe trả về cho mẹ,

-         Đẩy trái banh tròn,

-         Đưa tay vỗ vào mặt trống,

-         Rung chuông nho nhỏ,

-         Quay lúc lắc…

 

Khi trẻ em đã bắt đầu biết làm, người giúp trẻ em chỉ dùng lời để khuyến khích.

 

 

23.- Bài học: “ Học làm những động tác như…”

 

-         mở cuốn sách ra,

-         thả rơi một hạt đậu và ly nhựa,

-         đưa tay vào hộp lấy trái banh,

-         vỗ hay gõ vào mặt bàn, mặt trống,

-         ngồi trong lòng ba, lòng mẹ, lòng cô…tập chồng một khối vuông lên trên khối vuông khác,

-         lấy nắp đậy chiếc hộp,

-         đưa tay sờ lỗ mũi…

-         vẫy tay chào,

-         vỗ hai tay…

 

  

24.-Bài học: “Bước nhè nhẹ  vào vùng ngôn ngữ số I”

 

-         le lưỡi như….

-         há miệng ra to như…

-         thổi tắt ngọn nến như…

-         chu hú miệng như…

-         gây tiếng bập bập với đôi môi như…

-         đưa lưỡi liếm môi trên,

-         liếm môi dưới,

-         liếm môi dưới,

-         le lưỡi qua mặt và qua trái…

 

 

25.- Bài học: “Bước nhè nhẹ vào vùng ngôn ngữ số II”

 

-         Phát âm “A, A…” như…

-         Phát âm “Ô, Ô…”như…

-         I, I, I…

-         Mơ, Mơ, Mơ…

-         Pờ…

-         Bờ…

-         Cờ…

 

 

26.- Bài học: “Bước nhè nhẹ vào vùng ngôn ngữ số III”

 

-         gọi BA, BA,BA… như…

-         gọi Má như…

-         làm bò rống BÒ… như…

-         làm mèo kêu MEO… như…

-         làm gió thổi VÙ, VÙ … như…

-         làm chó sủa Vâu Vâu… như…

 

 

 

                                                       ***

 

 

 

Phần thứ BA: Những bài học về diễn tả và thông đạt

 

 

 

27.- Bài học: “Phát âm theo lời yêu cầu”

 

Suốt một ngày hay một tuần, tập trung vào việc lắng nghe, quan sát và ghi nhận tất cả mọi âm thanh mà trẻ em có thể phát ra khi chơi một mình, cũng như khi trao đổi với người lớn cũng như với bạn bè.

 

Liệt kê một cách đầy đủ  mọi âm thanh, vào một cuốn tập, ghi thêm đầy đủ những điều kiện và hoàn cảnh xuất hiện.

 

Dựa vào đó, chúng ta sẽ lần lượt yêu cầu trẻ em phát ra lại những âm thanh, trong bản liệt kê số 1.

 

Cách làm:

 

-         Giai đoạn Một: Trở lại với bài học bắt chước với tất cả mọi âm thanh để kiểm chứng khả năng của trẻ em. Người lớn làm, trẻ em bắt chước. Kiểm chứng lại từng âm thanh.

-         Giai đoạn Hai: Cô giáo chỉ yêu cầu bằng lời nói, trẻ em thực hiện công việc phát âm.

-         Giai đoạn Ba: Sau độ một tuần làm việc, như đã lên kế hoạch trong giai đoạn Hai, chúng ta làm lại một bản liệt kê số 2, gồm có những âm thanh mà trẻ em phát ra một mình, khi được yêu cầu.

-         Giai đoạn Bốn: Liên tục trong một thời gian, yêu cầu trẻ em phát ra lại các âm thanh, cho đến lúc nhuần nhuyển, với từng âm thanh trong bản số 2 .

 

 

28.- Bài học: “Ghép lại các âm thanh, theo từng cặp thành một từ có ý nghĩa”

 

Ví dụ: BA- MÁ, XE-MÌ…

 

Dựa vào những kết quả ấy, chụp những tấm ảnh của Ba và Má, tìm ra những hình của bánh mì và chiếc xe, để cho trẻ nhìn và phát âm.

 

Cách tổ chức bài học:

-         Chúng ta đưa ra 1 trong 4 tấm ảnh và hỏi: Ai? Cái gì?

-         Khi trẻ em đã học và có khả năng phát âm một cách dễ dàng với mỗi hình ảnh trên đây, chúng ta ghép lại hai hình với nhau, để trẻ em nhìn, đưa tay chỉ và phát âm, như: Ba Má, Xe Mì.

 

 

29.- Bài học: “Gọi tên những đồ dùng, con vật và người quen thuộc, trước mổi hình ảnh”.

 

Mỗi ngày làm việc với trẻ em chỉ độ 5 phút, cho đến ghi trẻ em trả lời một cách dễ dàng 2 câu hỏi, trước mỗi tấn hình: “Ai đây? Cái gì đây?”

 

Từ những bài học nầy, trẻ em sẽ ngày ngày mở rộng thêm những chân trời ngôn ngữ của mình.

 

Cách trình bày bài học và cách hướng dẫn trẻ em vẫn đi theo những giai đoạn, mà tôi đã nhắc lui nhắc tới trong các bài học từ trước đến giờ.

 

30.- Sau khi trẻ em đã nhuần nhuyễn bài học số 29, chứng ta trở về với những bài học Phát Huy TƯ DUY. Từ đây, bài học sẽ có mục tiêu là dùng ngôn ngữ để trả lời những câu hỏi như: Ai đây? Cái gì đây? Người ấy làm gì? Ở đâu? …

 

Tôi hy vọng với 30 bài học và cách tổ chức những giai đoạn đi lên trong mỗi bài học, tôi đã nắm tay mỗi bạn và từ từ cùng đi lên. Đây là lúc, tôi cảm thấy cần rút lui, để mỗi bạn tiếp nối công trình sáng tạo cho con cái và học sinh của mình. Khi nào các bạn gặp khó khăn, trắc trở, hãy “nhìn lên và nhìn xa”. Một cánh cửa vô hình sẽ mở ra. Một vị thầy sẽ xuất hiện từ lòng Đất, lòng Trời hay là lòng Đại Dương.

 

                                              ***

 

 

Con đường đi tới mới bắt đầu.

Con đường đi tới còn rất dài.

 

Nhưng cả người lớn – cha mẹ hay là giáo viên - và trẻ em đang học bài học làm người với nhau, và đã tạo quan hệ gắn bó qua lại, một cách hài hòa.

 

Trong tinh thần và điều kiện ấy, đi mỗi ngày một bước, học mỗi ngày một bài học nho nhỏ… là điều quan trọng. Kỳ dư, chúng ta sẽ đến đâu? Điểm hẹn là nơi mà chúng ta LÀM NGƯỜI và THÀNH NGƯỜI.

 

Trong văn hóa cũng như truyền thống Việt Nam, làm Người cũng còn có nghĩa là làm Đất, làm Đại Dương và làm TRỜI. Phải chăng đó là câu trả lời của những ai mang dòng máu của Con Rồng cháu Tiên, cho những thế hệ con em và cháu chắt ngày mai, đang tiếp nối con đường đi muôn dặm của mình?


Quay lại Mục lục


PHỤ TRƯƠNG NĂM 

Bốn con “Yêu Tinh”…

Trên mọi nẻo đường của Đất Nước

 

Thể theo lối nhìn của tác giả Stephen R. COVEY (1),  lãnh đạo trong những điều kiện và nhu cầu sinh hoạt của mỗi người thuộc thời đại “Nghìn năm Thứ Ba”  không còn và không thể mang ý nghĩa “ Từ trên rót xuống” hay là “ Từ ngoài lèo lái, áp đặt, ức chế một cách đơn phương , độc tấu và độc lộ ”.

Trong cụôc sống làm  người và thành người, để đảm nhiệm vai trò lãnh đạo của mình một cách đúng đắn  và  hũu hiệu, mỗi người bắt đầu học tập và tôi luyện ba thái độ, hay là ba động tác cơ bản sau đây:

-        Thứ nhất, tôi khám phá bản sắc hay là con người đích thực và cao cả của tôi .

-        Thứ hai,  tôi diễn tả, bộc lộ ra ngoài những giá trị làm người của tôi, qua lời ăn tiếng nói và những quan hệ hai chiều qua lại,  giữa  tôi và người khác .

-        Thứ ba, tôi tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi, tốt hảo, để mỗi người anh chị em hai bên cạnh cũng  có khả năng khám phá và diễn tả bản sắc sâu xa và chân chính của mình,  ngang hàng tôi, giống như tôi.

Nhằm triển khai lối nhìn “ Làm người và thành người ” vừa được đề xuất, bài chia sẻ này lần lượt giới thiệu hai phần:

* Trong phần Một, khi đảm nhiệm vai trò lãnh đạo trong bất cứ môi trường nào, tôi sáng  suốt ý thức và thực hiện bốn chiều kích làm người : THÂN, TRÍ, TÂM và ĐẠO.

** Trong phần Hai, bốn con yêu tinh ma quái sẽ xuất đầu lộ diện và ngự trị trong cõi lòng,  khi tôi dồn nén, lảng quên hay là chà đạp  “Bốn tiếng nói làm người”,  trong mỗi quan hệ tiếp xúc và trao đổi với anh chị em đồng bào, đồng lọai.

 

                                           *** 

Phần một : Thân, Trí, Tâm và Đạo là bốn nhịp thở của một con người  ĐANG LÀM NGƯỜI   

Khi ý thức mình là “ Người đang thành và sẽ thành ”, tôi từ từ gọi ra ánh sáng và cố quyết thực hiện bốn chiều kích cơ bản, trong mỗi lối nhìn và quan hệ của tôi. 

-         Chiều kích thứ nhất là THÂN

Làm người, chúng ta có hai tay để làm, hai chân để đi, hai mắt để thấy, làn da để xúc cảm. Tuy nhiên, như Tổ Tiên, Cha Ông chúng ta đã và đang còn nhắn nhủ, dạy bảo :

                            “Một cây làm chẳng nên non ,

                            “Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”.

Hẳn rằng, mỗi người chỉ là hạt nước  bé mọn trong lòng Quê hương, Ðất nước. Thế nhưng, nhờ quan hệ thân tình, mỗi hạt nước làm nên đại dương bao la hùng vĩ, bằng cách đóng góp phần mình, để bổ túc và kiện toàn những gì đang còn thiếu sót trong cơ cấu hiện tại của núi sông và cuộc  sống của anh chị em đồng bào.

Thay vì tố cáo, phê phán, chửi bới, đổ lỗi cho người khác, khi một thiếu sót hoặc lỗi lầm xuất hiện đó đây, chúng ta hãy thắp lên một ngọn đèn trong lòng cuộc đời.

Giữa đêm tối bão bùng đang đe dọa từng tấc đất, từng ngọn nước, từng mầm sống, chúng ta hãy kiên cường làm cây hải đăng cho người anh chị em hai bên cạnh mình.

Khi có một vấn đề xuất hiện bất kể từ đâu… chúng ta có trách nhiệm sáng tạo câu trả lời. “Thắp lên một bó đuốc, thay vì ngồi nguyền rủa bóng đêm”.

-         Chiều kích thứ hai là TRÍ.

Nhờ TRÍ ,chúng ta khám phá, tiên liệu, dự phóng một con đường, một hướng đi, một điểm  hẹn hò. Từ đó chúng ta cùng nhau chia sẽ một lối nhìn. Chúng ta cùng cưu mang và  đeo đuổi một số gía trị. Cùng nhau xác định ưu tiên số một là gì, điều nào là điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch hành động của chúng ta. 

Nhờ TRÍ, chúng ta “Trăm người như một, một người như trăm”.  Cho nên, ai đau buồn, mà lòng tôi không trăn trở? Ai đang ngủ đêm trên đường phố lạnh lẽo, mà lòng tôi không nhức nhối, bồi hồi?</