Nguy cơ tự kỷ ở trẻ từ 0 đến 7 tuổi (GS Nguyễn Văn Thành)

07/12/2016 | 3512 | Quản trị viên | Kiến thức - Phương pháp can thiệp

Với một trẻ em DƯỚI SÁU TUỔI, và nhất là khi tất cả năm triệu chứng trên đây chưa được hội tụ một cách đầy đủ, rõ ràng và khách quan, chúng ta cần có thái độ thận trọng và dè dặt, không bao giờ áp đặt nhãn hiệu Hội Chứng Tự kỷ, một cách quá vội vàng và chủ quan.

NGUY CƠ TỰ KỶ Ở TRẺ TỪ 0 – 7 TUỔI

Giáo sư: Nguyễn Văn Thành

 

NỘI DUNG

Lời Mở Đường: Tư Duy Cấu Trúc

CHƯƠNG MỘT: Xác định Mức Độ Phát Triển hiện tại của trẻ em

Chương Hai : Nội Dung chi tiết của 174 tiết mục trong Bản Lượng Giá

Chương BA : Thể thức tổ chức Công việc Lượng Giá

Chương Bốn: Thiết lập Dự Án Can Thiệp hay là Dạy Dỗ

Chương Năm: Những Hành Vi Rối Loạn

Chương Sáu: Định Lý của Douglas M. ARONE về Hội chúng Tự Kỷ

Cùng một tác giả

Lời Nói Cuối : YÊU THƯƠNG là một Động Từ 


Lời Mở Đường:

Tư Duy Cấu Trúc

Trong cuốn sách « Trẻ Em Tự kỷ : Phương thức giáo dục và dạy dỗ »  (Mùa Hè 2005), tôi đã liệt kê và khảo sát, dưới nhiều khía cạnh khác nhau, năm triệu chứng chủ yếu có mặt trong hội chứng tự kỷ.

-  Triệu chứng thứ nhất là đời sống bít kín, không có những quan hệ tiếp xúc và trao đổi qua lại với những người đang cùng có mặt trong môi trường sinh sống hằng ngày, thậm chí xuyên qua liếc nhìn « mắt chạm mắt », hay là « đưa ngón tay trỏ » chỉ đồ vật mong muốn,

-  Triệu chứng thứ hai là ngôn ngữ bị rối loạn dưới nhiều hình thức khác nhau, hay là hoàn toàn không có mặt,

-  Triệu chứng thứ ba là vấn đề « lặp đi lặp lại » những câu nói hay là tác phong, một cách máy móc và tự động, gần như suốt ngày, nhất là khi trẻ em không có việc gì để làm, để nhìn, để nghe hay là để tiếp cận bằng xúc giác,

-  Triệu chứng thứ bốn là những hành vi bạo động và tấn công kẻ khác hay là hủy hoại chính mình, như nhổ tóc, đập đầu vào vách tường, cắn mạnh vào tay và gây ra những vết thương trầm trọng…

-  Triệu chứng sau cùng là những bộ điệu và cách đi đứng lạ lùng, kỳ dị, những cách làm khác thường, như áp tai xuống sát mặt đất để lắng nghe, ngắm nhìn một cách say mê những hạt bụi, những tia nắng, những kẽ hở… Một số trẻ em có những cơn động kinh nhẹ và nặng. Một số trẻ em khác có thói quen « nhìn trời đất, trăng sao… và phát âm một mình », cơ hồ đang trao đổivà chuyện trò một cách hăng say, với những bóng hình tuy dù xa xôi, nhưng vẫn hiện thực…

Tuy nhiên, như tôi đã nhấn mạnh lui tới nhiều lần, với một trẻ em DƯỚI SÁU TUỔI, và nhất là khi tất cả năm triệu chứng trên đây chưa được hội tụ một cách đầy đủ, rõ ràng và khách quan, chúng ta cần có thái độ thận trọng và dè dặt, không bao giờ áp đặt nhãn hiệu Hội Chứng Tự kỷ, một cách quá vội vàng và chủ quan.

Thay vào đó, cách đây chừng trên dưới 10 năm, cách nhà chuyên môn thường dùng cách nói « có nguy cơ tự kỷ ». Từ đó,  cách làm và thái độ được đề nghị là « can thiệp tức khắc, càng sớm càng tốt ».

Hẳn thực, càng phát hiện và can thiệp sớm như vậy, chúng ta càng có nhiều cơ may tạo ra những điều kiện thuận lợi tối đa, nhằm giúp những trẻ em có nguy cơ tự kỷ, có thể chận đứng kịp thời những rối loạn đang thành hình. Trong trường hợp ngược lại,những triệu chứng sẽ dần dần lan tỏa ra, từ địa hạt phát triển nầy sang qua địa hạt phát triển khác, trong suốt thời gian và giai đoạn từ 0 đến 7 tuổi.

Chính vì lý do nầy, các tài liệu y khoa và giáo dục đương đại, cũng như các hội nghị quốc tế đã đề nghị sử dụng cách nói « trẻ em PDD » (Pervasive Developmental Disorders), hay là « TED » (Troubles Envahissants du Développement).

-  Disorders trong tiếng Anh,  hay là Troubles trong tiếng Pháp có nghĩa là những rối loạn,

-  Developmental hay là

Développement : địa hạt phát triển,

-  Pervasive (to pervade) hay là Envahissant (envahir) : lan tỏa, lấn chiếm.

Tuy nhiên, với một số trẻ em, trong điều kiện và hiện tình tiến bộ của y khoa cũng như của bao nhiêu phương pháp giáo dục và sư phạm, hội chứng Tự kỷ vẫn chưa được chận đứng một cách hoàn toàn, mỹ mãn và dứt điểm.

Hiện thời, khắp đó đây, nhất là trong các xứ sở văn minh và tiến bộ, nhiều công trình nghiên cứu đang được thực hiện một cách qui mô, nhằm tìm cách giải đáp hai loại câu hỏi khác nhau :

-  Câu hỏi thứ nhất : Hội chứng Tự kỷ phát xuất từ yếu tố bẩm sinh, từ gên hay là từ những điều kiện của môi trường ?

-  Câu hỏi thứ hai : Con em của chúng ta, từ ngày sinh ra hay là trong suốt tiến trình tăng trưởng và phát triển, đang trình bày những rối loạn « lan tỏa và lấn chiếm », trong bốn địa hạt cảm giác, tư duy, xúc động và quan hệ xã hội. Trước tình huống ấy, với tư cách là cha mẹ, thầy cô, hay là những người có trách nhiệm trong xã hội, chúng ta có thể và có bổn phận làm những gì cụ thể và hữu hiệu trong tầm tay của chúng ta ?

Cuốn sách này, với tụa đề « Nguy Cơ Tự kỷ, nơi trẻ em từ 0 đến 7 tuổi » (Hè 2006), sẽ trả lời một phần nào cho cả 2 câu hỏi ấy. Những chương đầu sẽ lần lượt giới thiệu bốn đường hướng giải quyết :

-  Thứ nhất, khi đứng trước một trẻ em có nguy cơ tự kỷ, việc đầu tiên chúng ta cần làm, là  xác định mức độ phát triển hiện tại của em, bao gồm : - Những điều trẻ em đã có thể làm một mình, - Những điều trẻ em chưa thể nào làm được với bất kỳ giá nào, - Sau cùng, những điều trẻ em bắt đầu dám làm và muốn làm, tuy dù chưa thành tựu, dưới sự hướng dẫn khích lệ của chúng ta.

-  Thứ hai, dựa trên những khởi điểm ấy, chúng ta đề xuất một dự án can thiệp, giáo dục và dạy dỗ. Những mục tiêu cụ thể, chúng ta quyết định nhắm tới và thực hiện, bao gồm những yếu tố nào ? Trong các chiều hướng chọn lựa ấy, ưu tiên số một là gì ? Nói khácđi, đâu là điều quantrọng bậc nhất cần được đặt lên HÀNG ĐẦU, trong những điều chúng ta thành tựu với trẻ em và cho trẻ em ?

-  Thứ ba, kế hoạch hành động của chúng ta là gì  ? Với những động tác cụ thể nào, chúng ta tìm cách thực hiện dự án mà chúng ta đã thiết lập ? Nói cách khác, ngày hôm nay, tôi có trách nhiệm làm những gì thuộc ƯU TIÊN SỐ MỘT, để giúp trẻ em có khả năng chuyển biến dự án thành hiện thực trong tầm tay và cuộc sống ? Thay vì ôm đồm, để rồi tràn ngập, mất an lạc và sáng suốt, chúng ta hãy từng bước nho nhỏ đi lên, một cách kiên định và xác tín.

-  Thứ bốn, chúng ta sẽ đánh giá kết quả như thế nào, sau những kỳ hạn với bao lâu tháng và năm  ? Nếu kết quả thành đạt, chúng ta cần tiếp tục làm những gì ? Trái lại, khi không có những thành tựu, như đã được dự trù, chúng ta sẽ có những thái độnào ? Đổi thay những gì ?

Một trong những tiêu chuẩn đánh giá quan trọng bậc nhất là điều kiện hòa hợp môi trường và môi sinh. 

Hẳn thực, mỗi trẻ em – cho dù ở trong một hoàn cảnh khó khăn đến độ nào – vẫn là một CON NGƯỜI toàn bích và toàn diện, thực sự và trọn vẹn, có những giá trị tự tại, cần được mọi người tôn trọng, trong mỗi quan hệ tiếp xúc qua lại hai chiều.

Ích lợi gì khi trẻ em lặp lại được một đôi từ, phát ra một đôi âm, hay là làm được một số tác động… mà phải trả một giá rất đắt là « bị đánh đập, đe dọa, trừng phạt », nghĩa là bị cư xử, đối đãi như một đồ vật, một con vật ?

Nói khác đi, trẻ em – cho dù ở trong một tình huống rối loạn đến độ nào chăng nữa – cũng vẫn có khả năng từ từ tiếp thu, ghi nhận và hội nhập những động tác làm người như XIN, CHO, NHẬN và TỪ CHỐI. Nhằm thâu đạt kết quả ấy, điều kiện tiên quyết là chính chúng ta – cha mẹ, giáo viên vànhững người trưởng thành trong môi trường xã hội – cần sống và thực hiện với nhau, cũng như với con em của mình, những quan hệ hài hòa, xây dựng, tôn trọng và thấm nhuần bản sắc LÀM NGƯỜI.

Bốn yếu tố vừa được nêu lên, trong cách giáo dục và dạy dỗ của chúng ta, còn mang tên là « Tư Duy Cấu Trúc ». Nhờ vào kỹ năng nầy, chúng ta sống thức tỉnh hay là ý thức, có nghĩa là nhận biết rõ ràng cách thức mình sẽ giải quyết mỗi vấn đề đang xảy ra:

-  Hiện tại tôi đang ở đâu ?

-  Tôi đi đến đâu ?

-  Tôi quyết định sử dụng con đường nào ?

-  Trong hành trang của tâm hồn, tôi mang sẵn những năng động nào ?

-  Đồng thời, đâu là những bị động, còn len lỏi nằm vùng trong đáy sâu của tâm hồn, có thể cản trở bước chân vươn tới và thực hiện của tôi ?

- Một cách đặc biệt, những loại xúc động nào đang làm cho tâm hồn và tư duy của tôi bị tràn ngập và tê liệt hoàntoàn ?Hẳn thực, chính tôi bị rối loạn, đến độ tôi có mắt nhưng không còn thấy. Tôi có tai nhưng không còn nghe. Tôi có tay chân, làn da, nhưng không còn cảm nhận, nhạy bén truớc những nhu cầu và yêu cầu của đứa con sinh ra từ cõi lòng của tôi.

Trong tinh thần và lăng kính ấy, lắng nghe trẻ em đang nói một thứ ngôn ngữ « không lời », cùng ĐI với trẻ em trên những nẻo đường « cô đơn và cô độc », mở rộng hai cánh tay và cõi lòng, để « đón nhận vô điều kiện » trẻ em, đó là những điều quan trọng.

Kỳ dư, tôi sẽ đến đâu ? Đến khi nào ?

Về hai câu hỏi nầy, Cha Ông Tổ Tiên chúng ta đã trả lời : Có Nhân Hòa, tự khắc có Thiên Thời và Địa Lợi trong cõi lòng và cuộc đời của chúng ta. Nhân Hòa phải chăng là « Định Lý », theo cách nói và lối nhìn của tác giả Douglas M. ARONE, có khả năng điều hướng và điều hợp mọi dự án và kế hoạch của chúng ta ? Nhân Hòa phải chăng là động cơ đang thúc đẩy chúng ta sáng tạo một cuộc sống có những chiều kích thíchhợp với một trẻ em, đang bị Hội Chứng Tự kỷ đe dọa, trong từng tế bào và thớ thịt của mình ?


CHƯƠNG MỘT:

Xác định Mức Độ Phát Triển hiện tại của trẻ em

 

Lượng giá mức độ phát triển hiện tại  của một trẻ em có nguy cơ tự kỷ là cách làm đầu tiên cần được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và khoa học, trước tất cả mọi toan tính và dự định can thiệp, giáo dục và dạy dỗ. Hẳn thực, không bắt đầu từ điểm xuất phát nầy, tất cả những dự án, mà chúng ta thiết lập « vì trẻ em và cho trẻ em », chỉ là « nước rơi đầu vịt », hay là « dã tràng xe cát bể đông ».

Can thiệp hay là giáo dục và dạy học, lúc bấy giờ, chỉ là áp đặt từ bên ngoài, từ trên rót xuống, sử dụng mọi phương tiện bạo động nhằm cưỡng chế trẻ em phải thay đổi, một cách máy móc và tự động.

Dạy cho trẻ em bài học làm người, trái lại, là « cùng làm người một cách thực sự và trọnvẹn với trẻ em », bằng cách giúp trẻ em từ từ sống tự lập, tùy theo lứa tuổi khôn lớn và mức độ phát triển tâm lý của mình. Làm người như vậy là biết chọn lựa và quyết định, cũng như ngày ngày thực thi một cách có ý thức, những giá trị khả dĩ thăng tiến bản thân và cuộc đời. 

1.- Ba Vùng Sinh Hoạt

Trong thực tế hành động, để thực thi công việc lượng giá như vậy, tác giả Eric SCHOPLER đã sở hữu hóa lối nhìn của L.S. VYGOTSKY, về phương thức xác định ba VÙNG SINH HOẠT của trẻ em.

- Vùng thứ Nhất mang tên là vùng tự lập. Ở đây, trẻ em đã có khả năng sống một mình, làm một mình, chơi một mình, không cần có sự giúp đỡ hoặc khích lệ của một người lớn.

- Vùng thứ Ba mang tên là vùng xa lạ. Ở đây, với những điều kiện tâm lý hiện tại, trẻ em không có khả nănglàm chủ tình hình, hay là không thể nào thực hiện một điều gì, cho dù với sự giúp đỡ và khích lệ tối đa của một người lớn. Nếu bị ép buộc phải sinh hoạt, trong vùng xa lạ nầy, trẻ em sẽ tức khắc từ chối, bằng những hành vi chạy trốn, khóc la, nhắm mắt, bịt tai, ngoảnh mặt nhìn chỗ khác. Nếu người lớn không hiểu cách từ chối của trẻ em, vẫn tiếp tục thúc ép, đòi hỏi, áp đặt… trẻ em sẽ từ từ thoái hóa, sa vào tình trạng tê liệt, bị động, ù lì và trầm cảm nặng.

- Vùng thứ Hai, nằm ở giữa hai vùng kia, mang tên là vùng học tập hay là vùng trung gian. Khi nhận thấy trẻ em đang sinh hoạt một cách tự lập và bộc lộ ra ngoài thái độ vui thích và hứng khởi, một người lớn có những hiểu biết tâm lý và khả năng sư phạm, sẽ nhẹ nhàng tiến lại gần, quan sát, đưa mắt nhìn, tạo quan hệ qua lại hai chiều. Từ đó, chúng ta có thể đề nghị thêm một điều nho nhỏ,vừa tầm đón nhận và tiếp cận củatrẻ em. Với phương thức tác động nầy – nếu được tổ chức một cách có hệ thống, bao gồm những bước đi lên từ dễ đến khó – trẻ em sẽ càng ngày càng nới rộng ra vùng sinh hoạt tự lập và vui thích của mình. Đồng thời, vùng xa lạ sẽ lùi dần và nhường bước cho vùng học tập.

2.- Nụ cười xã hội : một minh họa cụ thể

Nhằm minh họa cách làm nầy, tôi xin đan cử một ví dụ cụ thể. Sau một vài ngày hay là hai ba tuần lễ, từ khi sinh ra, một trẻ thơ đã có nụ cười sinh lý, khi nằm một mình trong nôi hay là trong giấc ngủ. Nụ cười sinh lý nầy chỉ là một phản ứng tự nhiên, bột phát, khi trẻ em cảm thấy mình được ấm no, thoải mái, dễ chịu, trên bình diện cơ thể.

Nếu người mẹ chớp thời cơ, đón nhận nụ cười của đứa con, với một tâm hồn sung sướng và hạnh phúc, bà sẽ tìm lời khen con, trao đổi với con, đồng thời nở nụ cườiđáp lại với con, cho con.

Với cách làm nầy của người mẹ, được ngày ngày diễn đi diễn lại, nhằm nối dài và phản ảnh một phản ứng tự nhiên của đứa con… sau chừng hai tháng, nụ cười sinh lý của đứa con sẽ chuyển biến thành nụ cười xã hội. Từ đây, hai mẹ con trao đổi nụ cười qua lại với nhau, hạnh phúc với nhau, làm người với nhau. Cuộc đời trở thành một ý nghĩa lung linh và diệu vợi cho cả hai mẹ con.

3.- Mục đích của Bản Lượng Giá 

Chương nầy cũng như những chương kế tiếp, trình bày Bản Lượng Giá Mức Độ Phát Triển của Trẻ em, với đầy đủ mọi tin tức cần thiết. Đây là một phương tiện giáo dục và sư phạm, cần có mặt trong tầm tay và khả năng của các bậc cha mẹ, giáo viên và tất cả những ai  muốn phục vụ trẻ em có nguy cơ tự kỷ. Nhờ vai trò trung gian của « chiếc cầu » nầy, mọi người có cơ hội đến với nhau, trao đổi qua lại hai chiều. Một cáchchân tình và trực tiếp, họ chia sẽ và đồng hành. Chung quanh bản Lượng Giá, họ « biết ngồi lại với nhau, cùng nhau nhìn về một hướng ». Hướng đó là Trẻ Em có nguy cơ Tự kỷ.

Trước tất cả và hơn tất cả, với bản Lượng Giá nầy, cha mẹ, giáo viên, bác sĩ và các nhà chuyên viên… cùng HỌC với nhau, để DẠY bài học làm người cho con em của chúng ta. Phải chăng trong cái HỌA lớn lao – là nguy cơ Tự kỷ – cái PHƯỚC vẫn có mặt tràn trề lai láng, cho những ai biết NHÌN và đón nhận ? Trong điều kiện và thân phận làm người ngày hôm nay, không có cái XẤU tuyệt đối, cũng như không có cái TỐT hoàn toàn, viên mãn. Nguy cơ Tự kỷ đang đe dọa con em của chúng ta. Tuy nhiên, phải chăng đó cũng là một THÁCH ĐỐ kỳ hùng, một CƠ MAY diệu vợi, để mỗi người trong chúng ta đánh thức chính mình : đổi mới lối nhìn, tư duy, cách làm, lề lối giáo dục và toàn diện con người của chúng ta, trong mọi quan hệ giữa người với người ?

4.- Nội dung của bản Lượng Giá

Như tôi đã trình bày trong ví dụ minh họa trên đây, khi một trẻ em sơ sinh vừa có tuổi đời dưới 2 tháng, nụ cười sinh lý là một sinh hoạt tự lập. Không cần ai dạy, trẻ em tự nhiên có nụ cười ấy, như một hạt mầm có sẵn trong mảnh đất bản thân và cuộc đời làm người của mình. Nhờ bà mẹ cũng như những người trong gia đình trông nom, vun trồng và tưới tẩm, khích lệ, khen thưởng và củng cố, trong suốt thời gian độ 2-3 tháng, nụ cười sinh lý ấy sẽ từ từ trở thành một phương tiện hay là một khả năng, trong lãnh vực tiếp xúc và trao đổi xã hội.

Ngoài nụ cười sinh lý ấy, trong giai đọan và lứa tuổi từ 0 đến 7 tuổi (84 tháng), một trẻ em – cho dù có nguy cơ tự kỷ – còn có bao nhiêu khả năng tự nhiên và tự lập nào, có vai trò và giá trị tương đương, giống như vậy không?

Để trả lời cho câu hỏi nầy, một cách khoa học, nghĩa là chính xác, khách quan và cụ thể, tác giả Eric SCHOPLER cùng với các bạn đồng nghiệp, vào những năm từ 1979 đến 1988, trong hai đợt làm việc với 420 trẻ em, đã sáng tạo và kiện toàn một Bản Lượng Giá, bao gồm 174 tiết mục.  

Thực ra, Bản Lượng Giá chỉ bao gồm 131 câu hỏi, nhằm khảo sát và xác định mức độ phát triển tâm lý của trẻ em. Cộng vào đó, trong suốt tiến trình làm việc cũng như trong thời gian nghỉ ngơi giải lao ở giữa, kéo dài ước chừng trên dưới 5-10 phút, người cán bộ có trách nhiệm lượng giá, phải quan sát hành vi của trẻ em, để trả lời thêm 43 tiết mục có liên hệ đến các triệu chứng rối loạn thuộc hội chứng tự kỷ.

Xét về nội dung cụ thể, mức độ phát triển được khảo sát và phát hiện trong 7 địa hạt khác nhau sau đây :

 

1.- Bắt chước (Bc) : 16 câu hỏi hay tiết mục,

2.- Nhận Thức (Nt) : 13 câu hỏi,

3.- Vận động tinh (Vđt) : 16 câu hỏi,

4.- Vận động thô (Vđth) : 18 câu hỏi,

5.- Phối hợp mắt và tay (Ph) : 15 câu hỏi,

6.- Kỹ năng tư duy (Td) : 26 câu hỏi,

7.- Kỹ năng ngôn ngữ (Nn) : 27 câu hỏi.

Trên bình diện « Rối loạn Hành Vi », chúng ta sẽ chú ý vào 2 lãnh vực « Quan hệ và Xúc động », quyện sát và giao thoa vào nhau, cũng như tạo ảnh hưởng, tác động qua lại hai chiều.

Một cách cụ thể, chúng ta sẽ đo lường  mức độ rối loạn có liên hệ đến Hội Chứng Tứ Kỷ, trong 4 địa hạt sau đây :

- Địa hạt thứ nhất là khả năng tiếp xúc và tạo quan hệ, được thể hiện qua những hành vi cụ thể như lắng nghe, ghi nhận, tuân hành chỉ thị của người lớn. Rối loạn về quan hệ viết tắt là RlQh.

- Địa hạt thứ hai là khả năng và thể thức tiếp cận các loại dụng cụ, với 5 giác quan khác nhau, nhất là khi chơi đùa hay là thực hiện một công việc.  Rối loạn về giác quan viết tắt là RlGq.

- Địa hạt thứ ba là khả năng sử dụng ngôn ngữ, bắt đầu từ những sinh hoạt phát âm, lặp lại, diễn tả, thông đạt. Rối loạn về  ngôn ngữ viết tắt là RlNn.

- Địa hạt thứ bốn là  khả năng bộc lộ ra bên ngoài những ý thích, năng động và hứng khởi, xuất phát từ những động cơ thúc đẩy ở bên trong nội tâm, thay vì ù lì, bị động, chấp nhận tất cả những gì do kẻ khác áp đặt, lèo lái và điều khiển từ bên ngoài. Rối loạn về Ý thích, sáng kiến và năng động, viết tắt là RlYt.  

5.- Mô tả Bản Lượng Giá

Như tôi trình bày trên đây, Bản lượng giá gồm có 174 đề mục, trong đó có 131 câu hỏi với những dụng cụ sư phạm đi kèm theo nhằm phát hiện và khảo sát mức độ phát triển của trẻ em. Ngoài ra, có thêm 43 đề mục nhằm quan sát hành vi và đo lường mức độ rối loạn của trẻ em, trong bốn địa hạt thuộc sinh hoạt xúc động và quan hệ xã hội.

Những câu hỏi không được xếp đặt theo thứ tự từ dễ đến khó, tùy theo lứa tuổi khôn lớn và phát triển của trẻ em từ 0 tháng (0 tuổi) đến 84 tháng (7tuổi). Trái lại, tất cả 131 câu hỏi thuộc 7 địa hạt phát triển khác nhau, được hòa trộn lẫn lộn vào nhau, trong giai đoạn khảo sát trẻ em. Tiếp sau đó, vào giai đoạn tổng hợp kết quả bằng số lượng, chúng ta sẽ phân định và đối chiếu 7 địa hạt phát triển với nhau, nhằm phát hiện, trong sơ đồ biểu diển, đâu là điểm MẠNH và điểm YẾU hay là điểm CAO và điểm THẤP của trẻ em.

Một nhận xét cuối cùng về Bản Lượng Giá là sau mỗi đề mục, chúng ta sẽ CHẤM ĐIỂM, theo 3 thể thức khác nhau :

- Thứ nhất là Điểm CỘNG (+ ) : Trẻ em thành tựu, biết trả lời đúng đắn, mặc dù một đôi khi cần sự hướng dẫn và khích lệ của người lón.

- Thứ hai là Điểm CỘNG và TRỪ  (+­/-) : trẻ em có thiện chí và ý định trả lời, cũng như hợp tác và lắngnghe, tuy dù kết quả cuối cùng không đạt chỉ tiêu. Cách trả lời nầy, trong lối dùng từ của Eric SCHOPLER, mang tên là Sơ Phác, Chớm Nở, Hiện Hình. Lối nói trong tiếng Anh là Emergence có nghĩa là vùng đứng lên, nổi dậy, hé nở, khởi sắc.

- Thứ ba là Điểm TRỪ (-) : Trẻ em không muốn, không biết và không tìm cách làm, mặc dù được người lớn hướng dẫn, nâng đỡ và khích lệ tối đa, bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, khích lệ như vậy không có nghĩa là ép buộc, cưỡng chế, áp đặt, sử dụng bạo động, trừng phạt, đe dọa.

6.- Sư Phạm « Xây Dựng »

Ba cách trả lời « Thành tựu, Thất bại và Chớm nở », có liên hệ đền 174 Tiết Mục,  thuộc 9 địa hạt phát triển khác nhau, sẽ giúp chúng ta phân định ba Vùng Sinh Hoạt Tự lập, Xa lạ và Học tập của trẻ em.

- Dựa vào Vùng Tự lập (+), chúng ta khám phá và tạo ra những vui thích và năng động cho trẻ em. Mỗi lần trẻ em gặp vấn đề, khó khăn, trắc trở, chúng ta giúp trẻ em đi lui, quay trở về với các sinh hoạt trong Vùng Tự lập, để tìm lại lòng tự tin, hay là ý thức về khả năng hiện thực của mình.

- Khi có những dấu hiệu cho thấy trẻ em đang bước vào Vùng Xa lạ (-), chúng ta hãy sáng suốt và can đảm sáng tạo những dụng cụ sư phạm, nhằm giúp trẻ em dừng lại, « Tri chỉ ». Ngoài ra, trong quan hệ tiếp xúc, chúng ta không « cố tình xô đẩy » trẻ em vào địa hạt Hành Vi Rối Lọan hay là Triệu Chứng, nghĩa là từ chối, chống đối, phản loạn, một cách vô thức, máy móc và tự động.

- Sau cùng, chúng ta tìm cách khích lệ, khen thưởng và củng cố, khi trẻ em đang rụt rè bước vào Vùng Học tập (+/-). Làm như vậy là giúp trẻem VÙNG ĐỨNG LÊN, thành người, làm chủ thể, chọn lựa cho mình những sinh hoạt vui thích, sáng tạo, hứng khởi, năng động, cho dù vào những lúc ban đầu, thời gian sinh hoạt học tập nầy chỉ kéo dài vài ba phút. 

« Cháo nóng húp quanh » hay là « Kiến tha lâu đầy tổ », phải chăng đó là phương thức Sư Phạm Xây Dựng, chúng ta tất cả cần tiếp thu, học tập và hội nhập ?  Trọng tâm ở đây là phát huy những năng động đã có mặt,  thay vì « gồng mình », tìm cách hạn chế những triệu chứng, những hành vi rối loạn và bị động.

Theo lời người xưa, điều chúng ta cố quyết làm cho con em có nguy cơ tự kỷ là « Minh minh Đức », có nghĩa là ngày ngày can đảm « Thắp sáng lên ngọn đèn đã sáng », nơi chính chúng ta và nơi trẻ em. Hẳn thực,  cơ hồ khi có những vết mực, trên bề mặt của một chiếc bong bóng tròn bằng cao su, thay vì tìm cách tẩy xóa, chúng ta thổi phòng chiếc bong bóng to lên. Lúc bấy giờ, nhữnghình vẽ trang trí sẽ nỗi bật và lớn lên. Trái lại, những vết nhơ sẽ trở thành KHÁC, trong một KHUNG CẢNH KHÁC, được chấp nhận và đón nhận với một tâm trạng, thái độ và lối nhìn khác. 

Phải chăng đó là loại Sư Phạm « CHUYỂN HÓA »  cần được áp dụng cho các trẻ em có nguy cơ tư kỷ ? Hẳn thực, chúng ta « làm mà như không làm », làm theo tinh thần « Vi vô vi, Sự vô sự » của Lão Tử, cơ hồ Mặt Trời tỏa ra ánh sáng và hơi ấm, để tạo điều kiện thuận lợi cho « Cây nào thành cây ấy », không cưỡng chế, không áp đặt.

Hẳn thực, « chân vịt thì ngắn, muốn kéo ra cho dài, nó khổ. Chân ngổng thì dài, tìm cách chặt ngắn đi, nó chết ».

 


 

Chương Hai :

Nội Dung chi tiết của 174 tiết mục trong Bản Lượng Giá

 

Trong chương này, tất cả 174 Tiết Mục (TM) của Bản Lượng Giá sẽ được trình bày, với mọi chi tiết cần thiết 

Trong số đó, 43 Tiết Mục nhằm khảo sát địa hạt Hành Vi, đều có đánh dấu thị ( *) ở trước ( *TM). Và đằng sau là những ký hiệu xác định địa hạt của hành vi :

-       Qh : địa hạt Quan hệ và tiếp xúc xã hội,

-      Yt :  địa hạt Ý thích, vui thú, lưu tâm,

-      Nn : địa hạt sử dụng Ngôn ngữ,

-      Gq : địa hạt có liên hệ đến các sinh hoạt của Giác quan như Nhìn,        Nghe, Tiếp cận, Ngửi và Nếm.

 

TM số 1 :  Vặn náp chai : đóng và mở

Dụng cụ : Bình hay chai đựng nước xà phòng.

 

Cách làm :

 

- Đặt chai nước xà phòng trên bàn, trước mặt trẻ em, và nói : « Chúng ta thổi bọt xà phòng ».

- Xích chai nước lại gần trẻ em và quan sát. Đoạn nói với trẻ em : « Em vặn nắp ra đi ».

- Nếu trẻ em vẫn không biết làm, chúng ta hãy trình bày cách làm. Trình bày xong, vặn nắp lại và bảo trẻ em hãy làm như vậy.

 

Địa hạt khảo sát : Vận động tinh.

 

Cách chấm điểm :

 

- (+) Hiểu và làm được một mình,

- (+/-) Thử làm nhưng không thành công, trẻ em có cử chỉ cầm nắp chai và tìm cách vặn ra,

- (-) Không có cử chỉ và không thử làm.

 

TM số 2 : Thổi và làm ra bọt xà phòng

Dụng cụ : Đồ đựng nước xà phòng vàchiếc vòng.

 

Cách làm :

 

- Người lớn trình bày cách làm, 

- Đưa chiếc vòng cho trẻ em, 

- Bảo trẻ em: « Em làm đi ».

 

Địa hạt khảo sát: Vận động tinh.

 

Cách chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em hiểu và làm được,

- (+/-) Không làm được, nhưng phác họa cử chỉ: đưa chiếc vòng lên miệng và thổi,

- (-) Thất bại, không có cử chỉ cần thiết.

  

TM số 3: Đưa mắt nhìn theo bọt xà phòng di chuyển

Dụng cụ: vẫn như trong TM số 2

 

Cách làm : Khi trẻ em thực hiện TM số 2,

 

- Quan sát trẻ em có đưa mắt nhìn theo bọt xà phòng bay hay không,

- Nếu trẻ em không biết thổi, chúng ta hãy thổi trước mặt trẻ em.Đồng thời, chúng ta quan sát đôi mắt của trẻ em: có theo dõi bọt xà phòng di chuyển không?

 

Địa hạt: Nhận thức thị giác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em đưa mắt theo dõi,

- (+/-) Có nhìn một cách sơ thoáng lúc ban đầu, rồi ngoảnh mặt qua chỗ khác,

- (-) Không nhìn theo.

 

TM số 4: Liếc nhìn vượt qua đường ở giữa

Dụng cụ: dùng dụng cụ như trong các TM vừa qua, hay là dùng một trò chơi khác vui mắt.

 

Cách làm: di chuyển dụng cụ từ phía trái của trẻ em sang phải, làm thành một tam giác có gốc 90°, ở vị trí của trẻ em.

 

Địa hạt: Nhận thức thị giác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Đưa mắt nhìn theo, từ trái qua phải,

- (+/-) Dừng lại ở giữa hay là vượt quá một chút ít mà thôi, không làm thành một gốc 90°,

- (-) Không nhìn theo.

 

*TM số 5: Tiếp cận những hình khối (Gq)

Dụng cụ: Ba hình khối lớn, có 3 loại bề mặt tạo nên những cảm xúc khác nhau.

 

Cách làm:

 

- Đặt để 3 hình khối trên bàn, trước mặt trẻ em,

- Quan sát và ghi nhận cách thức trẻ em tiếp cận các bề mặt khác nhau.

 

Địa hạt: Tiếp cận dụng cụ bằng các loại cảm giác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Sắp chồng các khối lên nhau, nhìn, tiếp xúc, đưa ra nhận xét, đặt câu hỏi…

- (+/-) Lưu tâm một cách khác thường hay là không chú ý.

- (-) Cách tiếp cận không bình thường như: ngửi, liếm, gãi trên bề mặt…

  

TM số 6: Ống nhìn vạn sắc

Dụng cụ: Ống nhìn vạn sắc.

 

Cách làm:

 

- Trình bày cách xoay tròn,

- Nhìn vào trong,

- Bảo trẻ em cũng làm theo như vậy.

 

Địa hạt: Bắt chước làm và bắt chước nhìn.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Nhìn vào trong và biết xoay tròn, để thay đổi màu sắc và hình thể,

- (+/-) Tìm cách nhìn, nhưng không tỏ ra thích thú…

- (-) Không nhìn.

 

TM số 7: Phân biệt mắt Trái và mắt Phải

Dụng cụ: Ống nhìn vạn sắc giống như trong TM số 6.

 

Cách làm: Quan sát một cách kỹ càng,

 

- Trẻ em nhìn với con mắt nào một cách ổn định?

- Hay là nhìn một cách lộn xộn, khi bên mặt, khi bên trái.

- Nếu cần, chứng minh lại thêm một lần.

 

Địa hạt: Nhận thức thị giác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Phân biệt cách rõ ràng và ổn định mắt trái và mắt phải,

- (+/-) Luôn luôn bắt đầu với một bên, nhưng lại chuyển qua bên kia. Cách phân biệt chưa hoàn toàn ổn cố,

- (-) Khi thì dùng mắt nầy, khi thì dùng mắt khác, không có phân biệt trái và mặt.

 

TM số 8: Bấm hoặc rung chuông 2 lần

Dụng cụ: chuông nhỏ.

 

Cách làm:

 

- Giới thiệu cách làm và bảo trẻ em làm theo,

- Cố ý rung 2 lần,

- Nếu trẻ em rung chỉ một lần, hay là nhiều hơn 2 lần, chúng ta chứng minh lại và bảo trẻ em làm giống như vậy.

 

Địa hạt: Bắt chước về mặt vận động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Rung đúng 2 lần,

- (+/-) Rung lộn xộn, không ghi nhận đúng 2 lần,

- (-) Không làm, không bắt chước.

 

TM số 9: Đưa ngón tay ấn sâu vào đất sét

Dụng cụ: Đất sét công nghiệp.

 

Cách làm:

 

- Trình bày trước một lần, cho trẻ em thấy: ấn sâu ngón tay vào đất sét,

- Bảo trẻ em hãy làm giống như vậy.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Ấn mạnh, làm thành một lỗ,

- (+/-) Có làm cử chỉ là đưa tay tiếp cận, nhưng không ấn mạnh, làm thành một lỗ,

- (-) Không làm, không phác họa cử chỉ.

  

TM số 10: Cầm một que gỗ nhỏ

Dụng cụ : Đất sét công nghiệp và 6 que gỗ hay là đũa nhỏ.

 

Cách làm :

 

- Trải đất sét thành một tấm bánh sinh nhật,

- Bảo trẻ em thêm vào những cây nến,

- Người lớn lấy một que gỗ cắm lên trên, và đưa cho trẻ em một que gỗ khác,

- Nếu trẻ em vẫn không làm theo chúng ta, hãy lấy tất cả que gỗ còn lại và cắm lên trên mặt đất sét,

- Bảo trẻ em hãy rút những que gỗ ra.

 

Địa hạt : Vận động tinh.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Cầm que gỗ với 2 hoặc 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa), để cắm vào hoặc rút ra,

- (+/-) Cầm với cả bàn tay.

- (-) Không làm.

 

TM số 11 : Vo tròn đất sét và làm một khúc dồi thịt

Dụng cụ : Đất sét.

 

Cách làm :

 

- Phân chia đất sét thành 2 phần,

- Đưa cho trẻ em một phần,

- Người lớn vo tròn đất sét trên bàn, và làm thành một khúc dồi thịt,

- Bảo trẻ em hãy làm y như chúngta.

 

Địa hạt: Bắt chước hành vi, vận động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Vo tròn đất sét thành một khúc dồi thịt,

- (+/-) Cầm đất sét lên, nhưng không có cử chỉ vo tròn,

- (-) Không làm.

 

TM số 12: Dùng đất sét làm một cái bát

Dụng cụ: Đất sét.

 

Cách làm: Chứng minh cách làm và bảo trẻ em làm theo.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em làm được một kết quả tương tự,

- (+/-) Làm được một kết quả, cho dù không giống một cái bát,

- (-) Không làm.

 

TM số 13: Sử dụng con múa rối “găng tay”

Dụng cụ: Một con múa rối kiểu găng tay, như con mèo hoặc con chó.

 

Cách làm:

 

- Người lớn mang vào tay đầu mèo,

- Nói với trẻ em: “Tôi là con mèo, meo meo… tôi đến chơi với bạn…

- Sau đó, đưa cho trẻ em con múa rối vả bảo: “Em làm con mèo đi…”

 

Địa hạt: Bắt chước về mặt vận động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Mang vào tay con múa rối và tìm cách làm những cử động với đầu và chân mèo,

- (+/-) Mang vào tay chiếc găng, nhưng không làm các cử động,

- (-) Không mang vào tay con múa rối.

 

TM số 14: Bắt chước tiếng kêu của loài vật

Dụng cụ: Con múa rối chó hoặc mèo.

 

Cách làm:

 

- Chứng minh trước, như trong TM số 13,

- Nhưng trong TM số 14 nầy, khuyến khích trẻ em vừa chơi vừa phát âm “Meo meo” hay là “Vâu vâu”.

 

Địa hạt: Bắt chước phát âm.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Phát âm Meo meo hay Vâu vâu một cách rõ ràng,

- (+/-) Có bắt chước phát âm, nhưng âm thanh phát ra không phải là Meo hay Vâu,

- (-) Không làm, không thử phát âm.

 

TM số 15: Bắt chước sử dụng 4 đồ vật thường ngày

Dụng cụ:

 

- Một con múa rối,

- Bốn đồ dùng quen thuộc như muỗng (thìa), cốc nhựa, bàn chải đánh răng, khăn lau bằng giấy.

 

Cách làm:

 

- Người lớn chứng minh cách làm: mang con múa rối vào một tay, dùng tay kia để đút sữa, đánh răng, cho uống, lau miệng con múa rối,

- Sau đó, người lớn vẫn giữ con múa rối trên tay mình, và lần lượt đưa cho trẻ một trong 4 dụng cụ trên đây,

- Quan sát và ghi nhận cách làm của trẻ em.

 

Địa hạt: Bắt chước hành động của kẻ khác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết dùng 3 vật dụng,

- (+/-) Chỉ biết dùng 1 trong 4 vật dụng,

- (-) Không làm được gì.

 

TM số 16: Đưa tay chỉ những phần thân thể của con múa rối

Dụng cụ: Con múa rối chó hoặc mèo.

 

Cách làm:

 

- Chính người lớn mang chiếc găng múa rối vào tay mình,

- Đưa tay có mang găng lại gần trẻ em,

- Yêu cầu trẻ em chỉ hay là đụng đến các phần thân thể của con múa rối như: tay, mắt, mũi, tai và miệng.

 

Địa hạt: Tư duy và Hiểu biết.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Chỉ đúng 3 phần,

- (+/-) Chỉ đúng hay là có cử chỉ đưa tay hướng đến bất kỳ 1 phần nào,

- (-) Không làm một cử động nàocả.

 

TM số 17: Đưa tay chỉ những phần thân thể của chính mình

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Không chứng minh trước,

- Chỉ yêu cầu trẻ em đưa tay sờ: Mắt, Mũi, Tai, Miệng của mình.

 

Địa hạt: Kỹ năng tư duy và hiểu biết.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Chỉ hay là đụng đến 3 phần,

- (+/-) Chỉ hay là đụng đến 1 phần mà thôi,

- (-) Không làm gì cả.

 

TM số 18: Trò chơi “Thiết lập quan hệ hai chiều”

Dụng cụ:

 

Hai con múa rối chó và mèo.

 

Cách làm:

 

- Trao cho trẻ em một con múa rối,

- Người lớn mang vào tay con kia,

- Bạn bảo: “Bây giờ chó và mèo chơi với nhau”,

- Nếu trẻ em không biết làm gì, bạn đề nghị: ăn với nhau, nhảy với nhau…

 

Địa hạt: Kỹ năng tư duy và hiểu biết.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Hai con múa rối trao đổi qua lại,

- (+/-) Trẻ em tìm cách chơi với con múa rối của mình hay là với con múa rối trong tay của người lớn, nhưng hai con múa rối không chơi với nhau,

- (-) Không chơi, không làm gì cả.

 

TM số 19 và 20 : Kết ráp các hình thể vào bản « khuôn »

Dụng cụ :

 

- Ba hình Tròn, Vuông và Tam giác

- Một bản gỗ có khoét lõm 3 hình tương tự.

 

Cách làm :

 

- Đặt bản « khuôn » hay là « khung » trước mặt trẻ em,

- Phía bên mặt của trẻ em, để lẫn lộn 3 hình tròn, vuông và tam giác, không theo thứ tự như trên bản khuôn,

- Bảo trẻ em : « Tìm hình và ráp vào cho đúng ».

 

Địa hạt :

 

- TM số 19 : Nhận thức thị giác,

 

- TM số 20 : Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Kết ráp đúng hình nào vào khuôn nấy,

- (+/-) Có làm và thử làm, nhưng không có kết quả,

- (-) Không làm và không thử.

 

TM số 21 : Gọi tên 3 loại hình thể

Dụng cụ :

 

Dùng lại 3 loại hình trong TM số 19 và 20.

 

Cách làm :

 

- Để 3 hình tròn, vuông và tam giác trên bàn,

- Đưa tay chỉ hình tròn, và hỏi trẻ em :  « Cái gì đây ? Hình nầy là hình gì ? »,

- Lặp lại câu hỏi với 2 hình kia.

 

Địa hạt : Khả năng ngôn ngữ.

 

 

 

Chấm điểm :

 

- (+) Gọi tên cả 3 hình,

- (+/-) Chỉ gọi đúng một hình, hay là dùng một tên gọi duy nhất cho cả 3 hình,

- (-) Không tìm cách phát âm gì cả.

 

TM số 22 : Biết nhận ra tên gọi của 3 hình

Dụng cụ : Dùng lại 3 hình : tròn, vuông và tam giác.

 

Cách làm : bảo trẻ em :

 

- Hãy đưa cho thầy hình tròn…

- Hay là : Em cầm lấy hình vuông…

- Hay là : Hình tam giác ở đâu ?...

 

Địa hạt : Tư duy và Hiểu biết.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Chỉ, cầm hay là đưa đúng 3 hình,

- (+/-) Chỉ làm đúng 1 hình mà thôi,

- (-) Không làm gì cả.

 

TM số 23 : Kết ráp vào khung lõm 4 vật dụng

Dụng cụ :

 

- Một tấm khung,

- Bốn tấm hình : cái dù, con gà con, con bướm, trái lê.

 

Cách làm :

 

- Đặt tấm khung trước mặt trẻ em,

- Trao cho trẻ em một tấm hình, không cần theo một thứ tự nào. Bảo : « Em hãy lắp ráp vào đúngchỗ »,

- Lặp lại lời yêu cầu với 3 tấm hình kia,

- Nếu trẻ em bất động và tỏ ra không hiểu, hãy trình bày và chứng minh cách làm một cách cụ thể,

- Sau đó, lấy ra khỏi tấm khung, tất cả  4 hình và bảo : « Bây giờ em làm đi ».

 

Địa hạt : Nhận thức bằng thị giác.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Làm đúng với tất cả 4 tấm hình,

- (+/-) Làm đúng một tấm và cần có chứng minh,

- (-) Không biết làm, dù được hướng dẫn.

 

TM số 24 : Vượt qua đường ở giữa  

Dụng cụ :

 

- Dùng lại 4 tấm hình và khung lắp ráp trong TM số 23.

- Nếu trẻ em thất bại trong TM 23, hãy sáng tạo cách làm tương tự sau đây, với một dụng cụ khác.

 

Cách làm :

 

- Để 2 hình cái dù và con gà con, phía bên tay trái của trẻ em, để trẻ em đưa tay qua bên trái lấy hình và lắp ráp ở bên mặt,

- Để 2 hình con bướm và trái lê ở bên mặt.

 

Địa hạt : Vận động thô.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Vượt qua đường ở giữa nhiều lần,

- (+/-) Chỉ vượt qua 1 lần,

- (-) Không vượt qua được.

 

TM số 25 và 26 : Lắp ráp ba hình giống nhau, nhưng có 3 cỡ lớn nhỏ khác nhau

Dụng cụ :

 

- Một khung lắp ráp,

- Hình của 3 chiếc găng tay có 3 cỡ khác nhau.

 

Cách làm :

 

- Đặt trước mặt trẻ em một tấm khung và 3 hình bao tay có 3 cỡ khác nhau,

- Tránh để gần nhau một hình thể với vị trí thích hợp của nó, trên bản khung,

- Nếu sau một lúc, trẻ em không biết phải làm gì, người lớn có thể chứng minh cho trẻ em thấy cách làm,

- Sau khi trình bày xong, lấy các hình thể ra khỏi bản khung và đặt lại chỗ cũ,

- Bảo trẻ em :  « Hãy làm như thầy (cô) vừa mới làm ».

 

Địa hạt :

 

- TM số 25 : Nhận thức thị giác,

 

- TM số 26 : Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm : 2 lần khác nhau cho 2 số 25 và 26,

 

- (+) Dùng tay chỉ đúng cả 3 vị trí cho 3 hình khác nhau, mặc dù không lắp ráp (TM số 25 : Nhận thức thị giác),

- (+) Lắp ráp đúng cả 3 hình vào vị trí thích hợp (TM số 26 : Phối hợpmắt và tay),

- (+/-) Đưa tay chỉ đúng hay là lắp ráp đúng một hình mà thôi, sau khi có chứng minh,

- (-) Không chỉ, không làm, mặc dù người lớn đã chứng minh cách làm.

 

TM số 27 : Biết dùng 2 từ Lớn và Nhỏ (gọi tên)

Dụng cụ :

 

Dùng lại 2 bao tay lớn và nhỏ trong TM số 25 và 26.

 

Cách làm :

 

- Để bao tay nhỏ bên tay trái, và bao tay lớn bên tay mặt của trẻ em,

- Nói với trẻ em : « Hãy nhìn kỹ hai bao tay trước mặt em »,

- Hai bao tay không giống nhau, tại sao ? Không giống nhau ở chỗ nào ?

- Bạn cầm lên cái bao lớn và hỏi : « Cái bao tay nầy thế nào ? »,

- Sau đó, cầm lên cái bao tay nhỏ và hỏi : « Cái bao tay nầy thế nào ? ».

 

Địa hạt : Khả năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Biết dùng từ Lớn và Nhỏ để trả lời,

- (+/-) Biết trả lời 1 lần đúng mà thôi, trong bốn lần đặt câu hỏi,

- (-) Không trả lời và không tìm cách trả lời.

 

TM số 28 : Biết phân biệt Lớn và Nhỏ, thay vì dùng ngôn ngữ

Dụng cụ : Như trong TM số 27.

 

Cách làm:

 

- Để 2 bao tay trước mặt trẻ em,

- Bảo trẻ em lần thứ I: “Lấy đưa cho thầy chiếc bao tay nhỏ”,

- Sau khi để bao tay lại chỗ cũ, yêu cầu trẻ em: “Lấy đưa cho thầy bao tay lớn”,

- Lặp lại lần thứ II, những lời yêu cầu như trước đây.

 

Địa hạt: Khả năng tư duy và hiểu biết.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết làm đúng trong cả 2 lần,

- (+/-) Trong 4 lần yêu cầu, chỉ biết làm đúng 1 lần,

- (-) Không làm hay là làm không đúng lần nào cả.

 

TM số 29 và 30: Lắp ráp hình con mèo

Dụng cụ: Hình con mèo có 4 mảnh khác nhau.

 

Cách làm:

 

- Để 4 mảnh hình con mèo một cách lộn xộn, tách rời khỏi nhau ở 4 vị trí, trước mặt trẻ em,

- Bảo trẻ em: “Em hãy ghép lại với nhau”,

- Sau một lúc, nếu trẻ em vẫn bất động, người lớn chứng minh cho trẻ em cách làm,

- Đoạn bảo trẻ em: “Hãy làm giống như thầy vừa làm”.

 

Địa hạt:

 

- TM số 29: Khả năng Tư duy,

 

- TM số 30: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết ghép lại 4 mảnh thành hình con mèo, không cần người lớn chứng minh trước,

- (+/-) Ghép lại 2 hình với nhau, hay là cần có người lớn chỉ bày cách làm, mới làm,

- (-) Không làm và không thử làm.

 

TM số 31: Lắp ráp lại hình con bò

Dụng cụ: Hình con bò được chia cắt ra thành 6 mảnh khác nhau.

Cách làm:

 

- Để hình con bò trước mặt trẻ em, với 6 mảnh khác nhau được trình bày một cách lộn xộn,

- Nói với trẻ em: “Đây là hình con bò, em hãy ghép các mảnh lại với nhau”,

- Chứng minh cách làm một lần, sau một lúc chờ đợi, nếu trẻ em không biết phải làm thế nào.

 

Địa hạt: Khả năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Làm đúng hoàn toàn,

- (+/-) Chỉ ghép đúng 2 mảnh, hay là phải chờ có chứng minh cách làm,

- (-) Không làm hay là làm không được, mặc dù có chứng minh.

 

TM số 32: Xếp lại với nhau theo tiêu chuẩn Màu Sắc, hai vật thể khác nhau như hình khối và đĩa

Dụng cụ:

 

- Năm hình khối có 5 màu khác nhau như: vàng, đỏ, xanh da trời, xanh lá cây, trắng,

- Năm đĩa tròn bằng giấy cứng, cũng có 5 màu tương tự như trên.

 

Cách làm:

 

- Khởi đầu với 3 khối và 3 đĩa. Để các đĩa trước mặt trẻ em,

- Chỉ trao cho trẻ em một hình khối mà thôi, và bảo: “Hãy đặt để hình khối trên đĩa nào thích hợp”,

- Nếu trẻ em tỏ ra không hiểu, hãy chứng minh cách làm, một lần, với 3 khối,

- Sau đó, làm lại như từ đầu với trẻ em. Mỗi lần, chỉ trao cho trẻ em một khối vuông mà thôi,

- Khi trẻ em đã làm xong với 3 khối, chỉ giữ lại 1 đĩa và 1 khối đã dùng,

- Cất 2 khối và 2 đĩa kia đi,

- Đem ra 2 đĩa và 2 màu khác chưa dùng,

- Lần nầy cũng vậy, đưa cho trẻ em một khối, và yêu cầu trẻ em đặt khối vuông lên trên đĩa tròn nào thích hợp.

 

Địa hạt: Nhận thức về thị giác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Làm đúng với 5 khối, không cần chứng minh trước,

- (+/-) Làm được với 1 khối, hay là làm được, sau khi có chứng minh, mặc dù không thành tựu hoàn toàn,

- (-) Không làm hay là không thử làm.

 

TM số 33: Gọi tên 5 màu sắc

Dụng cụ: Dùng lại 5 khối có 5 màu khác nhau,

 

Cách làm:

 

- Để cả 5 khối trước mặt trẻ em,

- Bạn cầm lên chỉ 1 khối và hỏi: “Màu gì đây?”,

- Đặt câu hỏi như vậy, lần lượt với cả 5 khối.

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Gọi đúng 5 màu,

- (+/-) Gọi đúng chỉ một màu, cho dù trẻ em chỉ dùng một tên gọi mà thôi, với cả 5 màu,

- (-) Không gọi được.

 

TM số 34: Biết phân biệt các màu

Dụng cụ: Năm đĩa có 5 màu.

 

Cách làm:

 

- Đặt để trên bàn, trước mặt trẻ em, 5 đĩa tròn bằng giấy, có 5 màu khác nhau,

- Yêu cầu trẻ em: “Hãy lấy đưa cho thầy đĩa màu đỏ”,

- Có thể dùng những cách nói tương đương: “Ở đâu? Chỉ cho thầy màu…”,

- Để lại trên bàn vào chỗ cũ chiếc đĩa, và tiếp tục đặt câu hỏi về những màu khác.

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết đưa tay chỉ đúng 5 màu,

- (+/-) Biết chỉ đúng 1 màu,

- (-) Không làm được.

 

TM số 35 và 36: Tiếng “Phách gõ nhịp”

Dụng cụ: Một cái “phách”, dùng để gõ nhịp và phát ra âm thanh “lách cách” (claquette trong tiếng Pháp, và clack trong tiếng Anh).

 

Cách làm:

 

- Trẻ em đang chơi hay là còn chăm chú vào một chuyện riêng tư,

- Người lớn cầm cái lách, giấu ở dưới bàn làm việc, và gây ra âm thanh lách cách khá mạnh,

- Trong khi làm như vậy, quan sát thái độ và ghi nhận phản ứng bên ngoài của trẻ em.

 

Địa hạt:

 

- TM số 35: Nhận thức thính giác,

- *TM số 36: Hành vi, phản ứng xúcđộng của trẻ em đối với kích thích giác quan (Gq).

 

Chấm điểm:

 

TM số 35

 

- (+) Lắng nghe, quay về hướng của âm thanh,

- (+/-) Có dấu hiệu nghe, nhưng không có thái độ hướng quay về phía âm thanh,

- (-) Không có phản ứng khách quan bên ngoài.

 

*TM số 36 (Gq)

 

- (+) Có phản ứng thích hợp,

- (+/-) Chỉ có phản ứng thoáng qua,

- (-) Phản ứng xúc động thiếu thích nghi hoàn toàn như lo sợ, hoảng hốt hay là hoàn toàn bất động.

TM số 37: Biết bước đi một mình (dành cho trẻ nhỏ)

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Đặt trẻ em ở thế đứng,

- Khích lệ trẻ em bước tới một mình, không bám víu, không dựa vào vào một điểm tựa.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Đi một mình, không vịn tay vào đâu cả,

- (+/-) Đi nhưng cần nắm tay người khác,

- (-) Không đi, hay chỉ đi khi được người lớn cầm cả 2 tay.

 

TM số 38: Vỗ tay

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

 

- Bạn vỗ tay nhiều lần trước mặt trẻ em,

- Tìm cách gây chú ý, để trẻ em nhìn vào bạn,

- Bảo trẻ em cùng làm.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em vỗ tay nhiều lần,

- (+/-) Chỉ phác họa cử chỉ,

- (-) Không làm gì cả.

 

TM số 39: Đứng vững trên một chân

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Người lớn làm mẫu trước cho trẻ em thấy,

- Yêu cầu trẻ em: “Hãy làm giống hệt như thầy”,

- Nếu trẻ em mất quân bình, sẵn sàng đưa tay nâng đỡ.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Đứng vững trên một chân, trong vòng 2 giây,

- (+/-) Tìm cách đưa chân lên, nhưng cần tay bạn nâng đỡ, để khỏi té ngã,

- (-) Không đưa chân lên, không hiểu.

 

TM số 40: Chụm hai chân lại và nhảy tới trước

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Chứng minh cách làm cho trẻ em thấy,

- Bảo trẻ em hãy làm giống như bạn vừa làm.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Vừa biết chụm 2 chân lại với nhau, vừa biết nhảy tới trước, không tách hai chân ra,

- (+/-) Tìm cách bắt chước, nhưng không biết nhảy, hay là nhảy màkhông chụm chân lại,

- (-) Không nhảy và không dám nhảy.

 

TM số 41: Bắt chước một số cử động

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Yêu cầu trẻ em nhìn: “Em hãy nhìn kỹ những điều thầy sắp làm",

- Bạn thực hiện một số động tác như sau: ° Đưa thẳng một cánh tay lên quá đầu, °° Đưa tay sờ và đụng lỗ mũi, °°° Một tay đưa lên quá đầu, tay kia đụng lỗ mũi,

- Sau mỗi một trong 3 động tác vừa được liệt kê, bảo trẻ em: “Hãy làm y như thầy vừa làm”.

 

Địa hạt: Bắt chước về mặt vận động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết bắt chước cả 3 động tác,

- (+/-) Bắt chước chỉ một động tác, và không làm hoàn toàn đúnghẳn.

- (-) Không làm gì cả.

 

TM số 42: Dùng ngón tay cái đụng đến đầu 4 ngón tay khác thuộc cùng một bàn ta  

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Đứng bên cạnh trẻ em và cùng nhìn về một hướng như trẻ em,

- Yêu cầu trẻ em chú ý nhìn kỹ cách bạn làm,

- Bạn đưa tay lên phía trước trẻ em, lòng bàn tay quay về phía trẻ em,

- Tách rời 5 ngón tay ra và tạo ra những khoảng cách rõ ràng giữa từng 2 ngón,

- Lấy ngón tay cái đụng đến đầu của 4 ngón kia,

- Làm theo thứ tự: ngón tay trỏ, ngón tay giữa, ngón tay đeo nhẫn, ngón tay út.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Làm được tất cả theo thứ tự,

- (+/-) Dùng ngón tay cái đụng được 1 trong 4 ngón kia,

- (-) Có nhúc nhích các ngón tay, nhưng không đụng đến ngón nào. Hay là không làm gì cả.

 

TM số 43: Đón bắt quả banh nhẹ có đường kính 20-25 cm

Dụng cụ: Quả banh.

 

Cách làm:

 

- Yêu cầu trẻ em cùng đứng lên với bạn,

- Bạn làm dấu sẽ ném quả banh qua cho trẻ em,

- Bạn đi xa một khoảng cách chừng 1 mét và ném trái banh cho trẻ em,

- Quan sát trẻ em đón bắt trái banhlàm sao,

- Yêu cầu trẻ em ném trái banh lại cho bạn,

- Ném qua ném lại 3 lần.

 

Địa hạt : Vận động thô.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Đón bắt được quả banh, 1 trong 3 lần,

- (+/-) Có cử chỉ đón bắt, nhưng để banh rơi khỏi tay,

- (-) Không tìm cách đón bắt.

 

TM số 44 : Ném banh trả lại  

Dụng cụ :

 

Một trái banh nhẹ như trong TM số 43.

 

Cách làm : Trong TM 43, quan sát cách thức trẻ em ném trái banh trả lại cho người lớn.

 

Địa hạt : Vận động thô.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Ném trả lại được 1 lần,

- (+/-) Ném qua chỗ khác, hay là làmrơi khỏi tay,

- (-) Không tìm cách ném trả lại.

 

TM số 45 : Đưa chân đá mạnh vào quả banh

Dụng cụ : Quả banh loại nhẹ.

 

Cách làm :

 

- Bảo trẻ em hãy nhìn kỹ cách làm của bạn,

-   Bạn đưa chân đá mạnh quả banh,

- Chuyền quả banh qua cho trẻ em, và bảo trẻ em làm y như bạn,

-  Yêu cầu trẻ em làm lui tới 3 lần.

 

Địa hạt : Vận động thô.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Làm được 1 lần trong 3,

- (+/-) Có thử làm, nhưng chỉ đưa chân đụng nhẹ, thay vì đá mạnh,

- (-) Không thử làm.

 

TM số 46 : Dùng chân phải hay trái ?  

Dụng cụ :

 

- Quả banh loại nhẹ,

- Hay là cầu thang.

 

Cách làm :

 

- Trong TM số 45, quan sát trẻ em luôn luôn dùng chân nào để đá mạnh vào quả banh,

- Hay là khi bước lên cầu thang, trẻ em bắt đầu dùng chân nào ?

 

Địa hạt : Vận động thô.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Phân biệt một cách rõ ràng chân nào mạnh, chân nào yếu,

- (+/-) Bắt đầu phân biệt nhưng chưa ổn định,

- (-) Không phân biệt.

 

TM số 47 : Cầm trái banh trong 2 tay và bước tới

Dụng cụ : Trái banh loại nhẹ.

 

Cách làm :

 

- Giữa lúc trẻ em đang chơi, người lớn yêu cầu trẻ em mang trái banh đến cho mình,

- Hay là bảo trẻ em mang trái banh bỏ vào giỏ,

- Quan sát cách trẻ em cầm trái banh và đi.

 

Địa hạt : Vận động thô.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Cầm trái banh trong 2 tay và đi tới được 4 bước, mà không làm rơi xuống đất,

- (+/-) Đi được chừng 2 bước và đánh rơi quả banh xuống đất,

- (-) Không thể vừa cầm trái banh vừa đi tới.

- N.B. Trong TM số 37, nếu đã chấm điểm (-) không đi được một mình, thì trong TM số 47 nầy, cũng chấm điểm (-).

 

TM số 48: Đưa tay đẩy trái banh lăn tới một hướng

Dụng cụ: Một trái banh loại nhẹ.

 

Cách làm:

 

- Cùng ngồi trệt xuống trên sàn nhà với trẻ em,

- Yêu cầu trẻ em đưa tay đẩy quả banh lăn tới một hướng nhất định.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Cố ý đẩy lăn trái banh về một hướng và thành tựu,

- (+/-) Chỉ biết đẩy tới, nhưng không theo đúng hướng,

- (-) Không làm được.

- N.B. Nếu trong TM số 44 có điểm (+), ở trong TM số 48 nầy cũng tự nhiên sẽ có điểm (+).

 

TM số 49: Đi lên cầu thang, bước mỗi chân một cấp

Dụng cụ: Cầu thang không có tay vịn.

 

Cách làm:

 

- Dẫn trẻ em đến trước một cầu thang,

- Trình bày cho trẻ em thấy phải đi lên như thế nào,

- Yêu cầu trẻ em: “Hãy làm y như thầy đã bảo”,

- Nếu trẻ em gặp khó khăn, đưa tay ra nâng đỡ, để trẻ em khỏi té nhào lui đằng sau.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+)  Đi lên cầu thang và đặt mỗi chân trên một cấp,

- (+/-) Đi lên, nhưng đưa tay cầm lấy tay người lớn, hay là đặt cả 2 chân lên từng mỗi cấp,

- (-) Không làm được hay là bò lên.

- N.B. Nếu trong TM số 37, chấm điểm (-) không thể bước đi một mình, thì ở đây, trong TM số 49, cũng chấm điểm (-).

 

TM số 50: Ngồi trên một ghế dựa

Dụng cụ: Ghế dựa có chiều cao thích hợp với tầm của trẻ em.

 

Cách làm: Quan sát cách trẻ em ngồi, trong suốt thời gian lượng giá.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Ngồi không cần có người giúp,

- (+/-) Cần có người giúp,

- (-) Không ngồi được.

 

TM số 51: Ngồi và di chuyển trên một chiếc ghế trệt có 4 bánh xe nhỏ  

Dụng cụ: Chiếc ghế trệt có 4 bánh xe.

Cách làm:Yêu cầu trẻ em ngồi và dùng chân đẩy mạnh, để di chuyển từ chỗ nầy qua chỗ khác.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết dùng chân để di chuyển, đẩy lui đẩy tới, đẩy qua bên nầy bên kia,

- (+/-) Biết dùng chân đẩy lui tới, nhưng không biết vừa ngồi, vừa di chuyển,

- (-) Không ngồi và không làm cử động đưa chân đẩy mạnh.

 

TM số 52: Trò chơi “Cúc cù” hay là “Con kiến bò lên”

 Dụng cụ: Một chiếc khăn lớn.

Cách làm:

 

- Lấy chiếc khăn lớn che lúp mặt trẻ em vả hỏi “Em H ở đâu rồi?”,

- Khi trẻ em tự tay rút tấm khăn khỏi mặt mình, hay là chính bạn cất chiếc khăn, bạn vui cười nói lớn: “Cúc cù, em H lại hiện ra đây nè”,

- Lặp lại trò chơi và chờ xem trẻ em có tự tay rút khăn khỏi đầu và mặt của mình không?

- Lặp lại thêm vài lần, nếu trẻ em chia sẻ niềm vui và hợp tác,

- Cách thứ hai là dùng 2 ngón tay trỏ và giữa làm con kiến, bò từ từ lên vai và cổ của trẻ em. Vừa kích thích,  vừa chọc cười, vừa phát âm “ki li, ki li”,

- Lặp lại và chờ xem trẻ em có tham dự vào trò chơi, bằng cách vui đùa và bắt chước phát âm “ki li, ki li”, giống như bạn không?

 

Địa hạt: Bắt chước về vận động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em tham dự ít nhất một lần, bằng cách vỗ tay, rút chiếc khăn, hay là bắt chước phát âm.

- (+/-) Hiểu, vui thích, tươi cười, nhưng không lặp lại…

- (-) Không tỏ ra vui thích, hợp tác.

 

TM số 53: Tìm ra đồ vật được cất giấu

Dụng cụ:

 

- Một ly nhựa không trong suốt (không để thấy vật ở bên trong),

- Hay là một chiếc khăn dày,

- Một đồ chơi mà trẻ em rất thích.

 

Cách làm:

 

- Bạn làm những cử động cất giấu trước mặt trẻ em,

- Lấy đồ chơi cất giấu ở dưới chiếc khăn, hay là dưới cái ly lật ngược,

- Bảo trẻ em tìm lại đồ chơi,

- Nếu trẻ em không tìm, bạn lấy khăn hoặc ly nhựa che lại một phần nửa đồ chơi mà thôi.

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy và hiểu biết.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Tìm ra đồ chơi, một cách dễ dàng,

- (+/-) Tìm 2 lần hay là chỉ tìm ra, khi đồ chơi được che giấu một nửa,

- (-) Không tìm.

 

*TM số 54: Nhận ra bóng hình của mình trong tấm gương soi (Qh)

Dụng cụ: Tấm gương soi.

 

Cách làm:

 

- Bảo trẻ em nhìn vào tấm gương,

- Đặt câu hỏi: “Ai trong đó?”,

- Quan sát phản ứng và ghi nhận cách trả lời của trẻ em.

 

Địa hạt: Quan hệ và xúc động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em nhận biết mình, làm điệu bộ để quan sát mình, đưa tay đụng nhẹ hình ảnh trong gương,

- (+/-) Phác họa phản ứng một cách rụt rè,

- (-) Phản ứng một cách không thích hợp như: ngoảnh mặt qua chỗ khác, đưa tay đánh, hay là cười một cách căng thẳng, bị kích động…

 

*TM số 55: Phản ứng trước những cảm xúc va chạm thể lý (Qh)

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Bảo trẻ em: “Thầy sẽ nâng em lên, đu đưa qua lại”. Sau đó, bạn chơi đu đưa với trẻ em,

- Nếu trẻ em quá nặng, chỉ cần cầm tay trẻ em và phác họa một vài vũ điệu nhún qua nhún lại với trẻ em.

 

Địa hạt: Quan hệ và Xúc động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em tỏ ra vui thích, tươi cười,

- (+/-) Chấp nhận nhưng có thái độ thiếu thích nghi, gượng ép…

- (-) La lối, từ chối, sợ, khóc, bị động hoàn toàn…

 

*TM số 56: Chọc cười hay là ghẹo trẻ em (Gq)

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Chọc cười,

- Kích thích nhẹ nhàng,

- Quan sát phản ứng của trẻ em: đón nhận, từ chối, khó chịu, căng thẳng…

 

Địa hạt: Quan hệ và phản ứng Xúc động đối với những kích thích thuộc giác quan

 

Chấm điểm:

 

- (+) Vui thích, đón nhận,

- (+/-) Phản ứng hơi căng thẳng, khó chịu…

- (-) Phản ứng quá đáng, như la lối, sợ sệt, từ chối, mất bình tĩnh hay là thụ động hoàn toàn…

 
 

TM số 57 và 58: Khi nghe tiếng còi một cách bất ngờ

Dụng cụ: Còi hay là dụng cụ tương tự.

 

Cách làm:

 

- Khi trẻ em đang bận làm một điều gì, một cách kín đáo, người lớn thổi mạnh và làm một tiếng còi lớn,

- Đồng thời quan sát phản ứng của trẻ em.

 

Địa hạt:

 

- TM số 57: Nhận thức về thính giác,

 

- *TM số 58: Quan hệ và Xúc động đối với những kích thích giác quan (Gq).

 

Chấm điểm:

 

   TM số 57

 

- (+) Quay mặt về nơi có tiếng còi, đặt câu hỏi…

- (+/-) Tỏ ra có nghe, nhưng quay nhìn nơi khác,

- (-) Bất động, không có phản ứng.

 

*TM số 58 (Gq)

 

- (+) Lưu ý, quay đúng hướng,

- (+/-) Phản ứng chậm, sau một khoảng thời gian, sợ, bực bội một cách sơ thoáng,

- (-) Hoặc quá nhạy cảm hoặc bất động hoàn toàn.

 

TM số 59: Trước những điệu bộ (ngôn ngữ không lời)

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Làm điệu bộ như bảo trẻ em lại gần, đi ra mở cửa, lượm lên một đồ vật, ngồi xuống, đứng lên…

- Tuyệt đối không dùng lời nói,

- Quan sát phản ứng và cách nhận thức của trẻ em.

 

Địa hạt: Nhận thức về mặt thị giác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Hiểu và trả lời một cách đứng đắn,

- (+/-) Với điệu bộ nầy thì trả lời, vớiđiệu bộ khác thì không…

- (-) Không trả lời.

 

TM số 60: Cầm ly uống

Dụng cụ:

 

- Một ly nhựa,

- Đồ uống mà trẻ em yêu chuộng.

 

Cách làm:

 

- Rót đồ uống vào ly,

- Đặt ly nước trên bàn, trước mặt trẻ em,

- Bảo trẻ em: “ Em hãy uống đi”,

- Khi trẻ em uống, quan sát cách trẻ em cầm ly.

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em cầm ly nước và uống, không làm đổ nước ra ngoài, không sùi bọt mép. Cầm ly với các ngón tay, một bên là ngón tay cái, bên kia là các ngón khác,

- (+/-) Cầm ly trong lòng bàn tay, vừa uống, vừa đổ nước ra ngoài,

- (-) Không thể một mình cầm ly và uống.

 

TM số 61: Biết yêu cầu kẻ khác giúp đỡ

Dụng cụ:

 

- Kẹo hoặc một đồ chơi mà trẻ em thích,

- Kẹo được đặt để trong một hộp nhựa trong suốt, có nắp đậy kỹ càng,

- Nhìn vào, trẻ em có thể thấy kẹo hoặc đồ chơi.

 

Cách làm:

 

- Đưa cho trẻ em hộp kẹo, có nắp đậy chặt lại,

- Bảo trẻ em: “Em có thể lấy ra mà ăn”,

- Quan sát cách làm của trẻ em, chứ không vội giúp đỡ,

- Sau một hồi, nếu trẻ em không có phản ứng gì, bảo trẻ em: “Em cómuốn thầy giúp cho em không?”.

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em xin giúp đỡ bằng lời hay điệu bộ rõ ràng, không cần người lớn đề nghị giúp,

- (+/-) Chỉ nhìn nhưng không nói gì, chỉ dám yêu cầu, sau khi người lớn đề nghị,

- (-) Không làm gì cả.

 

*TM số 62: Biết sử dụng một sợi dây (Yt)

Dụng cụ:

 

- Một sợi dây cỡ vừa, có thể dùng để nhảy dây,

- Có thắt nút ở 1 đầu dây.

 

Cách làm:

 

- Đặt sợi dây trên bàn, trước mặt trẻ em,

- Bảo trẻ em: “Em hãy dùng sợi dây, tùy ý em”,

- Quan sát cách làm của trẻ em.

 

Địa hạt: Trò chơi và ý thích (Quan Hệ và Xúc Động).

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết dùng sợi dây để chơi một cách thích hợp,

- (+/-) Cầm sợi dây lên, nhưng không biết làm gì,

- (-) Có những phản ứng kỳ dị, như ngửi, liếm, bỏ vào miệng nhai…

 

TM số 63: Xâu hạt cườ  

Dụng cụ:

 

- Hai hạt cườm,

- Một sợi dây có thắt nút ở một đầu.

 

Cách làm:

 

- Đặt để 2 hạt cườm và sợi dây trước mặt trẻ em,

- Bảo trẻ em: “Em hãy xâu  hạt cườm đi”,

- Sau một chốc lát, nếu trẻ em không làm gì, người lớn trình bày cách làm cho trẻ em.

- Sau đó, bảo trẻ em: “Em hãy xâu hạt cườm, như thầy vừa làm”.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em xâu được ít nhất 1 hạt, cách dễ dàng,

- (+/-) Xâu và hiểu phải làm gì. Nhưng làm một cách rất khó và lâu,

- (-) Không làm, không biết cách.

 

TM số 64: Cầm sợi dây với 2 hạt cườm, đu đưa qua lại

Dụng cụ: như trong TM số 63.

 

Cách làm:

 

- Chính người lớn lấy dây xâu vào 2 hạt cườm,

- Đứng dậy, cầm sợi dây có cườm, đu đưa qua lại,

- Sau đó, trao dây có 2 hạt cườm cho trẻ em.

- Bảo trẻ em: “Em hãy làm giống như thầy vừa làm”.

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết đu đưa qua lại,

- (+/-) Làm vài cử động, nhưng không biết đu đưa qua lại,

- (-) Không làm, không thử.

 

TM số 65: Lấy những hạt cườm ra khỏi một que gỗ

Dụng cụ:

 

- 6 hạt cườm vuông,

- 1 que gỗ nhỏ, dài chừng 25 cm.

 

Cách làm:

 

- Bạn xâu những hạt cườm vuôn vào một que gỗ,

- Trình bày cho trẻ em cách lấy những hạt cườm ra khỏi que gỗ. Lấy ra từng hạt một,

- Trình bày xong, bảo trẻ em hãy làm như cách đã được chỉ dẫn,

- Nếu trẻ em gặp khó khăn, một tay bạn giữ chặt một đầu que gỗ, tay kia hướng dẫn trẻ em lấy ra từnghạtcườm,

- Chỉ dẫn xong bảo trẻ em hãy làm một mình.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em dùng 2 tay. Một tay giữ vững một đầu que gỗ. Tay kia lấy ra từng hạt cườm,

- (+/-) Dùng chỉ một tay mà thôi. Hay là chỉ lấy ra được 1 hoặc 2 hạt cườm mà thôi,

- (-) Không làm hay là làm không được.

 

TM số 66: Xâu những hạt cườm vào một trụ  đứng thẳng, cắm chặt vào một cái đế

Dụng cụ:

 

- Một que gỗ,

- Một cái đế nhằm giữ que gỗ đứng thẳng,

- 6 hạt cườm vuông.

Cách làm:

 

- Bạn cắm chặt que gỗ vào một đế tròn,

- Trình bày cho trẻ em cách xâu từng hạt cườm vào trục thẳng,

- Trình bày xong, đưa cho trẻ em một hạt cườm. Một tay, bạn giữ chặt que gỗ đứng thẳng,

- Sau đó, bạn không còn giữ chặt que gỗ. Đưa cho trẻ em từng hạt cườm, để trẻ em xâu vào trục thẳng.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em xâu được ít nhất 3 hạt, không cần người lớn giúp đỡ,

- (+/-) Chỉ xâu được một hạt, hay là cần người lớn giúp đỡ mới xâu được,

- (-) Không muốn hay là không làm được, mặc dù người lớn giữ vững trục gỗ đứng thẳng.

 

TM số 67: Phối hợp hai tay với nhau

Dụng cụ:

 

- Hạt cườm và sợi dây,

- Giấy để vẽ và bút chì màu,

- Kéo và giấy.

 

Cách làm:

 

- Yêu câu trẻ em:  * Xâu cườm,  ** Dùng kéo cắt giấy,  *** Dùng bút để tô màu,

- Quan sát và ghi nhận cách trẻ em phối hợp 2 tay với nhau thế nào.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Dùng cả 2 tay, biết phối hợp,

- (+/-) Dùng cả 2 tay, nhưng thiếu phối hợp một cách nhịp nhàng,

- (-) Không biết và không thử.

 

TM số 68: Chuyển vật dụng từ tay nầy qua tay kia

Dụng cụ:

 

- Trò chơi lắp ráp,

- Xâu hạt cườm vào sợi dây…

 

Cách làm: Quan sát cách làm của trẻ em, có chuyển các vật dụng từ tay nầy qua tay khác không?

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Chuyển từ tay nầy qua tay khác một cách dễ dàng,

- (+/-) Có chuyển nhưng với nhiều khó khăn,

- (-) Không thể và không thử làm.

 

TM số 69: Em tên gì?

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Giữa lúc làm việc, hỏi trẻ em 2 câu hỏi: “Em tên gì?”,

- Câu hỏi thứ hai: “Tên họ là gì?”.

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết tên riêng và tên họ của mình,

- (+/-) Chỉ biết tên riêng hay là cách gọi thường ngày trong gia đình,

- (-) Không biết, không trả lời.

 

TM số 70: Em là trai hay gái (nếu trẻ em là con trai),

          Em là gái hay trai (nếu trẻ em là con gái).  

Dụng cụ : Không có.

 

Cách làm :

 

- Đặt câu hỏi giữa lúc làm việc,

- Đặt câu hỏi như trên, để tránh hiện tượng trẻ em lặp lại vế sau cùng.

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em biết trả lời về phái tínhcủa mình,

- (+/-) Lặp lại vế cuối cùng,

- (-) Không trả lời và không biết.

 

TM số 71 : Vẽ tự do, theo ý của mình

Dụng cụ: Giấy và bút màu ( loại phớt).

 

Cách làm:

 

- Trao cho trẻ em giấy và bút màu,

- Bảo trẻ em vẽ tự do: “Em muốn vẽ gì thi vẽ, tùy ý em”,

- Nếu trẻ em vẫn giữ tư thế bất động, người lớn vẽ nguệch ngoạc trước, trên một tờ giấy, để cho trẻ em thấy và bắt chước.

 

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em vẽ, gạch, làm bất cứ cái gì, miễn là để lại một dấu vết trên trang giấy,

- (+/-) Trẻ em cần có người lớn trình bày trước, mới bắt chước,

- (-) Không làm, mặc dù người lớnđãlàm trước.

 

TM số 72: Tay nào mạnh?

Tay trái hay tay mặt?

Dụng cụ: Chú ý quan sát và ghi nhận cách làm của trẻ em, trong các TM từ số 73 đến số 79.

 

Cách làm:

 

- Quan sát và ghi nhận: Trẻ em làm với tay nào?

- Làm thế nào, cố định hay là thay đổi tay từ trang giấy nầy qua trang giấy khác?

 

Địa hạt: Vận động thô.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em có tay mạnh, có tay yếu, một cách rõ ràng,

- (+/-) Không rõ ràng, không ổn định, tùy bên nào tiện cho mình,

- (-) Không làm gì cả.

 

TM số 73: Sao chép đường thẳng đứng

Dụng cụ: Giấy và một tấm mẫu để sao chép.

 

Cách làm:

 

- Trao hình mẫu cho trẻ em và bảo hãy chép lại giống như vậy 3 lần,

- Người lớn trình bày cách làm, nếu trẻ em tỏ ra lúng túng, khó khăn…

- Quan sát: trẻ em cầm bút với tay nào?

 

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em chép lại được một đường thẳng đứng, sau 3 lần làm, không cần người lớn chứng minh trước,

- (+/-) Làm, nhưng kết quả là đường ngang, cong, gãy, hơn là đường thẳng đứng. Hay là trẻ em chỉ làm, sau khi có chứng minh trước,

- (-) Không làm gì cả.

 

TM số 74: Sao chép hình tròn

Dụng cụ, cách làm : giống như TM số 73.

 

Địa hạt: Phối hợp Mắt và Tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em vẽ được một hình tương đối tròn gồm có đường cong và đóng lại, sau 3 lần sao chép, không cần có người lớn chứng minh trước,

- (+/-) Làm nhưng không vẽ được một hình đóng. Hay là chỉ làm sau khi người lớn trình bày cách làm,

- (-) Không làm.

 

TM số 75: Sao chép hình vuông

Dụng cu, cách làm: như trong TM số 73.

 

Địa hạt: Phối hợp Mắt và Tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em vẽ được hình vuông, có 4 cạnh, 4 gốc tương đối vuông,

- (+/-) Vẽ hình có đường, có gốc, nhưng cạnh không đều, gốc không vuông. Hay là chỉ làm việc,sau khicó người trình bày trước,

- (-) Không làm gì.

 

TM số 76: Sao chép hình tam giác

Dụng cụ, cách làm: như trong TM số 73.

 

Địa hạt: Phối hợp Mắt va Tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em sao chép không cần có chỉ dẫn, một hình có 3 yếu tố cần thiết: 3 cạnh, 3 gốc, một hình đóng. Chấp nhận một vài khuyết điểm nhỏ…

- (+/-) Làm một hình, nhưng kết quả không có nhữn yếu tố cần thiết,

- (-) Không làm gì.

 

TM số 77: Sao chép hình thoi

Dụng cụ, cách làm: như trong TM số 73.

 

Địa hạt: Phối hợp Mắt và Tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Một hình có: 4 gốc, 4 cạnh tương đối bằng nhau, hình đóng,

- (+/-) Có những thiếu sót cơ bản, nhưng trẻ em đã thực hiện và có một kết quả trên trang giấy,

- (-) Không làm.

 

TM số 78: Tô màu trong giới hạn chỉ định, không tràn ra ngoài

Dụng cụ: Giấy và bút.

 

Cách làm:

 

- Trao cho trẻ em hình con thỏ, để tô màu,

- Chỉ yêu cầu tô màu 2 phần mà thôi: 2 lỗ tai, cái đuôi hay là 4 chân,

- Không cần tô hết toàn hình.

 

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em tô màu, không tràn ra ngoài,

- (+/-) Tô những yếu tố chỉ định, nhưng tràn ra ngoài,

- (-) Không làm hay là bôi đen tất cả.

 

TM số 79: Dùng bút màu đồ lại các cạnh của 4 hình

Dụng cụ: Bản sao của 4 hình trên đây: tròn, vuông, tam giác và hình thoi.

 

Cách làm:

 

- Bảo trẻ em lấy bút đồ lại trên các cạnh,

- Chứng minh cách làm, nếu trẻ em không hiểu phải làm gì.

 

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết dùng bút đồ lên trên các cạnh, hay là dùng ngón tay trỏ lướt lên trên các cạnh,

- (+/-) Biết làm, nhưng cần người lớn chỉ dẫn,

- (-) Không biết và không thử làm.

 

TM số 80: Đặt các chữ hoa vào các ô trên bản mẫu

Dụng cụ: 9 chữ cái hay chữ hoa: H, I, V, D, U, E, Y, S, G.

 

Cách làm:

 

- Đặt trước mặt trẻ em bản mẫu có 9 chữ hoa trên đây,

- Đưa cho trẻ em chữ S, và yêu câu trẻ em đặt chữ S vào đúng ô của mình,

- Nếu trẻ em gặp khó khăn, trình bày cách làm với chữ S,

- Sau khi trình bày, lấy lại chữ S, và bảo trẻ em đặt lại chữ S vào đúng ô của mình,

- Lần lượt bảo trẻ em làm với các chữ khác. Mỗi lần, chỉ đưa cho trẻ em 1 chữ mà thôi.

 

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em làm đúng với tất cả 9 chữ,

- (+/-) Chỉ làm đúng ít nhất 2 chữ,

- (-) Không làm được với bất cứ chữ nào.

 

TM số 81: Gọi tên các chữ Cái

Dụng cụ: Dùng lại 9 chữ hoa, như trong TM số 80.

 

Cách làm:

 

- Lấy riêng ra từng chữ và để trước mặt trẻ em,

- Chỉ vào mỗi chữ và hỏi: “Chữ nầy tên gì?”

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em gọi đúng tên cả 9 chữ,

- (+/-) Chỉ gọi đúng tên 1 chữ mà thôi. Hay là dùng đúng 1 tên, để gọi tất cả 9 chữ,

- (-) Không gọi được tên của một chữ nào.

 

TM số 82: Bảo trẻ em đưa tay chỉ, khi chúng ta gọi tên mỗi chữ

Dụng cụ: Vẫn 9 chữ hoa trên đây.

 

Cách làm:

 

- “Hãy lấy đưa cho thầy chữ S”,

- Lặp lại lời yêu cầu, với 8 chữ kia.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm:

- (+) Trẻ em đưa tay chỉ đúng tất cả 9 chữ,

- (+/-) Chỉ đúng ít nhất 2 chữ,

- (-) Không làm hay là không chỉ đúng chữ nào cả.

 

TM số 83: Sao chép lại 7 chữ hoa

Dụng cụ:

 

- Giấy và bút màu,

- 7 chữ hoa: A, L, B, Y, E, D, G.

 

Cách làm : Bảo trẻ em nhìn và chép lại từng chữ để riêng ra.

 

Địa hạt : Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em chép lại đúng 7 chữ,

- (+/-) Sao chép lại « gần đúng » chỉ 1 chữ,

- (-) Không làm, không chép lại được chữ nào.

 

TM số 84 : Vẽ hình ngườ 

Dụng cụ : Giấy và bút màu.

 

- « Em hãy vẽ một hình người, hay là hình một đứa con trai (con gái),

- Chứng minh cách làm, nếu trẻ em không biết làm. Tuy nhiên, hãy tránh cách trình bày với những đường, những gạch thẳng…

 

Địa hạt : Vận động tinh.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em vẽ được hình người, có những phần như : đầu, thân mình và tay, chân. Trên phần đầu, có thêm ít nhất 1 chi tiết trình bày về mắt, mũi, miệng hoặc tóc.

- (+/-) Vẽ một hình người còn thiếu nhiều phần…

- (-) Không làm gì cả.

 

TM số 85 : Viết ra tên của mình

Dụng cụ : Giấy và bút.

 

Cách làm :

 

- Em hãy viết ra tên của em »,

- Sau một hồi, nếu trẻ em không làm, người lớn viết ra tên của trẻ em, trên một tờ giấy, và bảo trẻ em : « Em hãy viết tên em như thế nầy ».

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em viết ra đúng tên mình, không cần có cách trình bày trước,

- (+/-) Trẻ em viết ra, nhưng có những điểm sai và thiếu. Hay là trẻ em cần người lớn trình bày trước,

- (-) Không viết ra được.

 

TM số 86 : Dùng kéo cắt giấy

Dụng cụ : Giấy và kéo.

 

Cách làm :

 

- Bạn dùng kéo cắt giấy ra thành từng mảnh…

- Bảo trẻ em : « Em hãy dùng kéo cắt giấy ra, như thầy vừa làm ».

 

Địa hạt : Vận động tinh.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em cầm kéo một cách đứng đắn và cắt giấy thành vài mảnh,

- (+/-) Cố gắng cầm kéo lên, nhưng không cắt được,

- (-) Không làm.

 

TM số 87 : Dùng tay tiếp cận và nhận biết những vật dụng quen thuộc

Dụng cụ :

 

- Một bao vải khá rộng,

- Năm vật dụng quen thuộc :  * cây bút chì,  * khối vuông,  * bút màu có nắp đậy, *  quả banh nhỏ, *  một chiếc vòng hay một đồng tiền kẽm.

 

Cách làm :

 

- Bỏ vào bao 5 vật liệu trên đây,

- Bảo trẻ em đưa tay vào trong bao tìm vật dụng mà bạn gọi tên, không nhìn vào trong bao,

- Bỏ vào lại vật dụng mà trẻ em vừa lấy ra, trước khi yêu cầu trẻ em tìm một đồ vật khác,

- Nếu trẻ em gặp khó khăn, không hiểu…bạn có thể dùng những vật dụng cụ thể khác, y hệt như các vật dụng trong bao, đưa ra trước mắt trẻ em.

- Ví dụ : « Em hãy lấy ra một quả banh giống như quả banh nầy ».

 

Địa hạt : Vận động tinh.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em lấy ra đúng 4 vật dụng,

- (+/-) Lấy ra đúng 1 vật,

- (-) Không lấy ra đúng vật nào cả.

 

TM số 88 : Tìm ra các vật dụng, khi nghe tên mà thôi

Dụng cụ : Dùng lại y nguyên các vật dụng, như trong TM số 87.

 

Cách làm :

 

- Bạn chỉ gọi tên vật dụng,

- «  Hãy tìm và lấy ra quả banh ».

 

Địa hạt : Khả năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em lấy ra đúng 4 vật,

- (+/-) Chỉ lấy ra đúng 1 vật,

- (-) Không lấy ra đúng vật nào.

 

TM số 89 : Lắp ráp một hình người

Dụng cụ :

 

- Một tấm khung,

- 8 phần thân thể của một bé trai.

 

Cách làm :

 

- Đặt tấm khung và 8 phần thân thể trước mặt trẻ em,

- Dùng một phần lắp vào khung cho đúng chỗ và khít khang,

- Lấy ra lại phần vừa được dùng, và bảo trẻ em : « Em hãy ráp tất cả lại thành hình người ».

- Nếu trẻ em không làm được, bạn hãy chứng minh với tất cả 8 phần.

- Sau đó, lấy ra lại tất cả và bảo trẻ em làm.

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em lắp ráp được tất cả, không cần chứng minh,

- (+/-) Lắp ráp được ít nhất 2 phần, hay là cần có chứng minh trước.

- (-) Không làm được.

 

*TM số 90 : Chơi một mình (Yt)

Dụng cụ : Tất cả vật liệu đã được dùng từ lúc đầu, trong TM số 1, cho đến lúc nầy.

 

Cách làm :

 

- Dừng lại 5 phút nghỉ ngơi,

- Cho phép trẻ em tự do di chuyển trong phòng, hay là chơi với các vật liệu đã được đem ra làm việc,

- Tuy nhiên, trẻ em không được phép tiếp cận với các vật liệu sẽ được dùng, trong các TM tiếp theo sau nầy,

- Trong lúc trẻ em chơi, chúng ta giữ thinh lặng và quan sát,

- Trường hợp trẻ em đặt câu hỏi, chỉ trả lời một cách vắn gọn, không tìm cách tạo « quan hệ qua lại »,

 

- Quan sát những gì ?

 

Sáu điểm cần được lưu tâm một cách đặc biệt :

 

1) Trẻ em có biết chơi một mình không ?

2) Có hành vi  « lặp đi lặp lại » không ?

3) Lăng xăng hay là ngồi bất động ?

4) Có đưa mắt nhìn quanh và quan sát các nơi khác nhau trong phòng làm việc không ?

5) Có những hành vi bực bội hay là « tự hủy » không ?

6) Những điểm quan sát của riêngbạn về trẻ em.

Địa hạt : Hành vi (Quan Hệ và Xúc Động) : chơi đùa một cách vui thích, lưu tâm đến các trò chơi (Yt).

 

Chấm điểm :

 

- (+) Biết chơi một mình,

- (+/-) Tìm cách chơi nhưng cách chơi rất hạn chế về số lượng và ý nghĩa…

- (-) Lăng xăng, lo sợ, tự hủy, bỏ dụng cụ vào miệng hay là ném vật liệu tứ tung khắp nơi…

 

*TM số 91 : Quan hệ xã hội (Qh)

Dụng cụ : Cũng như trong TM số 90.

 

Cách làm:

 

- Quan sát hành vi của trẻ em, như trong TM số 90,

- Trọng tâm của việc quan sát trong TM số 91 nầy xoay vần chung quanh những chủ đề sau đây:

 

1) đặt câu hỏi cho người lớn,

2) mang đồ chơi hay là kết quả domình làm ra cho người lớn nhìn nhận, khen thưởng,

3) chia sẻ đồ ăn uống…

4) muốn được gần gũi, chiều chuộng, “trèo lên ngồi trên đầu gối”.

 

Địa hạt: quan hệ tiếp xúc.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em có khả năng tạo quan hệ,

- (+/-) Lưu ý đến sự có mặt của người lớn, nhưng không tạo quan hệ một cách năng động và không có sáng kiến,

- (-) Sống bít kín, không  mở rộng giác quan, để tiếp thu những yếu tố bao quanh bên ngoài.

 

*TM số 92: Đáp ứng thế nào khi người lớn gọi, hỏi (Qh)

Dụng cụ: Như trong 2 TM số 90 và 91.

Cách làm:

 

- Vào cuối lúc nghỉ giải lao, khi trẻ em đang chơi hay là ngồi một mình…ở chỗ khác, bạn gọi tên,kêu đến, bảongồi bên cạnh, đặt ra những câu hỏi…

- Quan sát và ghi nhận cách trả lời của trẻ em: Trong lời nói và xuyên qua hành vi.

 

Địa hạt: Quan hệ và Xúc động.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em tạo quan hệ qua lại, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng hành vi, một cách bộc trực,

- (+/-)  Có trả lời, đáp ứng nhưng thời gian “tiếp thu” ở giữa còn tương đối dài…

- Không phản ứng, bất động.

 

TM số 93: Sắp xếp các khối vuông chồng lên nhau

Dụng cụ: 12 khối vuông.

Cách làm:

 

- Đặt để 12 khối vuông trên bàn, trước mặt trẻ em,

- Trình bày cho trẻ em thấy phải sắp chồng các khối vuông lên trên nhau,

- Sau đó, lấy từng khối xuống và bỏ rải rác khắp đó đây, trong tầm tay của trẻ em,

- Bảo trẻ em: “Hãy làm như thầy đã làm”,

- Yêu cầu trẻ em làm 3 lần, mỗi lần dùng ít nhất 8 khối vuông, trên tổng số 12 khối.

 

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trong 3 lần ít nhất 1 lần, trẻ em sắp chồng lên được 8 khối trên nhau, mà không làm rơi,

- (+/-) Chồng lên trên nhau được 3 khối. Hay là chồng lên được nhiều khối hơn, nhưng các khối không đứng vững, rơi xuống…

- (-) Không làm. Hay là không chồng được 2 khối lên trên nhau.

 

TM số 94: Bỏ lại các khối vuông vào hộp

Dụng cụ:  Các khối vuông và 1 hộp.

Cách làm:

 

- Sau TM số 93, để thêm trên bàn một chiếc hộp,

- Yêu cầu trẻ em sắp xếp các khối vuông vào hộp,

- Nếu trẻ em không hiểu, chứng minh một lần với 2 khối vuông, và bảo trẻ em làm lại từ đầu.

 

Địa hạt: Phối hợp mắt và tay.

 

Chấm điểm:

 

   -(+) Trẻ em bỏ được 1 khối vào hộp,

   - (+/-) Tìm cách bỏ, nhưng quá vụng về trong địa hạt phối hợp tay mắt, cho nên trẻ em làm không được,

   (-) Không làm.

 

TM số 95: Đếm được từ 2 đến 7

Dụng cụ: 7 khối cùng một màu.

Cách làm:

- Để 2 khối trước mặt trẻ em và hỏi: “Có bao nhiêu khối?”,

- Khích lệ trẻ em đưa ngón tay đếm từng khối,

- Nếu trẻ em đếm được 2, đem ra thêm 5 cho đủ 7 khối trên bàn.

- Yêu cầu trẻ em đếm lại từ đầu, như lần trước.

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em đếm được cả 2 lần (2 và 7) một cách đứng đắn,

- (+/-) Đếm được đến 2. Thử đếm lên trên 2, nhưng không làm được,

- (-) Không làm.

 

TM số 96: Hãy đưa cho thầy các khối

Dụng cụ: 8 khối cùng màu.

Cách làm:

 

- Lần thứ nhất: “Hãy đưa cho thầy 2 khối”,

- Lần thứ hai: “Hãy đưa cho thầy 6 khối.

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết đưa 2 và 6 khối cho người lớn,

- (+/-) Trong 2 lần chỉ làm đúng 1 lần: hoặc đưa đúng 2, hoặc đưa đúng 6,

- (-) Không hiểu, không làm.

 

TM số 97: Biết thi hành một mệnh lệnh gồm có 2 vế

Dụng cụ: Một ly nhựa và các khối vuông.

Cách làm:

 

- Trước hết yêu cầu trẻ em chú ý nhìn và nghe,

- Bảo trẻ em: “Lấy một khối vuông  bỏ vào ly nhựa, sau đó  cầm ly nhựa để xuống đất”,

- Lặp lại mệnh lệnh sau một lúc, nếu trẻ em gặp khó khăn, không hiểu,

- Khi trẻ em bắt đầu thi hành mệnh lệnh, người lớn hoàn toàn giữ thinh lặng, không nói hay là không làm thêm bộ điệu.

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em làm đúng cả 2 vế của mệnh lệnh,

- (+/-) Trẻ em thi hành mệnh lệnh, nhưng bỏ sót hoặc vế đầu, hoặc vế sau, đảo ngược thứ tự, hay là bỏ 2 khối vào ly,

- (-) Không làm được.

 

TM số 98: Phân biệt và chọn lựa 2 loại đồ vật khác nhau

Dụng cụ:

- 6 khối vuông cùng màu,

- 6 con cờ màu đen,

- 2 hộp nhựa trong suốt hay là bằng thủy tinh.

 

Cách làm:

 

- Để làm mẫu, bạn bỏ một khối vuông trong một hộp, một con cờ đen trong hộp kia,

- Bảo trẻ em: “Em hãy bỏ khối vuông với khối vuông, bỏ cờ đen với cờ đen”,

- Sau đó bạn đưa cho trẻ em hoặc là 1 con cờ đen hoặc là 1 khối vuông, không theo một thứ tự cố định nào cả,

- Lưu ý trẻ em: “trong 4 lần đầu, em có thể sửa lại, nếu em thấy em sai. Sau 4 lần, em không còn được thay đổi”.

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em làm đúng 6 lần cho cả 2 loại,

- (+/-) Làm đúng 4 lần,

- (-) Không làm hay là làm mà kết quả ở dưới 4 lần.

 

 TM số 99: Thả rơi một khối vuông vào trong một bình trong suốt hoặc bằng nhựa, hoặc bằng thủy tinh

Dụng cụ:

- 6 khối vuông,

- Một bình nhựa trong hay thủy tinh.

 

Cách làm:

 

- Chính người lớn làm một lần cho trẻ em thấy,

- Sau đó, để trước mặt trẻ em một khối vuông,

- Bảo trẻ em: “Hãy cầm khối vuông và thả rơi vào trong bình.

 

Địa hạt: Vận động tinh.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em làm đúng 1 lần,

- (+/-) Trẻ em cố gắng làm, nhưng khối vuông vẫn rơi ra ngoài,

- (-) Không thả rơi, không cầm lên.

 

TM số 100 và 101: Lặp lại theo người lớn những dãy số

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

 

- Sau khi gây chú y, bảo trẻ em: “Thầy đọc lên những hàng số, em hãy nghe cho kỹ”,

- “Sau khi thầy đọc xong, em hãy lặp lại y nguyên”,

- Sau mỗi số, dừng lại một giây.

- Lặp lại thêm lần thứ hai, nếu trẻ em lặp sai trong lần thứ nhất,

 

- Dãy thứ nhất: 2 số,

Lần Một: 7-9,

Lần Hai: 5-3.

 

- Dãy thứ hai: 3 số,

Lần Một: 2-4-1,

Lần Hai: 5-7-9.

 

Địa hạt:

 

- TM số 100: Bắt chước, lặp lại,

 

- TM số 101: Kỹ năng ngôn ngữ.

Chấm điểm:

 

- (+) Lặp lại đúng một lần dãy 2 con số, và một lần dãy 3 con số,

- (+/-) Chỉ lặp lại đúng một lần dãy 2 con số,

- (-) Không lặp lại đúng dãy nào cả, trong 4 lần.

 

TM số 102 và 103: Lặp lại những dãy có 4 và 5 con số.

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Chỉ khảo sát 2 TM nầy, nếu 2 TM số 100 và 101 đã được chấm điểm (+),

- Cách làm hoàn toàn như trong 2 TM trên đây.

 

- Dãy thứ ba: 4 số,

 

Lần Một: 5-8-6-1,

Lần Hai: 7-1-4-2.

 

- Dãy thứ bốn: 5 số,

 

Lần Một: 3-2-9-4-8,

Lần Hai: 7-4-8-3-1.

Địa hạt:

 

- TM số 102: Bắt chước,

- TM số 103: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Lặp lại đúng một dãy 4 số và một dãy 5 số,

- (+/-) Chỉ lặp lại đúng 1 dãy 4 số,

- (-) Không lặp lại đúng dãy nào cả sau 4 lần.

  

TM số 104: Đếm lớn tiếng Một, Hai, Ba…

Dụng cụ: Không có,

 

Cách làm:

 

- Bạn bảo trẻ em: “Em hãy đếm đi”,

- Nếu trẻ em lúng túng, không biết cách làm, bạn hãy khởi đầu: “ Một…và sau đó là gì?”

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Đếm đúng đến 10,

- (+/-) Đếm đúng đến 3,

- (-) Không đếm đúng đến 3.

 

TM số 105: Đọc được những con số

Dụng cụ: Mười tấm giấy có ghi số từ 1 đến 10.

Cách làm:

 

- Bạn rút ra bất kỳ một tấm số nào và đưa cho trẻ em đọc: “Số mấy đây?”

- Nếu trẻ em không trả lời, sau một vài giây, chính bạn đọc lớn con số và bỏ tấm số trở lại trong xấp giấy,

- Tiếp tục rút ra những tấm khác và đưa cho trẻ em đọc,

- Trẻ em đọc được tấm nào, bỏ riêng tấm ấy ra một nơi khác.

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Đọc được cả 10 tấm từ 1 đến 10,

- (+/-) Chỉ đọc được một tấm, hay là dọc lui đọc tới một số duy nhất, với tất cả mọi tấm.

- (-) Không đọc, bất động.

 

TM số 106: Tính nhẩm trong đầu những bài toán cọng và trừ

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

 

- Đọc lớn tiếng một cách rõ ràng cho trẻ em, những bài toán sau đây,

- Đọc xong, để cho trẻ em một thời gian, để tính toán và trả lời,

- Có thể đọc lui tới vài lần, nhất là khi trẻ em yêu cầu,

- Bài Một: “Nếu em có 1 cái kẹo, thầy cho thêm 2 cái. Em sẽ có tất cả bao nhiêu cái kẹo?”

- Bài Hai: “Nếu em có 2 trái banh, thầy cho em thêm 4 trái. Em sẽ có tất cả bao nhiêu trái banh?”

- Bài Ba: Nếu em có 5 tấm ảnh, em tặng cho bạn em 2 tấm. Em còn lại mấy tấm?”

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em tính đúng ít nhất 2 bài,

- (+/-) Tính đúng chỉ 1 bài,

- (-) Không tính được bài nào hay làkhông làm.

 

TM số 107: Tính nhẩm những bài toán cọng và trừ, được trình bày một cách khách quan, ở ngôi thứ 3, áp dụng cho một người khác

Dụng cụ: Không có.

 

Cách làm:

 

- Đọc lớn và rõ ràng,

- Có thể lặp lại, nếu trẻ em cần và yêu cầu,

- Bài thứ nhất: “Bạn Xuân có 5 chiếc kẹo. Bạn ấy đem tặng cho em bạn 2 chiếc kẹo. Vậy bây giờ bạn Xuân còn bao nhiêu cái kẹo?”

- Bài thứ hai: “Bạn Thu có 2 bút chì màu. Mẹ bạn mua thêm cho bạn 4 bút chì khác. Vậy bây giờ bạn Thu có tất cả bao nhiêu bút chì màu?”

- Bài thứ ba: “Bạn Đông có 3 cuốn tập. Ba cho thêm 1 cuốn. Vậy bây giờ bạn Đông có tất cả bao nhiêu cuốn tập?”

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em trả lời đúng 2 bài,

- (+/-) Đúng 1 bài,

- (-) Không làm được bài nào.

 

TM số 108: Tìm ra chiếc kẹo được thu giấu

Dụng cụ:

 

- Một chiếc kẹo,

- Ba tấm khăn dày hay là 3 chiếc ly nhựa màu xám đục.

 

Cách làm:

 

- Để 3 chiếc ly nhựa úp sấp thành một hàng ngang trước mặt trẻ em,

- Trước mặt trẻ em, bạn làm những động tác:  *để chiếc kẹo dưới chiếc ly ở giữa,  **thay đổi chỗ qua lại 2 chiếc ly ở giữa và bên mặt,

- Bảo trẻ em tìm chiếc kẹo,

- Nếu trẻ không hiểu, bạn nâng cao chiếc ly bên mặt, để cho trẻ em thấy chiếc kẹo,

- Sau đó, để chiếc kẹo lại ở giữa, và làm động tác thay đổi qua lại như trước,

- Lần thứ hai, giấu kẹo ở bên trái và thay đổi ra giữa,

- Lần thứ ba, giấu kẹo bên mặt và chuyển đổi qua bên trái.

 

Địa hạt: nhận thức thị giác.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Kết quả đúng 2/3,

- (+/-) Kết quả đúng 1/3,

- (-) Không tìm, ngồi yên.

 

TM số 109: Dùng hai ngón tay trỏ và cái, để cầm chiếc kẹo

Dụng cụ: Một chiếc kẹo.

Cách làm:

 

- Mở bàn tay, đưa cho trẻ em chiếc kẹo,

- Quan sát kỹ cách trẻ em cầm lấy chiếc kẹo.

Địa hạt: Vận động tinh.

Chấm điểm:

 

- (+) Kẹp chiếc kẹo với 2 ngón tay cái và trỏ,

- (+/-) Cầm lấy chiếc kẹo với 3 ngón tay cái, trỏ và giữa,

- (-) Cầm chiếc kẹo với cả 5 ngón hay là cả bàn tay.

 

TM số 110: Trình bày bằng điệu bộ, cử chỉ… cách dùng của một đồ vật

Dụng cụ: Một số hình ảnh của 5 vật dụng như ; - chiếc còi, - trái banh, - cái trống, -chìa khóa, - cái cưa.

Cách làm:

 

- Chọn một tấm hình và đưa cho trẻ em nhìn,

- Bảo trẻ em: “Đồ vật nầy dùng để làm gì? Em thử đưa tay làm dấu, giải thích cho thầy biết”,

- Nếu trẻ em gặp khó khăn, hãy chứng minh cho trẻ em, cách dùng của đồ vật đầu tiên.

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em dùng điệu bộ giải thích cách dùng của 5 đồ vật.

- (+/-) Chỉ làm được l lần,

- (-) Không làm được gì cả.

 

TM số 111 và  *112: Phản ứng khi bất ngờ nghe tiếng chuông

Dụng cụ: Một cái chuông nhỏ.

Cách làm:

 

- Khi trẻ em đang chơi hay là làm việc,

- Đưa tay xuống dưới bàn, một cách kín đáo, không cho trẻ em thấy.

- Bạn rung thật mạnh tiếng chuông,

- Quan sát phản ứng của trẻ em.

 

Địa hạt:

 

- TM số 111: Nhận thức về thính giác,

 

- *TM số 112: Hành vi, phản ứnggiácquan (Gq).

Chấm điểm:

 

TM số 111: Nghe

 

- (+) Tỏ ra đã nghe tiếng chuông: đặt câu hỏi, hành vi giật mình, nhìn và tìm, bịt tai lại,

- (+/-) Nghe nhưng không có hành vi hướng về, tìm kiếm,

- (-) Không tỏ dấu hiệu đã nghe, không phản ứng.

 

    *TM số 112: Phản ứng giác quan (Gq)

 

- (+) Phản ứng thích hợp, không quá đáng,

- (+/-) Phản ứng chậm hay là có phản ứng xúc động không thái quá,

- (-) Hoặc bất động hoặc thái quá như thét la, sợ hãi, đưa hai tay bịt tai lại.

 

TM số 113: Bắt chước làm những tiếng động

Dụng cụ:

 

- Cái lách cách gõ nhịp,

- Cái chuông nhỏ,

- Cái muỗng.

 

Cách làm:

 

- Bạn bắt đầu gõ vào cái lách, làm tiếng kêu lách cách. Rồi đưa cái lách cho trẻ em và bảo: “Em làm đi”,

- Bạn cũng làm theo một thể thức ấy, với 2 dụng cụ kia.

 

Địa hạt: Bắt chước.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em lần lượt cầm lên cả 3 dụng cụ và làm ra tiếng động,

- (+/-) Cầm lên chơi, nhìn ngắm… nhưng không gây ra tiếng động,

- (-) Không cầm lên, không bắt chước.

 

TM số 114: Phân biệt, chọn lựa, sắp xếp các tấm hình theo 1 trong 2 tiêu chuẩn khác nhau là màu sắc và hình thể

Dụng cụ:

 

- 12 tấm hình,

- Các tấm hình trình bày 4 hình thể khác nhau: vuông, tròn, thoi vàtam giác,

- Các tấm hình có 3 màu sắc khác nhau: xanh lục. đỏ và tím.

 

Cách làm:

 

- Trải cả 12 tấm hình ra bên cạnh nhau, trước mặt trẻ em,

- Bảo trẻ em: “Em hãy sắp xếp các loại hình với nhau”,

- Nếu trẻ em lúng túng, trình bày một lần cách làm như sau: sắp xếp các hình tam giác lại với nhau hay là các hình màu xanh lục lại với nhau.

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết sắp xếp cả 12 tấm hình, hoặc theo tiêu chuẩn hình thể, hoặc theo tiêu chuẩn màu sắc,

- (+/-) Cần chứng minh mới làm, có thử sắp xếp lại với nhau, nhưng không biết phân biệt theo tiêu chuẩn rõ ràng,

- (-) Bất động, không thử.

 

TM số 115: Sắp xếp đồ vật cụ thể lên đúng với hình ảnh

Dụng cụ:

- 7 vật dụng: chiếc giày, ly nhựa, bàn chải đánh răng, cây bút chì, kéo, lược,

- 7 hình ảnh của các vật dụng trên đây: cùng màu, cùng hình thể, cùng cỡ lớn.

 

Cách làm:

 

- Lần thứ nhất: Bạn hãy chứng minh cách làm với 1 vật dụng và một tấm hình: lấy vật dụng đặt lên trên tấm hình,

- Lần thứ hai: Đặt trước mặt trẻ em 2 tấm hình, và đưa cho trẻ em 2 vật dụng được trình bày trên 2 tấm hình. Lần nầy, nếu trẻ em làm sai, bạn co thể sửa lại cho trẻ em thấy.

- Sau lần thứ hai, từ từ trải ra 2 tấm hình và đưa cho trẻ em 2 đồ vật có liên hệ.

- Và cứ như vậy cho đến hết.

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em sắp xếp đúng 5 lần,

- (+/-) Làm đúng 2 lần,

- (-) Không làm, hay là làm sai tất cả.

 

TM số 116 : Gọi đúng tên các vật dụng

Dụng cụ : Dùng lại 7 đồ vật trong TM số 115.

 Cách làm :

 

- Cầm lên từng mỗi đồ vật và hỏi : « Cái gì đây ? »,

- Nếu trẻ em không trả lời, bạn diễn tả lại : « Đây là… », và để cho trẻ em bổ túc, tiếp tục.

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em gọi đúng tên 5 đồ vật,

- (+/-) Chỉ gọi đúng tên một đồ vật, hay là làm điệu bộ giải thích,

- (-) Không nói, không làm.

 

TM số 117 : Biết cho, khi có người yêu cầu

Dụng cụ : Dùng lại các vật dụng và hình ảnh trong TM số 115.

Cách làm :

 

- Trong một chiếc hộp trong suốt, ở trước mặt trẻ em, có sẵn 7 vật dụng trẻ em đã biết,

- Bạn đưa tay và xin : « Hãy lấy cho thầy chiếc giày »,

- Nếu trẻ em bất động, không hiểu, bạn cầm lên hình ảnh chiếc giày và lặp lại lời yêu cầu : « Hãy lấy cho thầy chiếc giày ».

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em biết cho 3 vật dụng, không cần phải thấy 3 hình ảnh,

- (+/-) Trẻ em cho 1 đồ vật, không cần có hình ảnh được đưa ra trước mặt. Hay là cho 3 đồ vật, có hình ảnh giới thiệu,

- (-) Không lấy và cho, mặc dù có hình ảnh trợ giúp và giới thiệu.

 

TM số 118 : Biết dùng điệu bộ giải thích cách dùng của mỗi đồ vật

Dụng cụ :

5 vật dụng

- Một chiếc ly nhựa,

- Một cái muỗng,

- Một bút chì,

- Một cái lược,

- Một cái kéo.

 

Cách làm :

 

- Cầm đưa ra trước mặt trẻ em một vật dụng,

- Đặt câu hỏi cho trẻ em : « Em dùng đồ vật nầy để làm gì ? Làm cử chỉ giải thích cho thầy cách em làm »,

- Chứng minh cho trẻ em một lần, nếu trẻ em không biết cách làm.

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em biết dùng điệu bộ giải thích 4 vật dụng,

- (+/-) Biết làm với 1 vật dụng mà thôi,

- (-) Không làm.

 

TM số 119 : Mở và tắt đèn điện

Dụng cụ : Công tắc điện.

Cách làm :

 

- Nếu đã có điện sáng trong phòng, bảo trẻ em : « Em đi tắt điện giùm cho thầy »,

- Nếu chưa có điện, bảo trẻ em : « Em đi mở điện cho sáng »,

- Chứng minh đớng và mở một lần, nếu trẻ em bất động.

 

Địa hạt : Vận động tinh.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em biết mở và đóng công tắc điện,

- (+/-) Thử làm nhưng thiếu sức mạnh hay là cần chứng minh,

- (-) Không làm được.

 

TM số 120 : Thích nhìn một cuốn tập hay sách có hình ảnh

Dụng cụ : Một cuốn tập hay sách về ngôn ngữ có nhiều hình ảnh.

Cách làm :

 

- Để cuốn sách trước mặt trẻ em,

- Quan sát và ghi nhận trẻ em có phản ứng gì, đối với cuốn sách ?

 

Địa hạt : Nhận thức về thị giác.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em mở sách, nhìn hình, lật các trang sách, tỏ ra thích thú, lưu tâm…

- (+/-) Chỉ mở sách, lật qua lật lại, không nhìn các hình ảnh,

- (-) Không mở sách ra.

 

 

TM số 121 : Nhận biết các hình ảnh

Dụng cụ : Một cuốn sách có hình ảnh, như trong TM số 120.

Cách làm :

 

- Bạn mở sách ra trang đầu, đưa tay chỉ cho trẻ em từng tấm hình và gọi tên,

- Sau đó, để sách trước mặt trẻ em vàhỏi : « Con bò đâu, chỉ cho thầy ? Con vịt ?... »

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em nhận biết ít nhất 14 hình ảnh,

- (+/-) Nhận biết ít nhất 1 hình ảnh,

- (-) Không nhận biết hình ảnh nào cả.

 

TM số 122 : Gọi tên các hình ảnh

Dụng cụ : Cuốn sách về ngôn ngữ như trong TM số 120.

Cách làm :

 

- Mở sách ở trang đầu, đưa tay chỉ hình (con bò) và hỏi: « Đây là gì? »,

- Khi có những động tác, đặt câu hỏi : « Làm gì đây ? »,

- Bạn dừng lại, không còn tiếp tục đặt câu hỏi, khi trẻ em liên tiếp trả lời SAI hay là bất động, không có phản ứng với 5 tấm hình.

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em gọi đúng tên 14 hình ảnh,

- (+/-) Chỉ gọi đúng tên 1 hình ảnh,

- (-) Không gọi, hay là không gọi đúng hình nào cả.

 

TM số 123 : Lặp lại các âm thanh

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

 

- Bảo trẻ em : «Hãy lắng nghe thầy. Thầy nói gì, em nói lại như thầy».

- Lần thứ nhất : Mờ mờ,

- Lần thứ hai : Ba ba,

- Lần thứ ba : Pa ta hay là Ta ta,

- Lần thứ bốn : La la.

 

Địa hạt : Bắt chước phát âm.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em lặp lại được 3 âm thanh,

- (+/-) Lặp lại được một âm thanh hay là cố gắng bắt chước, nhưng không phát âm đúng hoàn toàn,

- (-) Trẻ em không làm, không bắt chước.

 

TM số 124 : Lặp lại những từ

Dụng cụ : Không có.

Cách làm : Giống như TM số 123

- Từ thứ nhất : Hốp,

- Từ thứ hai : Uống hay là ăn,

- Từ thứ ba : Em bé.

 

Địa hạt: Bắt chước.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em lặp lại được 2 từ trên 3,

- (+/-) Chỉ lặp lại được 1 từ trên 3, hay là 1 phần của từ như Bé thay vì Em bé,

- (-) Không lặp lại được.

 

 

TM số 125: Lặp lại những câu ngắn

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

 

       -    Bảo trẻ em lặp lại 3 câu sau đây, như trong TM số 123:

- Câu thứ nhất: “Em bé uống sữa”,

- Câu thứ hai: “Con đói bụng”,

- Câu thứ ba: “Nó không còn khóc”.

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em lặp lại được 2 câu,

- (+/-) Lặp lại 1 câu, hay là 2 từ trong một câu,

- (-) Không lặp lại gì cả.

 

TM số 126: Lặp lại những câu đơn sơ, dài hơn 3-4 từ

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

 

- Giống như trong TM số 123,

- Câu thứ nhất: “Em bé chơi vớitráibanh màu đỏ”,

- Câu thứ hai: “Tôi thấy chiếc máy bay trên trời cao”,

- Câu thứ ba: “Tuyết Mai đi mua một con búp bê và một chiếc xe ôtô”.

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em lặp lại đúng 2 câu,

- (+/-) Lặp lại 1 câu, với một vài thay đổi hay bỏ sót,

- (-) Không lặp lại  gì cả.

 

TM số 127: Lặp lại những câu phức tạp (có 2 mệnh đề)

Dụng cụ: Không có.

Cách làm:

 

- Giống như trong TM số 123,

- Câu thứ nhất: “Dù chó sủa, mèo vẫn không chạy trốn”,

- Câu thứ hai: “Trước khi ăn, tôi nhớ rửa tay, theo lời mẹ dạy”,

- Câu thứ ba: “Nếu em ngồi yên,thầysẽ cho em xem hình”.

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em lặp lại đúng 2 câu,

- (+/-) Lặp đúng một câu, hay là lặp lại vài từ trong 2 câu,

- (-) Không lặp lại.

 

TM số 128: Biết thi hành chỉ thị (ý kiến của người lớn)

Dụng cụ: 4 vật dụng sau đây:

- 1 trái banh,

- 1 ly nhựa,

- 1 con chó (múa rối),

- 1 hộp lớn đựng ly.

 

Cách làm:

 

- Để các dụng cụ trên bàn, trước mặt trẻ em,

- Bảo trẻ em: “Em hãy làm điều thầy yêu cầu”,

- Điều thứ nhất: Gõ nhẹ vào hộp,

- Điều thứ hai: Vuốt ve con chó,

- Điều thứ ba : Đứng dậy và nhảy,

- Điều thứ bốn : Bỏ ly vào hộp, sau đó ngồi xuống,

- Điều thứ năm : Gõ cửa, và sau đó đưa tay đụng vào vách.

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em biết thi hành 4 yêu cầu,

- (+/-) Biết thi hành 1 yêu cầu, hay là một phần trong 2 mệnh lệnh,

- (-) Không thi hành, không hiểu, không làm.

 

TM số 129 : Phản ứng, khi người lớn bắt chước hành vi của mình

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

 

- Bạn hãy bắt chước trẻ em,

- Không chọn lựa những hành vi như « tự hủy, lặp đi lặp lại »,

- Bắt chước 3 lần,

- Quan sát và ghi nhận phản ứngcủatrẻ em.

 

Địa hạt : Bắt chước.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em ý thức mình được bắt chước, tỏ ra vui thích, đồng thời lặp lại và kéo dài trò chơi…

- (+/-) Có ý thức, nhưng không kéo dài trò chơi quan hệ qua lại,

- (-) Không tỏ ra dấu hiệu có ý thức.

 

TM số 130 : Phản ứng khi có người lặp lại cách phát âm của mình

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

 

- Bắt chước khi trẻ em phát âm,

- Quan sát thái độ của trẻ em : ý thức, vui thích, bằng lòng…

 

Địa hạt : Bắt chước.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em ý thức và tỏ ra vui thích,

- (+/-) Ý thức nhưng không kéo dài trò chơi,

- (-) Không ý thức, không chú ý.

 

TM số 131 : Thi hành mệnh lệnh ( chỉ bằng ngôn ngữ)

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

 

- Chỉ dùng lời nói, không làm cử điệu,

- Những mệnh lệnh sau đây :

 

1- Ngồi xuống,

2- Đứng lên,

3- Đến đây,

4- Đưa cho thầy…

5- Không đụng tới…

6- Mở cửa ra.

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em hiểu và thi hành 3 mệnh lệnh,

- (+/-) Thi hành 1 mệnh lệnh.

- (-) Không thi hành.

 

TM số 132 : Nói một câu gồm có 2 từ

Dụng cụ : Đồ uống, 1 cái ly, bánh ngọt, 1 cái lược, bọt xà phòng.

Cách làm :

 

- Mục đích chủ yếu của TM nầy là : đặt câu hỏi, tạo điều kiện cho trẻ em nói.

- Sau đây là những ví dụ :

 

1)     Nước uống và ly : « Em có thích uống nước cam không ? Bây giờ em muốn uống không ? Nếu muốn uống, em xin làm sao ?Ly ở đâu ? Bây giờ làm gì ?... »

2)     Bánh ngọt : « Em muốn ăn bánh không ? Em hãy xin đi. Em có thích có thêm một miếng, đem về cho mẹ em ở nhà không ?... »

3)     Lược chải : «Cái gì đây ? Tên của cái nầy là gì ? Em dùng cái này làm gì ? Ở nhà, ai chải tóc cho em ?... »

4)     Bọt xà phòng : « Em làm gì với đồ chơi nầy ? Em biết thổi bọt xà phòng không ? Em thích thầy thổi cho em thấy không ? Em đanglàm gì đó ? Làm nổ chiếc bong bóng đi… »

 

Địa hạt : Khả năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em nói được 2 câu, mỗi câu có 2 từ,

- (+/-) Nói được 1 câu,

- (-) Không nói gì cả.

 

TM số 133 : Nói một câu có 4 hoặc 5 từ

Dụng cụ : Sách về ngôn ngữ, như trong các TM số 120, 121, 122.

Cách làm :

 

- Mở sách ra, đặt trước mặt trẻ em,

- Nếu trẻ em thích hình ảnh nào, thì đặt những câu hỏi về hình ảnh ấy,

- Nếu có cả 3 hoặc 4 hình trên một trang giấy không thể gây chú ý, bạn hãy lấy một tấm giấy che lại 3 hình và chỉ chừa lại một hình mà thôi,

- Đặt những câu hỏi như :

 

1)     Em nhìn cái gì ?

2)     Ở trong nhà em, có cái nầy không ?

3)     Ở nhà, em làm gì ?

4)     Em chơi banh và đạp xe ở chỗ nào ?

5)     Em làm gì, khi đi học về ?

6)     Em có giúp mẹ em nấu ăn không ?

7)     Em thích món ăn nào ?

8)     Em có mặc áo quần một mình không?

9)     Ai giúp em mặc áo quần ban sáng, trước khi đi học?

10) Em thích mặc áo màu gì?

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Nói 1 câu có 4 hoặc 5 từ, để mô tả một đồ vật hay một công việc…

- (+/-) Nói 1 câu ngắn hơn,

- (-) Không nói tư nào, không trả lời.

 

TM số 134: Bao nhiêu, nhiều, ít

Dụng cụ: Ngoài những vật liệu như khối vuông, bút màu, banh…chúng ta nóichuyện về áo quần, đồ chơi, các phần thân thể như tay… chân… mắt…

Cách làm :

 

Đặt những câu hỏi “Bao nhiêu, Mấy”, để trẻ em trả lời về số lượng Nhiều hay Ít...

 

Địa hạt: Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em hiểu thế nào là nhiều, biết trả lời mấy tay, mấy chân…

-  (+/-) Biết chỉ đúng, khi người lớn hỏi: “Bên nào nhiều…”,

- (-) Không phân biệt được nhiều, ít.

 

TM số 135: Dùng đại danh từ Tôi, Con (Em)

Dụng cụ: Nước ngọt, 2 ly, bánh ngọt, một con múa rối.

Cách làm :

 

1)     Đặt câu hỏi về tay

 

Người lớn đặt tay mình trên bàn,

Bảo trẻ em đặt tay mình bên cạnh,

Chỉ tay của người lớn và hỏi: “Tay này của ai?”

Chỉ tay của trẻ em va hỏi: “Tay này của ai?”

2)     Đặt câu hỏi về nước ngọt và ly

 

Bạn cầm ly và uống. Sau đó hỏi trẻ em: “Ai vừa uống?”

Bảo trẻ em uống và hỏi sau đó: “Ai vừa uống ?”

 

3)     Đặt câu hỏi về bánh ngọt

 

Chia ra 2 phần và hỏi: “Phần nầy của ai?”

 

Địa hạt: Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Biết phân biệt Thầy và EM (Con),

- (+/-) Biết nói về chính mình, nhưng còn lầm lẫn về cách xưng hô,

- (-) Không dùng cách nói Tôi, Con, Em.

 

TM số 136: Đọc một số từ vắn và gọn

Dụng cụ: Sáng chế những tấm giấy có 4 từ: 1-Bánh, 2-Một, 3-Ba, 4-Áo.

Cách làm :

 

Đưa ra cho trẻ em những trang giấy đã soạn sẵn, có những từ trên đây. Bảo trẻ em: “Em đọc đi”.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Đọc được 3 từ.

- (+/-) Đọc được 1 từ hay là nói một câu, trong đó có từ phải đọc.

- (-) Không đọc.

 

TM số 137: Đọc một câu ngắn

Dụng cụ:

Sáng tạo những tấm giấy hay là một cuốn tập có những câu ngắn.

 

Cách làm:

 

Để trước mặt trẻ em những trang giấy có những câu đã soạn sẵn:

 

- Câu thư nhất: Tuyết có áo đẹp,

- Câu thứ hai: Tuyết đã chơi banh,

- Câu thứ ba : Mai ở nhà với cha mẹ và đứa em,

- Câu thư tư : Mai nhặt trái banh và bỏ vào hộp.

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em đọc được 1 câu ngắn,

- (+/-) Đọc được 2 từ trong một câu,

- (-) Không đọc được.

 

TM số 138 : Đọc với một số lỗi

Dụng cụ : Cũng như trong TM số 137.

Cách làm :

 

Khảo sát kỹ lưỡng những lỗi của trẻ em, khi đọc những câu trong TM số 137.

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em đọc xuôi chảy, chỉ vấp váp với những chữ khó như Tuyết, Banh, Đứa, Hộp. Nhảy qua một đôi chữ, không đọc được những từ như Đã, Đứa,

- (+/-) Đọc nhiều câu, không bỏ cuộc, mặc dù có nhiều vấp váp, bỏ sót hay là đọc sai,

- (-) Không đọc.

 

TM số 139: Hiểu ý nghĩa, khi đọc

Dụng cụ: như trong TM số 137.

Cách làm:

 

- Bảo trẻ em đọc lại các tấm giấy hay là cuốn tập trong TM số 137,

- Chỉ đọc một mình, trong im lặng,

- Sau khi trẻ em đọc xong, bạn hãy đặt ra những câu hỏi:

 

1)     Ở nhà, Mai có ai?

2)     Tuyết chơi gì ?

3)     Ai mặc áo đẹp ?

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em trả lời đúng 2 câu,

- (+/-) Đúng 1 câu,

- (-) Không đúng câu nào, hay là không trả lời.

 

TM số 140 : Đọc và thi hành những chỉ thị được viết ra

Dụng cụ :

- Một tấm giấy có ghi sẵn một câu để đọc :  « Bé Mai nhặt trái banh và bỏ vào hộp »,

- Một trái banh,

- Một cái hộp.

 

Cách làm :

 

- Soạn sẵn và để trước mặt trẻ em 3 dụng cụ trên đây,

- Bảo trẻ em đọc tấm giấy, trong im lặng,

- Khi trẻ em đọc xong, bảo trẻ em : « Em hãy làm như bé Mai đã làm ».

 

Địa hạt : Kỹ năng ngôn ngữ.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em bỏ trái banh vào hộp,

- (+/-) Trẻ em chỉ cầm trái banh lên nhìn,

- (-) Không làm gi, không hiểu.

 

TM số 141 : Đoán trước những điều đã thành quen thuộc

Dụng cụ : Một chiếc khay, hay hộp, để sắp xếp lại các dụng cụ, sau khi mỗi tiết mục hoàn tất.

Cách làm :

 

- Suốt thời gian Lượng Giá, sau mỗi TM, khi có dụng cụ, chúng ta sắp xếp các dụng cụ vào trong một chiếc hộp lớn.

- Khi làm như vậy, chúng ta yêu cầu trẻ em cùng làm, giúp đỡ chúng ta,

- Trong TM số 141, chúng ta ghi nhận kết quả : Trẻ em có hiểu và tự động xếp lại các dụng cụ, như đã làm từ đầu không ?

 

Địa hạt : Kỹ năng Tư duy.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Sau độ 10 TM, trẻ em đã hiểu và tự động làm, không cần người lớn yêu cầu,

- (+/-) Trẻ em đã hiểu, sau một thời gian dài hơn 2 hoặc 3 lần. Chỉ hiểu sau thời gian nghỉ giải lao ở giữa,

- (-) Cho đến cuối giờ, trẻ em vẫn không tự động sắp xếp.

 

TM số 142 : Đưa tay làm dấu Chào, khi ra đi

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

 

- Trong lúc làm việc, bạn làm và bảo trẻ em làm : Vẫy chào con múa rối, trước khi xếp vào hộp,

- Vào giờ nghỉ giải lao, bạn đi ra ngoài. Trước khi ra, bạn đưa tay vẫy chào và quan sát : Trẻ em có đáp lại hay là bắt chước bạn không ?

 

Địa hạt : Bắt chước.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em làm dấu đáp lại,

- (+/-) Chỉ phác họa cử chỉ. Cử chỉ không rõ ràng,

- (-) Không có phản ứng gì cả.

 

*TM số 143 : Phản ứng khi bị nhéo đau (Gq)

Dụng cụ : Không có.

Cách làm :

 

- Báo trước cho trẻ em biết : « Thầy sẽ nhéo em một cái thật mạnh »,

- Nói xong đưa tay nhéo đủ mạnh, để quan sát phản ứng của trẻ em,

- Sau đó, tìm cách hỏi lại trẻ em :  « Thầy có làm em đau lắm không ? Thôi, thầy cho phép em nhéo lại thầy một cái thật mạnh ».

 

Địa hạt : Quan hệ và phản ứng Xúc động đối với những kích thích giác quan.

 

Chấm điểm :

 

- (+) Trẻ em có phản ứng rõ rệt và bằng lòng nhéo lại người lớn,

- (+/-) Phản ứng mạnh… Hay là chỉ thoáng qua,

- (-) Bùng nổ, la lối, thét gào… Hay là vô cảm hoàn toàn.

 

TTT

Với 31 TM còn lại, chúng ta không đưa ra những câu hỏi mới. Trái lại, chúng ta chỉ làm công việc tổng kết công việc quan sát về Hành Vi của trẻ em, nhất là trong suốt thời gian nghỉ giải lao.

Mục đích chính yếu của 31 TM nầy là nhằm xác định và kiểm chứng mức độ Rối Loạn Hành Vi của trẻ em. Năm triệu chứng phải được hội tụ đầy đủ và rõ ràng, chúng ta mới có thể khẳng quyết về sự có mặt của HỘI CHỨNG TỰ KỶ, như đã được nhấn mạnh lui tới, trong Lời Mở Đường.

Hẳn thực, trong các giai đoạn phát triển, từ 0 đến 7 tuổi, những rối loạn hay là triệu chứng ấy, đang trên đường xuất hiện.  Dần dần, chúng nó lan tỏa, lấn chiếm và tràn ngập trong 4 địa hạt sinh hoạt của trẻ em là cảm giác, ngôn ngữ, xúc động và quan hệ xã hội.

Lối nói « Tự kỷ » có ý nghĩa chủ yếu là « đóng kín mình lại », không tiếp thu và hội nhập những gì phát xuất từ môi trường bên ngoài, bắt đầu từ người mẹ ? Tự có nghĩa là Mình, tương đương với từ « auto », trong tiếng Hy Lạp, hay là Self trong tiếng Anh.

Chính vì lý do nầy, một cách hoàn toàn có ý thức, trước đây tôi ngại KHÔNG dùng lối nói “Tự Kỷ” để chuyển dịch Hội chứng Autism, trong tiếng Anh, hay là Autisme trong tiếng Pháp. Phải chăng « Kỷ » có nghĩa là Tôi, hay là chủ thể ở ngôi thứ nhất, như trong các từ Hán Việt « vị kỷ, ích kỷ, xả kỷ » ?

Theo Tâm Lý Học đương đại, phải đợi đến giai đoạn phát triển trên 3-4 tuổi, một trẻ em mới bắt đầu có ý thức rõ rệt về mình như một chủ thể, cũng như có khả năng dùng từ “TÔI, CON…” để nói về mình, trong các quan hệ tiếp xúc qua lại hai chiều giữa người với người.

Trái lại, một trẻ em có nguy cơ Tự kỷ chưa có ý thức rõ rệt về mình, với tư cách là «Tôi » hay là « một chủ thể ở ngôi thứ nhất ». Chính vì lý do nầy, trẻ em đang lẫn lộn giữa mình và người khác, trong cách dùng các Đại Danh Từ « Tôi, Mầy, Nó »  Theo lối nhìn của M. MAHLER, vào giai đoạn phát triển nầy, trẻ em đang có quan hệ « hòa sinh, hòa nhập » (symbiose) với người mẹ. Cho nên, trẻ em chưa thể nào phân biệt « đến đâu là lỗ miệng của mình, đến đâu là nấm vú của mẹ đang cho mình bú ».

 

*TM số 144: Khám phá phòng ốc, địa điểm và các dụng cụ (Yt)

Cách làm: Quan sát thể thức trẻ em khám phá môi trường, trong suốt giai đoạn Lượng Giá:

- Thích thú,

- Cách đứng ngồi,

- Hàn vi lăng xăng,

- Hành vi lặp đi lặp lại.

 

Địa hạt: Thái độ thích nghi đối với nơi lạ,người lạ, công việc lạ.

Chấm điểm:

- (+) Hành vi thích nghi,

- (+/-) Ít lưu tâm và chú ý, hành vi lăng xăng kéo dài,

- (-) Hành vi lặp đi lặp lại, đi lui đi tới, hay là nằm dài trên sàn nhà.

 

*TM số 145: Thể thức khám phá, sử dụng các vật liệu (Yt)

Cách làm: Trong 3 TM số 144, 145 và 146, chúng ta quan sát thái độ và phản ứng của trẻ em.

- Trong TM số 144: Đối với nơi chốn,

- Trong TM số 145: Đối với dụng cụ, đồ chơi,

- Trong TM số 146: Đối với người.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Nhìn chăm chú, đụng đến, cầm lên, thử làm…

- (+/-) Hoặc là giữ khoảng cách, không lưu tâm, không dám. Hoặc là bám sát vào một dụng cụ, khó rời bỏ để làm việc khác, khám phá tròchơi khác.

- (-) Phản ứng lạ thường như liếm, ngửi, ném tứ tung…

 

*TM số 146: Nhìn thẳng hay là tránh liếc nhìn của người khác (Qh)

Cách làm: Ở đây chúng ta quan sát những liên hệ giữa cách nhìn và thể thức thiết lập quan hệ tình cảm.

Chấm điểm:

 

- (+) Nhìn một cách thích hợp, nhìn thẳng,

- (+/-) Nhìn thoáng qua, cho dù tỏ ra thích thú,

- (-) Nhìn chỗ khác, tránh nhìn thẳng.

 

*TM số 147: Bén nhạy về Thị giác (Gq)

Trong các TM từ 147 đến 151, chúng ta khảo sát cách thức trẻ em sử dụng 5 giácquan Thị, Thính, Xúc, Vị và Khứu.

Cách làm: Trả lời những câu hỏi:

 

- Trẻ em có thấy không? Thị lực? Sức khỏe?

- Trẻ em nhìn thế nào? Vì sao?

- Lối nhìn trực diện hay là “ngoại vi”?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Nhìn một cách bình thường, thích ứng với yếu tố kích thích,

- (+/-) Tránh né nhìn thẳng, khi khám phá vật liệu,

- (-) Cách nhìn khác thường, đưa lên tận mắt hay là nhìn chéo.

 

*TM số 148: Mức độ bén nhạy về thính giác (Gq)

Cách làm: Khi khảo sát địa hạt Thính giác, chúng ta đặt ra những câu hỏi:

- Trẻ em có nghe hay không?

- Tìm hiểu ngưỡng của trẻ em: Ngưỡng sơ khởi và ngưỡng khổ đau nằm vao những tần số nào?

- Lý do không nghe: nguồn gốc cơ thể, thần kinh hay là tâm lý?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Bình thường,

- (+/-) Lơ đảng, không phản ứng cách nhạy bén,

- (-) Hoặc vô cảm hoặc quá nhạy cảm.

 

*TM số 149: Nhạy bén về mức độ xúc giác (Gq)

Địa hạt: Xúc giác.

Cách làm: Quan sát cách thích trẻ em dùng tay, làn da, để tiếp cận người cũng như cách vật dụng

 

Chấm điểm:

 

- (+) Bình thường,

- (+/-) Một vài dấu hiệu khác lạ,

- (-) Vô cảm, không phản ứng, hay là thét la, chạy trốn, khi có người lại gần bắt tay, va chạm.

 

*TM số 150: Vị giác: bỏ vật liệu vào miệng bú mút (Gq)?

*TM số 151: Khứu giác: tìm cách ngửi đồ vật (Gq)?

Cách làm: Khảo sát vai trò và tầm quan trọng của vị giác và xúc giác, khi trẻ em tiếp cận người và đồ vật. Có chăng những mùi vị có khả năng làm cho trẻ em “lại gần” hay là “giữ khoảng cách”?

Trong cả 2 TM số 150 và 151 nầy, chấm điểm:

 

- (+) Bình thường,

- (+/-) Có một vài dấu hiệu khác lạ,

- (-) Bất thường, không giống ai.

 

*TM số 152: Xúc động và quan hệ (Qh)

Cách làm:

- Quan sát và ghi nhận cách trẻ em bày tỏ xúc động có thích hợp với tình huống cụ thể không?

- Trẻ em thiết lập quan hệ vớingườikhác thế nào?

- Một cách đặc biệt, khi khảo sát về xúc động, chúng ta cần đặt trọng tâm vào NHU CẦU cơ bản : Trẻ em đang cần gì?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em bộc lộ và diễn tả một cách thích hợp những xúc động của mình, trước những lời yêu câu của người lớn, cũng như khi tiếp cận các dụng cụ, các đồ chơi…

- (+/-) Không bộc lộ ra ngoài một cách dễ dàng,

- (-) Bộ mặt nũng nịu hay tức giận khi không có lý do rõ ràng và chính đáng. Hay là thiếu quan hệ tiếp xúc với người lớn đang làm công việc lượng giá.

 

*TM số 153: Tác phong hay là hành vi vui thích (Yt)

Xét về mặt định nghĩa, tác phong hay hành vi là tất cả những cử chỉ, điệu bộ,việc làmcụ thể, có thể được quan sát và ghi nhận từ ngoài. Ngôn ngữ cũng là một loại hành vi, có thể được quan sát.

Cách làm:

 

- Quan sát cách trẻ em tổ chức công việc,

- Trẻ em bắt chước có đứng đắn với mẫu đề nghị không?

- Trẻ em quên sót những yếu tố quan trọng, vì lý do thiếu thích thú, chăm chú hay là vì tình trạng của các cơ quan cảm giác?

- Trẻ em có dùng ngôn ngữ không? Dùng ngôn ngữ thế nào? Với những điều kiện nào?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết tổ chức công việc, biết tỏ ra thích thú trước những trò chơi, biết hỏi khi có vấn đề…

- (+/-) Cần người lớn khích lệ, nâng đỡ, trình bày, chứng minh cách làm, mới dám bắt tay vào việc,

- (-) Chú ý mong manh, hành vi hỗn loạn, cách tổ chức công việc thiếu hợp lý.

*TM số 154: Trẻ em tìm sự giúp đỡ nơi người khác, với những cách làm nào (Qh)?

Địa hạt: Tạo quan hệ, vì lý do nào: Nhu cầu hay là nguyện vọng?

Cách làm:

 

- Trẻ em có dùng lời nói hay là làm những điệu bộ, để hỏi ý kiến hay là yêu cầu sự giúp đỡ?

- Khi có nhu cầu hay là khi gặp khó khăn, trẻ em làm gì?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết xin,

- (+/-)Thoảng hoạt, trẻ em có làm cử chỉ để xin,

- (-) Không bao giờ và không biết xin.

 

*TM số 155: Cách diễn tả, bộc lộ xúc động lo sợ (Qh)?

Địa hạt: Quan hệ và Xúc động.

Cách làm: Khi từ biệt cha mẹ để vào làm việc trong phòng lượng giá, với mộtngười lạ, trẻ em có phản ứng thế nào? Từ chối, lo sợ, gào thét? Phản ứng thích nghi hay là quá đáng?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em có phản ứng thích hợp: Lo sợ lúc ban đầu, nhưng có khả năng trở lại tình trạng bình thường, bình tĩnh, sau khi được tiếp xúc, nâng đỡ,

- (+/-) Phản ứng rụt rè nhưng vẫn chấp nhận làm việc với người lạ,

- (-) Gào thét, không chịu rời khỏi cha mẹ.

 

*TM số 156: Điệu bộ hay là ngôn ngữ “lặp đi lặp lại” (Gq)

Địa hạt: Hành vi thuộc giác quan, nhất là xúc giác và vận động toàn thân.

Cách làm:

 

- Một đàng, chúng ta quan sát cách thức trẻ em sử dụng cơ thể toàn diện, trong lúc làm việc, cũng nhưtrong khi giải trí,

- Đàng khác, thử đào sâu hơn, khám phá ý nghĩa của hành vi “lặp đi lặp lại”: Nhu cầu nào ở bên dưới? Diễn tả gì? Bộc lộ xúc động nào? Thói quen?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em không có những hành vi máy móc, tự động.

- (+/-) Một đôi khi, như… trong trường hợp… vì lý do (sự kiện và giả thuyết),

- (-) Quay tròn, đu đưa, tay chân múa máy, hành vi tự hủy.

 

*TM số 157: Phản ứng trước sự có mặt của người lớn, khả năng lưu tâm, tạo quan hệ (Qh)

Địa hạt: Quan hệ và Xúc động.

Cách làm:

 

- Câu hỏi thứ nhất: Trẻ em có trả lời không?

- Câu hỏi thứ hai: Trẻ em có nhìn thẳng mặt?

- Câu hỏi thứ ba: Khi được khen, trẻ em có thái độ nào?

- Câu hỏi thứ tư: Khi người lớn khẳng định một qui luật, một cách làm, hay là tỏ ra không bằng lòng, trẻ em có phản ứng gì?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết nghe, nhìn, mỉm cười để đáp lại,

- (+/-) Lưu tâm, khi người lớn áp đặt, đòi hỏi, bắt buộc…

- (-) Xem như người trước mặt không có mặt, không có ý nghĩa gì.

 

*TM số 158: Khả năng hợp tác (Qh)

Địa hạt: Quan hệ và Xúc động.

Cách làm:

 

- Khi bạn yêu cầu một công việc, trẻ em trả lời thế nào?

- Trẻ em có hiểu điều bạn yêu cầu không?

- Trẻ em hiểu nhưng có thực hiện không?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em biết làm, khi hiểu. Khi không hiểu, biết đặt câu hỏi,

- (+/-) Từ chối một cách rõ ràng. Hợp tác không đồng bộ,

- (-) Bất động, ù lì…

 

*TM số 159: Khả năng chú ý, vui thích (Yt)

Địa hạt: Trước công việc, múc độ hứng thứ, vui thích, lưu tâm.

Cách làm:

 

- Đo lường khả năng chú ý của trẻ em, khi chơi cũng như khi làm,

- Khi được người lớn động viên, bực bội? Lãnh đạm?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Bình thường, tùy vào lứa tuổi,

- (+/-) Có chú ý, nhưng như một trẻ nhỏ hơn,

- (-) Không ổn định, bực bội khi co kẻ khác yêu cầu.

 

*TM số 160: Khả năng chấp nhận một thực tế, một khuôn khổ, một qui luật (Qh)

Cách làm:

Quan sát thái độ, phản ứng của trẻ em,

 

- Khi người lớn tỏ ra không bằng lòng,

- Khi người lớn đề nghị phải thay đổi,

- Khi người lớn làm điều ngược lại với ý thích,

- Khi người lớn từ chối một nguyện vọng…

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em chấp nhận thay đổi,

- (+/-) Trẻ em cảm thấy khó khăn, nhưng có khả năng chấp nhận, khi người lớn hiểu và giải thích thế nào là ngưỡng, là thực tế, là qui luật…

- (-) Phản ứng mạnh như thét lam chống đối, bùng nổ…

 

*TM số 161: Cách phát âm, vận tốc, âm điệu của ngôn ngữ (Nn)

Từ TM số 161 đến số 171, chúng ta khảo sát Ngôn ngữ của trẻ em, dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Cách làm: Khảo sát

 

- Cung điệu,

- Độ mạnh,

- Vận tốc.

 

Chấm điểm:

 

- (+) Bình thường, thích ứng,

- (+/-) Không điều hòa, khi quá nhanh, khi quá chậm,

- (-) Khó nghe, vận tốc hoặc quá nhanh, hoặc quá chậm,

 

*TM số 162: Phát âm hay là “bi bô” như trẻ em dưới 18 tháng (Nn)

Chấm điểm:

- (+) Có ngôn ngữ, các từ phát ra có ý nghĩa,

- (+/-) Phát ra một số âm và từ, nhưng thường bi bô,

- (-) Hoàn toàn câm nín hay là bi bô.

 

*TM số 163: Các từ (Nn)

Trong TM số 161: chỉ có giọng nói hay là cung điệu trầm bổng, lên xuống,

Trong TM số 162: trẻ em dưới 18 tháng chi “bi bô”, không có các từ thuộc một ngôn ngữ thường dùng.

 

Trong TM số 163 nầy, bên cạnh cung điệu, bi bô, các từ có ý nghĩa đã xuất hiện. Những từ nầy có được dùng để trao đổi, tiếp xúc qua lại hay không? Phải chăng các từ nầy có ý nghĩa như một câu nói, với một nội dung?

 

Chấm điểm:

 

- (+) các từ có ý nghĩa, người khác hiểu ý nghĩa,

- (+/-) Thông thường là bi bô, chen vào một vài từ có ý nghĩa,

- (-) Trẻ em chỉ bi bô, chưa trao đổi qua lại với một nội dung cụ thể.

 

*TM số 164: Một loại ngôn ngữ cá biệt, một thứ “ngoại ngữ”, không ai trong môi trường có thể hiểu (Nn)

Chấm điểm:

- (+) Một  ngôn ngữ tuy dù nghèo nàn, có một ý nghĩa xã hội,

- (+/-) Một số từ có ý nghĩa ở giữa một số từ hoàn toàn cá biệt. Ví dụ trẻ em em dùng từ “xơ”, khi muốn uống nước. Chỉ có bà mẹ hoặc vài người trong nhà mới hiểu được “ngoại ngữ” ấy.

- (-) Ngôn ngữ hoàn toàn cá biệt, không có thêm một số từ có ý nghĩa xã hội.

 

*TM số 165: Lặp lại những câu nói có ý nghĩa trong quá khứ, nhưng không diễn tả thực tại đang xảy ra (Nn)

Ví dụ: Giữa lúc trời đang nóng, trẻ em nói lên: “Trời cứ mưa hoài”.

Chấm điểm:

- (+) Không có hiện tượng “lặp đi lặp lại”,

- (+/-) Thoảng hoạt có hiện tượng lặp lại.

- (-) Thường xuyên và liên tục, khi ở một mình hay là trong môi trường xã hội.

 

*TM số 166: Lặp lại lời người khác hiện đang nói, một cách máy móc và tự động (Nn)

Chấm điểm:

- (+) Không có hiện tượng lặp lại lời người khác đang nói,

- (+/-) Thoảng hoạt,

- (-) Hiện tượng này xảy ra thường xuyên.

 

*TM số 167: Có khả năng trao đổi, nhưng một vài từ hay câu nói xuất hiện lui tới như “một điệp khúc”, trong một bài hát (Nn)

Chấm điểm:

- (+) Không có hiện tượng “điệp khúc”,

- (+/-) Vài trường hợp, vài cơ hội…

-  (-) Thường xuyên trong ngày.

 

*TM số 168: Cách dùng Đại Danh Từ (Nn)

Chấm điểm:

- (+) Sử dụng đúng, biết phân biệt ngôi nhất, ngôi hai và ngôi ba,

- (+/-) Đôi khi lẫn lận tôi, mày, nó, nhưng biết sửa lại, khi có người hỏi.

- (-) Thường xuyên dùng mày hay nó, để nói về mình.

 

 

*TM số 169: Ngôn ngữ có ý nghĩa (Nn)

Chấm điểm:

- (+) Phân biệt rõ ràng các từ,

- (+/-) Phát âm khó hiểu, lẫn lộn từ nầy với từ khác,

- (-) Ngôn ngữ rất khó hiểu, nhất là đối với những người ngoài gia đình.

 

*TM số 170: Khả năng văn phạm, nhất là thứ tự các từ (Nn)

Chấm điểm:

- (+) Không đảo lộn các từ, nhất là thứ tự chủ từ và động từ,

- (+/-) Một đôi khi, biết điều chỉnh lại, nếu có người gây ý thức,

- (-) Đảo lộn một cách tự nhiên và thông thường.

 

 

*TM số 171: Tính hồn nhiên khi trao đổi (Nn)

Chấn điểm:

- (+) Ngôn ngữ linh động, có khả năng thay đổi, tùy theo hoàn cảnh,

- (+/-) Chỉ trả lời, khi được nâng đỡ, khích lệ,

- (-) Không co những trao đổi hồn nhiên. Chỉ nói đi nói lại một số vấn đề rất hạn chế.

 

*TM số 172: Điều gì có thể động viên, tạo vui thú và vui thích? Động cơ thúc đẩy hành động (Yt)

- Đồ chơi nào? Dụng cụ nào?

- Của ăn của uống?

- Sách…?

- Lời khen thưởng ( quan hệ)?

- Hãnh diện vì thành tựu?

 

Chấm điểm:

 

- (+) Trẻ em tỏ ra có hứng thú, khi được khích lệ, nâng đỡ,

- (+/-) Trẻ em tỏ ra thất thường. Khó tìm ra những động cơ nào khả dĩ thức đẩy,

- (-) Bất động. Không gì có thể động viên.

 

*TM số 173: Thái độ và phản ứng trước lời khen thưởng (Qh)

Chấm điểm:

- (+) Khi được khen thưởng, trẻ em làm việc có kết quả,

- (+/-) Thất thường, tùy cơ hội,

- Lãnh đạm trước lời khen thưởng.

 

*TM số 174: Thái độ vui thích trước dụng cụ, trò chơi, công việc. Hãnh diện về kết quả (Yt)

Chấm điểm:

- (+) Công việc thích ứng với mức độ phát triển có khả năng tạo vui thú và hãnh diện,

- (+/-) Tùy hoàn cảnh và sức khỏe…Kết quả thất thường.

- (-) Không tỏ ra thích thú và hãnh diện.

 


Chương BA :

Thể thức tổ chức Công việc Lượng Giá

 

Trước khi thực hiện công việc lượng giá Mức độ Phát triển và Hành Vi của trẻ em, mỗi người giáo viên, mỗi chuyên viên hay phụ huynh, cần nghiên cứu, học hỏi, làm quen với 4 yếu tố:

- Dụng cụ hay là vật liệu cần thiết cho công việc lượng giá (Xem Phụ Trương),

- Mục đích và yêu cầu của công việc lượng giá,

- Các tiêu chuẩn “chấm điểm” (Xem lại chương Hai),

- Tiến trình và thể thức áp dụng công việc, nhất là trong cách quan sát và ghi nhận kết quả cụ thể do trẻ em trình bày, khi cần phải giải quyết những vấn đề, do chúng ta đề nghị trong mỗi Tiết Mục.

Các người đã có kinh nghiệm lâu nămtrongnghề nghiệp, yêu cầu chúng ta:

- Thực tập công việc Lượng Giá, ít nhất 5 lần, trước khi áp dụng với một trẻ em có nguy cơ tự kỷ,

- Thực tập lúc ban đầu, với những trẻ em bình thường, dưới 7 tuổi,

-  Thực tập dưới sự hướng dẫn của một bạn đồng nghiệp, đã có kinh nghiệm về công việc lượng giá, dành cho các trẻ em có nguy cơ tự kỷ, từ 3 tháng trở lên và từ 7 tuổi trở xuống. 

Những điều kiện tổng quát:

1)      Công việc lượng giá cần được tổ chức trong một căn phòng ấm cúng và yên tĩnh, không quá rộng, không quá hẹp.

2)      Những trang bị cần thiết: 

o         Một bàn làm việc cho một người lớn và một trẻ em,

o         Một chiếc ghế vừa tầm cao của trẻ em,

o         Một chiếc ghế dành cho người lớn,

o         Gần chỗ làm việc, có một cầu thang nhỏ, không có tay vịn,

o         Chuẩn bị sẵn một số đồ chơi để khen thưởng trẻ em, đồ uống và bánh ngọt cho giờ nghỉ ngơi và giải lao kéo dài độ 5-7 phút, sau TM số 143,

o         Vật liệu hay là dụng cụ lượng giá cho mỗi TM, được soạn sẵn và sắp xếp theo thứ tự, trong một chiếc hộp lớn hay là chiếc va li. Một hộp hay va li khác dành cho các vật liệu đã được dùng.

o         Có tất cả 131 TM dành cho vấn đề lượng giá và phát hiện các cấp độ phát triển. Ngoài ra còn có thêm 43  *TM, có đánh dấu thị ( *) ở trước, dành cho vấn đề khảo sát Hành Vi Rối Loạn, được phân chia thành 4 địa hạt khác nhau : Quan hệ xã hội  (viết tắt là Qh), Sinh hoạt Giác quan (Gq), Ý thích và vui thú khi tiếp cận các dụng cụ (Yt) và sau cùng là các cách sử dụng Ngôn ngữ (Nn).

3)      Thời gian cần thiết để thực hiệc công việc Lượng Giá, có thể kéo dài từ 45 phút đến 1 giờ rưởi. Tuy nhiên, với những điều kiện riêng biệt của những trẻ em dưới 2 tuổi, và những trẻ em có hành vi rối loạn trầm trọng, thời gian nầy có thể lên tới 2 hoặc 3 tiếng đồng hồ. 

4)      Đối với những trẻ em rụt rè, lo sợ, chúng ta cần thêm một thời gian để “tạo quan hệ”, còn gọi là “thời gian hâm nóng bầu khí”, trước khi bắt tay vào công việc.

5)      Thông thường, chỉ một mình trẻ em có mặt với 2 người lớn đặc trách công việc Lượng Giá. Một người có vai trò tiếp xúc, giải thích, tạo quan hệ, đặt câu hỏi hay là trả lời…Người kia có vai trò thinh lặng quan sát, chuẩn bị dụng cụ, ghi nhận những phản ứng hay là cách trả lời của trẻ em.

6)      Trong một vài trường hợp đặc biệt, chúng ta có thể yêu cầu người cha hoặc người mẹ ở lại với trẻ em, để tránh tình trạng hoảng sợ, chối từ mọi công việc…

7)      Trong cách làm thông thường, họa hoằng lắm tôi mới dùng lương thực, để tạo quan hệ…Tuy nhiên một số người trong chúng ta đã quen áp dụng phương pháp “Duy Hành Vi” (Behaviorism), trong vấn đề khen thưởng, bằng bánh kẹo… tôi chỉ yêu cầu những người bạn ấy lượng giá cách làm của mình, một cách nghiêm minh, thay vì bị kẹt cứng vào một thói tục “xưa bày nay làm”, và do đó, không bao giờ dám đặt lại vấn đề, một cách ý thức và với tất cả lòng trung thực của mình. Cách làm nầy có thể dẫn đến tình trạng lệ thuộc hay là tạo ra những trở ngại lớn lao, trong địa hạt giáo dục và dạy dỗ. Trẻ em lúc bấy giờ mất hết những động cơ, những vui thích thúc đẩy từ bên trong nội tâm, và cuối cùng trở thành “một con múa rối”, trong tầm tay lèo lái, cưỡng búc, đe dọa của một người lớn.

Lượng giá những cấp độ phát triển

Nhằm thực hiện công việc lượng giá, chúng ta từ từ đi lên từng bước một, theo thứ tự,  từ TM số 1 đến TM số 174.

Tuy nhiên, tùy theo cá tính của mổi trẻ em hay là tùy vào những vấn đề cụ thể của mỗi tình huống, chúng ta có thể bắt đầu với những TM được trẻ em đón nhận, một cách dễ dàng. Sau đó, chúng ta trở lại với những TM chưa được khảo sát lúc ban đầu.

Với mỗi TM, chúng ta  sử dụng “ngôn ngữ có lời”, để trình bày, giải thích…Đồng thời, chúng ta cũng cần vận dụng loại “ngôn ngữ không lời”, như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt… để khích lệ, hướng dẫn, củng cố, khen thưởng. Với những trẻ em có những khó khăn về mặt vận động, nếu cần, chúng ta dùng tay để nâng đỡ, hướng dẫn. Khi trẻ em tỏ ra lúng túng, phân vân, bất định… chúng ta trình bày cách làm, tạo nên những mẫu thức cụ thể, nhằm giúp trẻ em “dám làm”.

Hẳn thực, khi trắc nghiệm một trẻ em, chúng ta giữ vai trò “trung lập” tối đa,nhất là trênbình diện xúc động và tình cảm, để trẻ em đảm nhiệm công việc và thành quả của mình, một cách “độc lập” và tự lập.

Khi lượng giá, trái lại, nhất là với những trẻ em có nguy cơ tự kỷ, chúng ta làm công việc “trung gian” hay là “bắc cầu”, để giúp trẻ em bước qua bến bờ bên kia, vượt qua mọi khó khăn, trở ngại . Với công việc nầy, còn mang tên  là “xúc tác”, người lớn -  “một cách đơn thương và độc mã” - tìm cách sáng tạo mọi điều kiện thuận lợi tối đa, được chừng nào hay chừng ấy. Nhờ đó, trẻ em có khả năng diễn tả, bộc lộ, nghĩa là sẵn sàng trao tặng “phần tốt hảo, tinh anh và tinh tú” của mình. Theo lối nhìn của tâm lý đương đại, khi chúng ta “TIN làm sao, thì sẽ THẤY thực tế trở thành y hệt như vậy không kíp thì chầy”. Khi chúng ta xác tín rằng trẻ em là một chủ thể đầy năng động từ bên trong nội tâm, tự khắc trong mỗi lối nhìn và trong mỗi quan hệ trao đổi, chúng ta sẽ là NHÂN TỐ thuận lợi, làm cho trẻ em trở thành một chủ thể.

Tổng hợp kết quả, theo từng địa hạt pháttriển và hành vi

Sau khi trẻ em đã hoàn tất công việc và ra về, hai người lớn cùng ngồi lại với nhau, để thực thi những công việc sau đây:

Thứ nhất: Khảo sát và kết tính kết quả của trẻ em, trong mỗi địa hạt phát triển,

Thứ hai: Trình bày sơ đồ phát triển của trẻ em, bằng cách chuyển đổi kết quả bắng số lượng trong mổi địa hạt, thành lứa tuổi phát triển tương đương, tính theo tháng.

Bảng số 1

 

1.- Địa hạt Bắt Chước:

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Ống nhìn vạn sắc      

 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Rung hoặc bấm chuông 2 lần

 

……

 

……...

 

……..

 

Vo tròn đất sét làm khúc dồi

 

……

 

……...

 

……..

 

Con múa rối găng tay

 

……

 

……...

 

……..

 

Bắt chước tiếng loài vật

 

……

 

……...

 

……..

 

Sử dụng 4 đồ vật

 

……

 

……...

 

……..

 

Bắt chước cử động  

 

……

 

……...

 

……..

 

Trò chơi cúc cù

 
 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Lặp lại 2-3 số

 
 

……

 

……...

 

……..

 
 
 
 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Lặp lại 4-5 số

 

……

 

……...

 

……..

 

Bắt chước làm tiếng động

 

……

 

……...

 

……..

 

Lặp lại các âm thanh

 

……

 

……...

 

……..

 

Lặp lại những từ

 

……

 

……...

 

……..

 

Khi có người bắt chước mình

 

……

 

……...

 

……..

 

Khi ai lặp lại cách phát âm    

 

……

 

……...

 

……..

 

Đưa tay vẫy chào

 
 

……

 

……...

 

……..

 
 

 

Tổng cộng: 16 TM

Tổng cộng số Điểm (+)    ………..

 

Tổng cộng số Điểm (+/-)  ………..

 

Tổng cộng số điểm  (-)     ………..

 

Bảng số 2

 

2.- Địa hạt Nhận Thức bằng giác quan

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Nhìn theo bọt xa phòng bay

 

……

 

……...

 

……..

 

Đưa mắt nhìn từ trái qua phải  

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhìn với con mắt Mặt hay Trái     

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức trong địa hạt thị giác 

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thị giác

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thị giác

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thị giác

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thính giác  

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Nhận thức bằng thính giác  

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thị giác 

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thị giác

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thính giác

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận thức bằng thị giác

 

……

 

……...

 

……..

 

 

Tổng cộng: 13 TM

 Tổng cộng số Điểm (+)   ……..

Tổng cộng số Điểm (+/-) ……..

Tổng cộng số Điểm (-)    ………

 

Bảng số 3 

3.- Địa hạt Vận Động Tinh

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Vặn nắp chai 

 
 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Thổi và làm bọt xà phòng 

 

……

 

……...

 

……..

 

Đưa ngón tay ấn sâu vào đất sét  

 

……

 

……...

 

……..

 

Cầm một cây đũa nhỏ

 

……

 

……...

 

……..

 

Lấy đất sét nắn hình cái bát      

 

……

 

……...

 

……..

 

Lấy ngón cái đụng 4 ngón kia   

 

……

 

……...

 

……..

 

Xâu hạt cườm  

 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Rút những hạt cườm ra 

 

……

 

……...

 

……..

 

Xâu hạt cườm vào một cái trụ  

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Phối hợp 2 tay với nhau     

 

……

 

……...

 

……..

 

Vẽ hình người

 
 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Lấy kéo cắt giấy 

 
 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Dùng tay sờ để nhận biết   

 

……

 

……...

 

……..

 

Thả rơi khối vuông vào bình     

 

……

 

……...

 

……..

 

Kẹp chiếc kẹo với 2 ngón tay

 

……

 

……...

 

……..

 

Mở và đóng công tắc điện        

 

……

 

……...

 

……..

 

  

Tổng cộng: 16 TM

Tổng cộng số Điểm  (+)   ………  

Tổng cộng số Điểm (+/-)  ………

        Tổng cộng số Điểm  (-)    ………    

 

Bảng số 4

4.- Địa hạt Vận Động Thô

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Đưa tay vượt qua đường ở giữa

 

……

 

……...

 

……..

 

Bước đi một mình, không vịn gì

 

……

 

……...

 

……..

 

Vổ hai tay với nhau  

 

……

 

……...

 

……..

 

Đứng vững trên một chân

 

……

 

……...

 

……..

 

Chụm hai chân lại và nhảy tới

 

……

 

……...

 

……..

 

Đón bắt quả banh nhẹ

 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Ném banh

 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Đưa chân đá vào quả banh

 

……

 

……...

 

……..

 

Dùng chân Phải hay Trái

 

……

 
 

……...

 
 

……..

 
 

Cầm trái banh với 2 tay 

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Đưa tay đẩy trái banh

 

……

 

……...

 

……..

 

Đi lên cầu thang, mỗi chân 1 cấp

 

……

 

……...

 

……..

 

Ngồi thẳng trên ghế dựa

 

 

 

 

 

 

 

Ngồi trên ghế thấp có 4 bánh,

 

và dùng chân để di chuyển 

 

……

 

……...

 

……..

 

Cầm ly với các ngón tay để uống     

 

……

 

……...

 

……..

 

Cần dây có 2 hạt cườm đu đưa

 

……

 

……...

 

……..

 

Chuyển từ tay nầy qua tay kia 

 

……

 

……...

 

……..

 

Tay nào chính, tay nào phụ

 

……

 

……...

 

……..

 

 

Tổng cộng các TM: 18

Tổng cộng các Điểm (+)   …….

 

Tổng cộng các Điểm (+/-) …….

 

Tổng cộng các Điểm (-)    …….

  

Bảng số 5 

5.- Địa hạt Phối Hợp Mắt và Tay

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Kết ráp các hình

 

……

 

……...

 

……..

 

Lắp ráp 3 hình với 3 cỡ khác nhau  

 

……

 

……...

 

……..

 

Lắp ráp lại hình con mèo    

 

……

 

……...

 

……..

 

Vẽ tự do 

 

……

 

……...

 

……..

 

Sao chép đường thẳng đứng

 

……

 

……...

 

……..

 

Sao chép hình tròn

 

……

 

……...

 

……..

 

Sao chép hình vuông

 

……

 

……...

 

……..

 

Sao chép hình tam giác

 

……

 

……...

 

……..

 

Sao chép hình thoi

 

……

 

……...

 

……..

 

Tô màu, không tràn ra ngoài

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Đồ lại trên các đường, cạnh

 

……

 

……...

 

……..

 

Sắp đúng các chữ cái vào ô mẫu

 

……

 

……...

 

……..

 

Chép lại các chữ cái

 

……

 

……...

 

……..

 

Sắp các khối vuông chồng lên nhau  

 

……

 

……..

 

……..

 

Bỏ lại các khối vuông vào hộp

 

……

 

……...

 

……..

 

 

Tổng cộng các TM: 15

Tổng cộng số Điểm  (+)   ………

 

Tổng cộng số Điểm  (+/-) ………

 

Tổng cộng số Điểm  (-)    ………

 

 

 Bảng số 6

6.- Kỹ năng Tư Duy

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Chỉ những phần trên con múa rối

 

……

 

……...

 

……..

 

Chỉ những phần trên mình

 

……

 

……...

 

……..

 

Thiết lập quan hệ 2 chiều

 

……

 

……...

 

……..

 

Biết phân biệt 3 hình

 

……

 

……...

 

……..

 

Biết phân biệt Lớn và Nhỏ

 

……

 

……...

 

……..

 

Lắp ráp hình con mèo

 

……

 

……..

 

……..

 

Ghép lại 6 mảnh hình con bò

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận ra 5 màu

 

……

 

……...

 

……..

 

Tìm ra đồ vật được cất giấu

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận ra 9 chữ

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Viết ra tên của mình

 

……

 

……...

 

……..

 

Tìm ra  vật dụng bằng xúc giác     

 

……

 

……...

 

……..

 

Lắp ráp lại các phần của bé trai    

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhận biết số lượng 2 và 6

 

……

 

……...

 

……..

 

Thi hành mệnh lệnh có 2 phần      

 

……

 

……...

 

……..

 

Phân biệt 2 loại đồ vật khác nhau 

 

……

 

……...

 

……..

 

Dùng cử điệu giải thích đồ vật     

 

……

 

……...

 

……..

 

Sắp xếp theo màu hay là hình      

 

……

 

……..

 

……..

 

Xếp lại đồ vật với hình ảnh  

 

……

 

……...

 

……..

 

Biết trao vật dụng, khi có yêu cầu

 

……

 

……...

 

……..

 

Nhờ điệu bộ giải thích cách dùng

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Nhận biết hình ảnh 

 

……

 

……...

 

……..

 

Biết thi hành ý kiến của kẻ khác 

 

……

 

……...

 

……..

 

Thi hành mệnh lệnh bằng lời nói

 

……

 

……...

 

……..

 

Đọc và làm chỉ thị được viết ra   

 

……

 

……...

 

……..

 

Tiên đoán những điều thông lệ 

 

……

 

……...

 

……..

 

 

Tổng cộng các TM: 26

 

Tổng cộng số Điểm (+)   ……….

Tổng cộng số Điểm (+/-) ……….

 

Tổng cộng số Điểm (-)    ………..

 

 

Bảng số 7

 

7.- Kỹ năng Ngôn Ngữ

 
 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Gọi tên 3 loại hình 

 

……

 

……...

 

……..

 

Biết dùng từ Lớn và Nhỏ       

 

……

 

……...

 

……..

 

Gọi tên 5 màu sắc

 

……

 

……...

 

……..

 

Yêu cầu kẻ khác giúp đỡ mình

 

……

 

……...

 

……..

 

Biết tên của mình

 

……

 

……...

 

……..

 

Biết mình trai hay gái

 

……

 

……...

 

……..

 

Gọi tên những chữ cái   

 

……

 

……...

 

……..

 

Đếm được từ 2 đến 7

 

……

 

……...

 

……..

 

Lặp lại những dãy 2-3 số 

 

……

 

……..

 

……..

 

Lặp lại những dãy 4-5 số     

 

……

 

……...

 

……..

 

Đếm lớn tiếng

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+/-)

(-)

 

Đọc được những số 1-10

 

……

 

……...

 

……..

 

Tính nhẩm những bài toán

 

……

 

……...

 

……..

 

Tính những bài toán cọng va trừ

 

……

 

……...

 

……..

 

Gọi đúng tên các vật dụng   

 

……

 

……...

 

……..

 

Gọi tên các hình ảnh

 

……

 

……...

 

……..

 

Lặp lại những câu ngắn  

 

……

 

……...

 

……..

 

Lặp lại những câu đơn sơ

 

……

 

……...

 

……..

 

Lặp lại những câu phức tạp 

 

……

 

……..

 

……..

 

Nói một câu có 2 từ 

 

……

 

……...

 

……..

 

Nói một câu có 5-6 từ 

 

……

 

……..

 

……..

 

Bao nhiêu? Nhiều, Ít  

 

……

 

……...

 

……..

 

 

 

Các Tiết Mục

Chấm điểm

(+)

(+/-)

(-)

 

Số 135:

 

Dùng Đại danh từ Tôi, Con  

 

……

 

……...

 

……..

 

Số 136:

 

Đọc một số từ vắn gọn

 

……

 

……...

 

……..

 

Số 137:

 

Đọc mộ câu ngắn

 

……

 

……...

 

……..

 

Số 138:

 

Đọc với rất ít chỗ sai

 

……

 

……...

 

……..

 

Số 139:

 

Hiểu khi đọc

 

……

 

……...

 

……..

 

 

Tổng cộng các TM: 27Tổng cộng số Điểm   (+)  ………

Tổng cộng số Điểm (+/-)  ………

 

Tổng cộng số Điểm   (-)   ………    

 

Bảng Số 8 

00001.jpg

00002.jpg

00003.jpg

00004.jpg

 

Sơ đồ trình bày Mức Độ Phát Triển của trẻ em

Dựa vào 7 tổng cộng số Điểm (+) (Thành Tựu), mà chúng ta đã kết tính, sau khi hoàn thành công việc lượng giá, chúng ta có thể xác định 7 vị trí cụ thể của trẻ em, trên Bảng Cấp Độ Phát Triển vừa rồi.

Nối kết 7 vị trí ấy lại với nhau, chúng ta sẽ có một đồ biểu, trình bày một cách cụ thể, Mức Độ Phát triển hiện tại của trẻ em, với những Điểm Mạnh và những Điểm Yếu khách quan đáng được chúng ta quan tâm và tận dụng, trong mỗi quan hệ sư phạm và giáo dục của chúng ta.

Thương Số Trí Tuệ của trẻ em

Lượng Giá Mức độ Phát triển không phải là một loại Trắc Nghiệm Tâm Lý, nhằm đo lường Thương Số Trí Tuệ (IQ). Tuy nhiên, để có một ý niệm – tuy dù không chính xác – về IQ của trẻ em có nguy cơ tự kỷ, chúng ta có thể sử dụng cách làm sau đây:

 - Vào giai đoạn thứ nhất, chúng ta kết tính Tổng Số toàn diện của các Điểm Cộng (+), trong tất cả 7 địa hạt phát triển: Bắt chước, Nhận thức giác quan, Vận động Tinh, Vận động thô, Khả năng Phối hợp Mắt và Tay, Kỹ năng Tư duy và Kỹ năng Ngôn ngữ.

 - Vào giai đoạn thứ hai, từ kết quả Tổng số Điểm Cộng (+), trong 131 TM thuộc các địa hạt phát triển, chúng ta chuyển qua lứa tuổi phát triển tương đương, nhờ vào công trình nghiên cứu đã có sẵn của tác giả Eric SHOPLER sau đây (Bảng số 9):

Bảng số 9

Lứa tuổi phát triển có liên hệ với Kết quả trong Bản Lượng Giá

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

0

 

0 – 3 tháng

 

2 tháng

1

 

0 – 3

 

2

2

 

1 –  3

 

2

3

 

1 –  4

 

2

4

 

2 –  4

 

3

5

 

3 – 5

 

4

6

 

4 – 6

 

5

7

 

5 –  7

 

6

8

 

6 – 8

 

7

9

 

7 – 9

 

8

10

 

8 – 10

 

9

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

 11

 

9 – 11 tháng

 

10 tháng

 

12

 

9 – 12

 

10

 

13

 

10 – 12

 

11

 

14

 

10 – 13

 

11

 

15

 

11 – 13

 

12

 

16

 

11 – 14

 

12 (1 tuổi)

 

17

 

12 – 14

 

13 tháng

 

18

 

12 – 15

 

13

 

19

 

12 – 15

 

13

 

20

 

12 – 16

 

14

 

21

 

13 – 16

 

14

 

22

 

13 – 16

 

14

 

23

 

14 – 16

 

15

 

24

 

14 – 16

 

15

 

25

 

14 – 17

 

15

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

26

 

14 – 17  tháng

 

15 tháng

 

27

 

15 – 17

 

16

 

28

 

15 – 17

 

16

 

29

 

15 – 18

 

16

 

30

 

15 – 18

 

16

 

31

 

15 – 19

 

17

 

32

 

15 – 19

 

17

 

33

 

16 – 19

 

17

 

34

 

16 – 19

 

17

 

35

 

16 – 20

 

18

 

36

 

16 – 20

 

18

 

37

 

16 – 21

 

18

 

38

 

16 – 21

 

18

 

39

 

17 – 21

 

19

 

40

 

17 – 21

 

19

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

41  

 

   18 – 21 tháng

 

19 tháng

 

42

 

18 – 21

 

19

 

43

 

18 – 22

 

20

 

44

 

18 – 22

 

20

 

45

 

18 – 22

 

20

 

46

 

19 – 22

 

20

 

47

 

19 – 22

 

20

 

48

 

19 – 23

 

21

 

49

 

19 – 23

 

21

 

50

 

19 – 24

 

21

 

51

 

19 – 24

 

21

 

52

 

20 – 24

 

22

 

53

 

20 – 24

 

22

 

54

 

20 – 25

 

22

 

55

 

20 – 25

 

22

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

56   

 

21 – 25 tháng

 

23 tháng

 

57

 

21 – 25

 

23

 

58

 

21 – 26

 

23

 

59

 

21 – 26

 

23

 

60

 

22 – 26

 

24

 

61

 

22 – 26

 

24 (2 tuổi)

 

62

 

23 – 27

 

25 tháng

 

63

 

23 – 27

 

25

 

64

 

23 – 28

 

25

 

65

 

24 – 28

 

26

 

66

 

24 – 29

 

26

 

67

 

25 – 29

 

27

 

68

 

25 – 30

 

27

 

69

 

25 – 30

 

27

 

70

 

26 – 30

 

28

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

 71

 

26 – 31 tháng

 

28 tháng

 

72

 

27 – 31

 

29

 

73

 

27 – 32

 

29

 

74

 

28 – 32

 

30

 

75

 

29 – 33

 

31

 

76

 

29 – 34

 

31

 

77

 

30 – 34

 

32

 

78

 

30 – 35

 

32

 

79

 

30 – 35

 

32

 

80

 

31 – 35

 

33

 

81

 

31 – 36

 

33

 

82

 

32 – 36

 

34

 

83

 

32 – 37

 

34

 

84

 

33 – 37

 

35

 

85

 

34 – 37

 

35

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

86 

 

34 – 38 tháng

 

36 tháng

 

87

 

35 – 38

 

36 (3 tuổi)

 

88

 

35 – 39

 

37 tháng

 

89

 

36 – 40

 

38

 

90

 

36 – 41

 

38

 

91

 

37 – 42

 

39

 

92

 

37 – 42

 

39

 

93

 

38 – 43

 

40

 

94

 

39 – 42

 

40

 

95

 

40 – 43

 

41

 

96

 

41 – 44

 

42

 

97

 

41 – 45

 

43

 

98

 

42 – 46

 

44

 

99

 

43 – 46

 

44

 

100

 

43 – 47

 

45

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

101  

 

44 – 48 tháng

 

  46 tháng

 

102

 

44 – 49

 

46

 

103

 

45 – 49

 

47

 

104

 

45 – 50

 

47

 

105

 

46 – 50

 

48

 

106

 

46 – 51

 

48 (4 tuổi)

 

107

 

47 – 51

 

49 tháng

 

108

 

47 – 52

 

49

 

109

 

48 – 53

 

50

 

110

 

49 – 54

 

51

 

111

 

50 – 54

 

52

 

112

 

51 – 55

 

53

 

113

 

52 – 56

 

54

 

114

 

52 – 57

 

54

 

115

 

53 – 58

 

55

 

 

 

Tổng cộng số Điểm (+)

 
 

Lứa tuổi phát triển

 

Tuổi

trung bình

 

116 

 

54 – 59 tháng

 

56 tháng

 

117

 

54 – 60

 

57

 

118

 

55 – 60

 

57

 

119

 

56 – 61

 

58

 

120

 

57 – 62

 

59

 

121

 

58 – 63

 

60 (5 tuổi)

 

122

 

59 – 65

 

62 tháng

 

123

 

61 – 66

 

63

 

124

 

63 – 68

 

65

 

125

 

65 – 70

 

65

 

126

 

67 – 72

 

69

 

127

 

68 – 73

 

70

 

128

 

70 – 74

 

72 (6 tuổi)

 

129

 

71 – 75

 

73

 

130

 

73 – 78

 

75

 

131

 

74 – 80

 

77

 

 - Vào giai đoạn thứ ba : Lấy tuổi thực sự của trẻ em (tính theo ngày sinh tháng đẻ và năm) và đổi ra tháng. Nếu có thêm những ngày, từ 14 trở xuống, chúng ta kể như không có. Nếu có thêm số ngày từ 15 trở lên 30, chúng ta tính thêm một tháng. 

 - Vào giai đoạn thứ tư : Tính Thương Số Trí Tuệ, theo phương trình sau đây:

  IQ  = Thương Số Trí Tuệ  =  Tuổi Phát Triển (tháng) x 100

             Tuổi Thực Sự (tháng) 

Để tính tuổi thực sự, chúng ta lấy ngày thực hiện Bản Lượng Giá trừ cho ngày sinh của trẻ em.

Một Ví dụ:

 

- Ngày thực hiện Bản Lượng Giá  : 17 tháng 6 năm 2006.

- Ngày sinh của trẻ em : 22 tháng 10 năm 1997.

Ngày thực hiện : ngày 17 tháng 6 năm 2006.

   - (17+30)  = 47 ngày (mượn thêm 1 tháng)

   - (6 tháng – 1 tháng đã mượn) =  5 tháng

   - (5 tháng + 12 tháng = 17 tháng (mượn thêm 1 năm)

   - (2006 – 1 năm đã mượn) = 2005

   - Ngày thực hiện được đổi ra:  47 – 17 - 2005

Sau khi đổi như vậy, chúng ta có thể làm phép trừ:

-   ( 47 – 17 – 2005 ) – ( 22 – 10 – 1997)

- 47 ngày – 22 ngày (ngày sinh)  =  25 ngày  kể như 1 tháng.

- 17 tháng – 10 tháng (tháng sinh) = 7 tháng.

- 2005 – 1997 (năm sinh) = 8 năm = 8 x 12 tháng = 96 tháng.

- Số tuổi thực sự tính theo tháng của trẻ em sinh ngày 17/6/2006  là : 1 tháng + 7 tháng + 96 tháng =  104 tháng.

Kết quả của Bản Lượng Giá được thực hiện vào ngày 17/6/2006 là 60 điểm (chỉ là ví dụ), tương đương với Tuổi Phát Triển trung bình là 24 tháng, theo Bản Kết Quả của Eric SHOPLER trên đây (Bảng số 9).

Vậy IQ  =  24 x 100 / 104  =  23 .

Ý nghĩa của Kết quả IQ : Hiện tại, trẻ em nầy chỉ vận dụng 23 phần trăm khả năng của mình, so với các trẻ em bình thường cùng lứa tuổi.

Trong ví dụ của trẻ em nầy  -  bây giờ đã trên 8 tuổi  -  nếu chúng ta đã phát hiện được những nguy cơ tự kỷ chung quanh 1 tuổi và đã biết cách can thiệp sớm, chắc hẳn, chúng ta đã giúp cho em ấy nâng cao một phần nào mức độ phát triển của mình. Bảng Kết Quả trên đây cho chúng ta thấy một phần nào: Nếu trẻ em học và thành tựu chỉ một TM mà thôi, em ấy đã nâng cao Tuổi Thông Minh của mình lên tới 2 tháng.

Theo cách tính toán đơn sơ và dễ hiểu nhất của tôi, nếu trong 1 tuần lễ, người lớn chỉ giúp trẻ em có nguy cơ tự kỷ tiếp thu và hội nhập CHỈ 1 Tiết Mục, sau một năm có 52 tuần, em ấy đã khắc phục 52 TM một cách nhuần nhuyễn. Sau 3 năm, chắc hẳn, em ấy đã vượt qua được những nguy cơ của mình.

Những chương sau sẽ khảo sát vấn đề “Can Thiệp” nầy, một cách rõ ràng, khoa học, với đầy đủ chi tiết hơn.


Chương Bốn:

Thiết lập Dự Án Can Thiệp hay là Dạy Dỗ

Sau khi khảo sát và xác định Mức Độ Phát Triển Hiện Tại của trẻ em, chúng ta chỉ mới phát hiện Điểm Khởi Hành, trong dự án can thiệp của chúng ta. Hẳn thực, với những kết quả thu lượm được, sau khi lượng giá,  chúng ta nhận thức một cách cụ thể hiện tình của trẻ em: vào thời điểm nầy, các em đang có những năng động nào, cũng như những bị động ở đâu?

1.-Những câu hỏi cần nêu lên

Ngoài ra, nhằm thiết lập một dự án can thiệp và dạy dỗ với tất cả mọi yếu tố cần thiết, chúng ta còn phải khảo sát thêm, một cách chi li, nhiều câu hỏi khác:

- Chúng ta đi đến đâu? Cùng đích mà chúng ta nhắm tới là gì, về mặt giá trị cũng như về mặt kết quả cụ thể?

- Chúng ta lên đường với những thuận lợi hay là những trở ngại nào? Năng động và bị động đang có mặt ở đâu?

- Con đường đi của chúng ta bao gồm những bước thực hiện như thế nào?

- Chúng ta sử dụng những phương tiện như học cụ, phòng ốc, trò chơi…như thế nào?

- Dựa vào những tiêu chuẩn nào, chúng ta biết chúng ta đạt được đích điểm?

- Động lực thúc đẩy chúng ta dấn thân, với tất cả lòng hăng say nhiệt tình cần thiết, bao gồm những xúc động tích cực nào?

- Ngoài những yếu tố thuộc lãnh vực tư duy và khoa học, chúng ta còn có hay không những điểm tựa khác : trực giác, xác tín hay là những đức tính làm người, như liêm chính, trung thực, tự trọng và tôn trọng kẻ khác, bắt đầu từ đứa con của chúng ta? Chúng ta sẽ làm gì khi nhận thấy chính mình thiếu Tự Tin, nghĩa là không tin có khả năng thành tựu chương trình do mình vạch ra và cố quyết thực hiện?

- Sau cùng, như trước đây tôi đã nêu lên vấn nạn, ích lợi gì, nếu tôi phải cư xử một cách tàn tệ, thiếu tính người và tình người, khi cưỡng bức và thúc ép con tôi PHẢI làm một đôi điều, phát âm một đôi tiếng, lặp lại một đôi từ?

2.- Bảy Giai đoạn:    

Nhằm làm việc và gặt hái nhiều thành quả cụ thể, với mỗi trẻ em, trong nhiều cuốn sách được xuất bản trước đây, tôi đã đề nghị một sơ đồ « Thiết Lập Dự Án », gồm có 7 giai đoạn, như sau :

Giai đọan MỘT :  Khảo sát thực tế cụ thể và khách quan do chính trẻ em trình bày, xuyên qua tác phong hằng ngày của mình.

- Tôi thấy gì ?

- Tôi nghe gì ?

- Môi trường hóa những dữ kiện hoặc tin tức : Ở đâu, khi nào, bao lâu, với ai, thế nào ?

- Đề phòng một cách rất nghiêm chỉnh 3 xu thế, khi chúng ta mô tả hành vi của trẻ em: 1.-Tổng quát hóa quá khích, 2.-Bóp méo hay là xuyên tạc, 3.- chủ quan hóa hay là phát biểu một chiều, vì khổ đau và trầm cảm.

Giai đoạn HAI : Khám phá những yếu tố NĂNG ĐỘNG, nghĩa là những sự kiện tích cực, nhằm củng cố và tăng cường, nhất là bằng lời nói và thái độ « khen thưởng » hay là sử dụng phưong thức « PHẢN HỒI » một cách khoa học.

Ở đây, chúng ta cũng cần sử dụng Kỹ thuật môi trường hóa, vừa được nói tới trên đây, để khảo sát những yếu tố năng động ấy. 

Giai đoạn BA : Liệt kê đầy đủ tối đa 3 vấn đề chủ yếu cần giải quyết. Đó là những  yếu tố hay là sự kiện tiêu cực, tê liệt, ù lì và bị động, cần được chuyển hóa, xuyên qua lề lối can thiệp, giáo dục và dạy dỗ của chúng ta.

Ở đây, chúng ta cũng cần môi trường hóa mỗi vấn đề, với nhiều chi tiết quan trọng,

Giai đoạn BỐN : Liệt kê tối đa 3 xúc động của trẻ em, đang tạo ra những cản trở quan trọng, trong địa hạt thiết lập quan hệ với người lớn, cũng như với những trẻ em khác cùng lứa tuổi.

- Gọi tên xúc động,

- Môi trường hóa,

- Khám phá NHU CẦU cơ bản của trẻ em, đằng sau mỗi xúc động,

- Cần khảo sát thể thức sáng tạo những loại quan hệ nào, như thế nào, với ai… để hóa giải những tình huống xúc động tê liệt ấy ?

- Những xúc động tiêu cực và tê liệt của trẻ em đang xúc tác hay là dẫn khởi, trong con người của tôi, những phản ứng nào ? Tôi có thể hay là cần làm gì, để tìm lại tâm hồn an lạc, thức tỉnh ?

Giai đoạn NĂM : Xác định Phương Hướng Hành Động :

 

-  Mục đích tối hậu,

- Xách định ba ƯU TIÊN quan trọng nhất và xếp đặt theo thứ tự 1, 2, 3 (nghĩa là 3 thành quả cần thực hiện với tất cả tâm huyết).

- Lên Kế Hoạch với những mục tiêu dài và ngắn hạn,

- Khảo sát những phương tiện và học cụ cần sáng tạo, để sử dụng trong những bài dạy hằng ngày,

- Thời hạn thực hiện dự án,

- Người thực hiện Dự án là ai ? Giáo viên chính, giáo viên phụ tá, cha mẹ, chuyên viên ngôn ngữ hay là tâm vận động, tâm lý gia…

- Tiên liệu những thái độ, lời nói và cách làm « phản sư phạm và phản giáo dục », như đập đánh, tố cáo, la nạt, áp đặt và cưỡng chế… để can đảm và sáng suốt đề phòng, khi chúng ta tiếp xúc với trẻ em.

- Xác định một cách rất rõ ràng Mục đích và Mục tiêu, bằng những phân biệt chủ yếu như sau : Mục đích bao gồm những giá trị tổng quát, cần được tôn trọng và phát huy trong cuộc sống làm người. Mục tiêu, trái lại, là những gì chúng ta cần thành đạt, thuộc địa hạt thực tế và cụ thể, sau một thời hạn hoạt động, với những bước đi lên.

Giai đoạn SÁU : Sáng tạo những BÀI HỌC cụ thể hằng ngày, nhằm chuyển biến Mục đích và Mục tiêu đã được đề xuất trong giai đoạn NĂM trên đây, thành hiện thực cụ thể và khách quan, trong cuộc sống hằng ngày của trẻ em.

- Thứ nhất là Bài học về THỰC TẾ: nhằm giúp trẻ em khám phá và hiểu biết về những gì có mặt trong môi trường quen thuộc sinh sống hằng ngày. Những bài học này vận dụng CỬA VÀO bao gồm  những giác quan như MẮT, TAI và TAY CHÂN, cũng như LÀN DA.

- Thứ hai là Bài học về TƯ DUY : trong-ngoài, trên dưới, xếp loại, đi tìm một dụng cụ, lấy tay chỉ một đối tượng mong muốn, cùng làm với bạn bè…

- Thứ ba là Bài học về XÚC ĐỘNG (xem giai đoạn BỐN trên đây).

- Thứ bốn là Bài học về QUAN HỆ: XIN- CHO-NHẬN và TỪ CHỐI  «nói KHÔNG», thi hành những mệnh lệnh, để phát huy tư duy (xem bài học về TƯ DUY).

- Một cách đặc biệt, xoáy lui xoáy tới bài học về QUAN HỆ XÃ HỘI chiều ngang : làm với, chơi với, cho bạn điều bạn xin, đi chơi với bạn, trao đổi với bạn…

Giai đoạn BẢY : ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ :

Loại I : Sau từng giai đoạn thực hiện ngắn hạn như 3 tháng, khảo sát kết quả với một nhóm nhỏ, rút gọn, gồm có giáo viên, hiệu trưởng và cha mẹ.

 

Loại II : Đánh giá kết quả cuối cùng sau 1 năm, với toàn nhóm giáo viên và cha mẹ cũng như với những người có liên hệ xa gần.

Khi đánh giá kết quả cuối cùng, chúng ta khảo sát một cách trung thực, những câu hỏi sau đây :

- Kết quả đã thành đạt, nhờ vào những nhân tố nào ?

- Kết quả không đạt được, vì những lý do gì ?

- Cần thay đổi hoặc phát huy thêm những trọng điểm nào, trong Kế Hoạch năm tới.

- Một cách đặc biệt, chúng ta hãy can đảm khảo sát những thái độ và tác phong « thiếu tôn trọng trẻ em », trong những quan hệ hằng ngày giữa chúng ta và trẻ em, nhất là khi các em bộc lộ những vấn đề trầm trọng, như thoái hóa hay là không tiến phát trong địa hạt học hành.

Với một ngôn ngữ hơi khang khác một chút, tác giả Stephen R. COVEY, người Mỹ, trong tất cả mọi tác phẩm của mình, cũng đã nói tới bảy bước đi lên như vậy, trong những dự phóng làm người :

 

- Bước thứ nhất là sáng tạo, chủ động, dự phóng, thay vì phản ứng một cách máy móc và tự động.

- Bước thứ hai là cưu mang trong nội tâm, đích điểm mà chúng ta nhắm tới, muốn thực hiện, thành tựu. Hẳn thực, trước khi cưu mang trong cung dạ của mình, phải chăng bà mẹ đã cưu mang đứa con trong tâm tư và hạnh nguyện của mình ?

- Bước thứ ba là đặt lên hàng đầu tiên, yếu tố mà chúng ta chọn lựa và quyết định làm « ưu tiên số một ».

- Bước thứ bốn là lối nhìn « Có người, có ta », hay là « Người thắng, ta thắng, chúng ta cùng thắng », thay vì lăn xã vào một loại tư duy phiến diện, nhị nguyên như « Tao hơn mày thua, tao tốt mày xấu, tao đúng mày sai ».

- Bước thứ năm là lắng nghe, tôn trọng, tìm hiểu, nhìn nhận kẻ khác, cho dù đó là một trẻ em, thay vì ép buộc người đối diện phải lắng nghe và tuân hành mệnh lệnh do chính mình ban bố từ trên và từ ngoài.

- Bước thứ sáu là « chia sẽ, đồng hành » còn mang tên là « tương sinh, tương thành, tương tạo ». Hẳn thực, cha mẹ sinh ra con. Nhưng con cũng có khả năng sinh ra cha mẹ, giáo dục cha mẹ, ở một khía cạnh nào đó trong cuộc đời. Trên đây, trong các chương vừa qua, tôi đã nhấn mạnh : sự có mặt của một đứa con có nguy cơ tự kỷ trong gia đình, cũng là một sứ điệp, một bài học, một thách đố kỳ hùng, cho cha mẹ, xã hội và Quê hương.

- Bước thứ bảy là ngày ngày « đánh sáng hay là mài nhọn lại » lối nhìn làm người của chúng ta. Không làm như vậy, nguy cơ « làm ngợm », làm « hồ tinh, mộc tinh và thủy tinh » đang trấn áp và khống chế tâm hồn và cuộc đời, chính khi chúng ta nhìn con, nói với con, dạy con…

 

3.-Kỹ thuật sáu chiếc mũ của Edward DE BONO

Edward DE BONO là người Anh. Tác giả nầy đã xuất bản nhiều cuốn sách bàn về Tư duy khoa học. Một trong những phương pháp được ông đề nghị và nhắc lui nhắc tới, là « thách thức và thách đố », nhằm sáng tạo, đổi mới, thoát ra những bế tắc hay là đảo ngược lại những lối mòn đã ăn đời ở kiếp, trong tâm hồn và cuộc đời của chúng ta.

Tôi xin đan cử một thí dụ : « Con người bình thường không biết bay hay là con người bình thường phải chết ». Phải chăng đó là những câu nói diễn tả chân lý hay là thực tế, được mọi người chấp nhận, không bao giờ đặt thành vấn đề ?

Thế nhưng, Edward DE BONO chỉ cần thay thế hai chữ bình thường, bằng ký hiệu TĐ (thách đố). Sau đó, tác giả yêu cầu chúng ta sáng tạo, khám phá những điều chưa ai thấy, chưa ai làm, chưa ai chứng nghiệm. Theo ông, « con người TĐ biết bay. Con người TĐ không chết ».

Đồng thời, Edward DE BONO đề nghị chúng ta hãy ngồi lại, động não, vận dụng chất xám trong hệ thần kinh trung ương, để tìm ra những định nghĩa về con người TĐ :

 

- Con người TĐ là ai ?

- Con người TĐ phải như thế nào để không chết ?

- Con người TĐ không chết, vì lý do gì ?

- Trong cuộc sống « ở đây và bây giờ », để mọi người cảm nhận được con người TĐ không chết, con người TĐ ấy cần mang sẵn trong mình những tư cách nào, những đức tính gì, ngôn ngữ phải làm sao, quan hệ giữa người với người như thế nào ?

Cũng trong tinh thần và lăng kính ấy, tôi xin đặt ra câu hỏi :

 

- Cha mẹ TĐ hay là người giáo viên TĐ dạy trẻ em có nguy cơ tự kỷ, phải như thế nào ?

- Họ cần ăn nói, đi đứng làm sao, để những trẻ em ấy khi lên 6-7 tuổi, không còn có nguy cơ tự kỷ ?

- Ai là cha mẹ TĐ, chân dung của họ thế nào ?

- Ai là giáo viên TĐ ? Họ đã đi qua những quá trình đào tạo nào, có mặt trong xã hội chúng ta hay không  

Cũng trong khuôn khổ của công việc « Thiết Lập Dự Án », tác giả Ed. DE BONO còn đề nghị thêm cho chúng ta « Kỹ thuật Sáu Chiếc Mũ ».

Hẳn thực, để trả lời bao nhiêu câu hỏi khác nhau có liên hệ đến một dự án can thiệp và dạy dỗ, chúng ta hãy lần lượt đội lên đầu, sáu chiếc mũ, và tìm ra câu trả lời.

 - Chúng ta đội chiếc mũ MÀU TRẮNG, để khám phá Thực tế của trẻ em. Thực tế phải chăng là những điều mắt thấy, tai nghe, tay chân tiếp cận ?

 - Chúng ta đội chiếc mũ MÀU ĐEN, để khám phá những ứ đọng trong vấn đề phát triển, cũng như những rối loạn hành vi, trong 2 địa hạt xúc động và thiết lập quan hệ xã hội.

 - Dù trẻ em đang gặp khó khăn đến độ nào chăng nữa, nếu biết đội lên đầu chiếc mũ MÀU VÀNG mặt trời, chúng ta sẽ có khả năng khám phá nơi các em, những năng động, những yếu tố tích cực. Trên những con đường còn lầy lội, dưới con mắt của những ai biết nhìn xa và nhìn rộng, nhìn lên và nhìn vào trong đáy sâu của tâm hồn, vẫn xuất hiện đâu đó một đóa hoa tô điểm cuộc đời. Đằng sau những lớp mây mù bao phủ, vào những ngày bão bùng giông tố, mặt trời vẫn luôn luôn hiện diện, với đầy đủ ánh sáng và hơi ấm cho mỗi người, không loại trừ một thành phần nào cả.

 - Khi những xúc động như lo sợ, buồn phiền, tức giận…  tràn ngập tâm hồn, và làm tê liệt mọi đường đi nẻo về của cuộc sống, chúng ta vẫn hiên ngang đội lên đầu chiếc mũ MÀU ĐỎ, để đặt tên và gọi ra ánh sáng những con yêu tinh ma quái đang khống chế tâm hồn. Hãy tìm ra những tên tuổi và bộ mặt thân thuộc, ở bên dưới những xúc động của chúng ta. Lúc bấy giờ, chúng nó sẽ hóa thân thành những người bạn thân thương và mách cho chúng ta : chúng ta đang cần những gì, chúng ta có thể tìm kiếm những nhu cầu ấy ở đâu, nơi những người nào ? Phải chăng khi một người nhận mình là học trò, biết đặt ra những câu hỏi, một vị thầy sẽ xuất hiện đâu đó, mang đến cho chúng ta những câu trả lời, những bài học cao quí, lung linh, diệu vợi ?

 - Sau giai đoạn nhận diện và đối diện, một cách can trường và chính trực, không lượn lẹo hay là bóp méo và xuyên tạc, với bốn bộ mặt TRẮNG, ĐEN, ĐỎ và VÀNG của thực tế và cuộc đời làm người, với chiếc mũ MÀU XANH DƯƠNG trên đầu, chúng ta sẽ thấy được Bầu Trời Cao Cả và Đại Dương bao la, chung quanh chúng ta. Hẳn thực, như thi sĩ Trụ Vũ đã nhắn nhủ :

 

« Bởi vì mắt thấy trời xanh,

« Cho nên, mắt cũng long lanh màu trời.

« Bởi vì mắt thấy biển khơi,

« Cho nên mắt cũng xa vời đại dương ».

- Với trời xanh trong ánh mắt, cũng như với đại dương trong tâm hồn, chúng ta sẽ đội chiếc mũ  MÀU XANH LỤC trên đầu, vác cuốc lên vai, và đi ra tạo nên Mùa Xuân, trên những cánh đồng của Quê Hương. 

Đứa con có nguy cơ tự kỷ của chúng ta, lúc bấy giờ sẽ trở thành một đứa con TĐ. Em đang thách đố chúng ta : Hỡi Cha, hỡi Mẹ, hỡi người giáo viên hãy làm Tiên, làm Rồng, để cho con trở thành Thánh Gióng trên những nẻo đường xuôi ngược của Đất Nước. Hãy cho con ăn. Hãy cho con mặc.  Hãy đi tìm « gươm », tìm « ngựa » cho con.

Quí vị Tổ Tiên ngày xưa đã làm được những điều ấy, với đứa con của mình,       « không biết đi, không biết nói, trong vòng 3 năm, từ 0 đến 3 tuổi ».

Hôm nay, phải chăng chúng ta cũng đang thừa kế cùng một dòng máu như các Ngài ? Phải chăng chúng ta cũng có khả năng dạy dỗ và giáo dục con cái, hoàn toàn giống như các Ngài ? 

 

4.- Dự án can thiệp với những bước đi lên cụ thể, từ dễ đến khó

Trong những điều cần chuẩn bị và sưu tầm, khi thiết lập bản dự án can thiệp, theo lời tự thú chân thành của nhiều cha mẹ và các giáo viên, bận rộn suốt cả ngày vì công việc, điều khó khăn nhất là tìm ra hay là sáng tạo NHỮNG BƯỚC ĐI TỚI có thứ tự, từ dễ đến khó, hay là từ dưới đi lên.

Nhằm san bằng một phần nào những trở ngại hiện thực nầy, tôi đề nghị những cách làm và những giai đoạn thực hiện sau đây :

Giai đoạn thứ nhất : chúng ta lượng giá trẻ em, với dụng cụ do Eric SHOPLER sáng tạo, mà tôi đã trình bày với đầy đủ mọi chi tiết, trong chương hai trên đây.

Giai đoạn thứ hai : Từ những Bảng số 1- số 9, trong Chương Ba, chúng ta sắp xếp lại các Tiết Mục của Bản Lượng Giá,

 

- Thứ nhất, xếp đặt các TM, theo từng địa hạt : Bắt chước, Nhận thức, Vận động thô, Vận động tinh, Phối hợp mắt và tay, Kỹ năng Tư duy và Kỹ năng Ngôn ngữ.

- Thứ hai, xếp đặt các TM theo thứ tự, từ dễ đến khó, từ dưới đi lên.

- Thứ ba, sau mỗi TM, ghi thêm một cách rõ ràng lứa tuổi phát triển tính theo tháng, từ 0 đến 84 (7 tuổi),

- Thứ bốn, đằng sau mỗi lứa tuổi bao gồm từ 2 đến 3 tháng, chọn lựa một tuổi trung bình tương đương mà thôi.

Giai đoạn thứ ba : Dựa vào kết quả cụ thể của mỗi trẻ em, sau khi được lượng giá, chúng ta vẽ Đồ Biểu Phát Triển.

Giai đoạn thứ tư : Chúng ta bình giải đồ biểu và từ đó trình bày một Bản Báo Cáo, đề nghị một chương trình can thiệp thích ứng với nhu cầu của trẻ em.

Giai đọan thứ năm : Sau từng 6 tháng làm việc hay một năm, chúng ta lượng giá lại trẻ em, để đánh giá chương trình can thiệp của chúng ta.

Và sau những giai đoạn thực hiện dự án như vậy, nếu có nhiều người lượng giá trẻ em, như chuyên viên tâm lý ở Bệnh viện, giáo viên ở Trường học, cha hoặc mẹ ở Nhà…chúng ta có thể so sánh những kết quả, cũng như những lối nhìn khác nhau. Với cách làm có khoa học và với sự hợp tác của nhiều người, thế nào chúng ta cũng có thể gặt hái cho trẻ em một vài thành quả khách quan và cụ thể.

Sau đây là Bảng số 10 : Các TM được sắp xếp theo thứ tự, có kèm thêm lứa tuổi phát triển.

Bảng số 10 : Những TM sắp theo thứ tự từ dưới đi lên, theo tiêu chuẩn lứa tuổi từ 3 lên 84 tháng (7t) 

 

Địa hạt thứ nhất : Bắt Chước

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển   

 

Tuổi trung bình

1) Trò chơi cúc cù 

 

52

 

10-15

 

12 tháng

2) Bắt chước trẻ làm 

 

129

 

16-22

 

19

3) Bắt chước trẻ bi bô

 

130

 

17-23

 

20

4) Đưa tay chào

 

142

 

17-23 

 

20

5) Vo tròn đất sét

 

11

 

24-33

 

28

6) Bắt chước gõ chuông

 

113

 

25-29

 

27

7) Bắt chước làm cho

 

15  

 

26-32

 

29

8) Bắt chước các cử động 

 

41

 

28-35

 

31

9) Bắt chước tiếng mèo     

 

14

 

28-35  

 

31

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển   

 

Tuổi  trung bình

10) Lặp lại các từ

 

124

 

28-35

 

31 tháng

11) Lặp lại âm thanh

 

123

 

32-38

 

35

12) Xoay ống nhìn

 

6  

 

37-43

 

40

13) Lặp lại 2-3 số

 

100

 

45-50

 

47

14) Làm con múa rối

 

13

 

45-50

 

47

15) Bấm chuông 2 lần

 

 8

 

55-58

 

56

16) Lặp lại 4-5 số

 

102

 

66-71

 

68 (5 tuổi)

 

 

 

 

Địa hạt thứ hai : Nhận thức Giác quan

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển   

 

Tuổi trung bình

 

1) Nhìn theo bọt xà phòng 

 

 

7-15

 

11 tháng

 

2) Vượt qua đường giữa    

 

4

 

7-15

 

11

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển   

 

Tuổi trung bình

3) Nghe tiếng chuông

 

111

 

7-15

 

11 tháng

4) Nghe, hướng về

 

57

 

7-15

 

11

5) Nghe, hướng về tiếng

 

35

 

7-15

 

11

6) Trả lời bằng cử điệu

 

59

 

13-17

 

15

7) Nhìn sách có hình

 

120

 

20-25

 

22

8) Mắt Chính và Phụ

 

7

 

30-35

 

32

9) Phân biệt Lớn và Nhỏ   

 

25

 

34-39

 

36

10) Lắp ráp đúng chỗ

 

19

 

34-49

 

41

11) Xếp theo màu

 

32

 

45-49

 

47

12) Lắp ráp 4 đồ vật  

 

23

 

45-49

 

47

13) Tìm ra vật che giấu     

 

108

 

58-62

 

60 (5t)

 
 
 

Địa hạt thứ ba:  Vận Động Tinh

 
 
 
 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển   

 

Tuổi trung bình

 

1) Tay ấn sâu vào đất sét 

 

9

 

13-17

 

 15 tháng

 

2) Lấy cườm ra khỏi trục

 

65

 

13-20

 

16

 

3) Cầm thanh gỗ nhỏ  

 

10

 

15-19

 

17

 

4) Mở, đóng công tắc điện  

 

119   

 

15-20

 

17

 

5) Thả rơi khối vào bình     

 

99

 

15-21 

 

18

 

6) Xâu hạt cườm vào trụ    

 

66

 

16-23

 

19

 

7) Cầm với ngón cái và trỏ 

 

109

 

21-24

 

22

 

8) Phối hợp 2 tay

 

67

 

25-28

 

26

 

9) Mở, đóng nắp chai

 

1

 

26-30

 

28

 

10) Thổi làm bọt xà phòng   

 

2

 

26-30

 

28

 

11) Xâu hạt cườm

 

63

 

30-33

 

31

 

Thứ tự  

 

số TM   

 

Tuổi phát triển   

 

Tuổi trung bình

 

12) Nhận ra đồ vật bằng tay

 

87

 

46-49

 

47 tháng

 

13) Dùng kéo cắt giấy   

 

86

 

46-50

 

48

 

14) Nắn chiếc bát với đất sét

 

12

 

48-52

 

50

 

15) Ngón cái đụng các ngón 

 

42

 

62-64

 

63

 

16) Vẽ hình người 

 

84

 

70-74

 

72 (6 tuổi)

 

 

 

Địa hạt thứ bốn: Vận Động Thô

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

 1) Cầm banh trong 2 tay      

 

47 

 

13-16

 

14 tháng

 

2) Tay đẩy trái banh tới       

 

48

 

13-17

 

15

 

 3) Ngồi thẳng trên ghế dựa  

 

50

 

14-19

 

16

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

4) Đi một mình

 

37     

 

14-22

 

18 tháng

 

5) Chuyển tay này qua tay kia

 

68

 

14-22

 

18

 

6) Cầm ly uống

 

 60

 

14-24

 

19

 

7) Ném banh

 

44

 

19-27

 

23

 

8) Ngồi, dùng chân di động  

 

51

 

21-28

 

24

 

9) Đưa tay vượt đường giữa

 

24

 

24-28

 

26

 

10) Chụm chân nhảy tới      

 

40

 

24-31

 

27

 

11) Vỗ tay

 

38

 

24-31

 

27

 

12) Phân biệt tay mạnh - yếu

 

72

 

28-33

 

30

 

13) Đá vào trái banh

 

45 

 

28-35

 

31

 

14) Đứng thẳng trên 1 chân

 

39

 

29-36

 

32

 

15) Chân chính, Chân phụ  

 

46

 

30-34

 

32

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

16) Đón bắt quả banh  

 

43

 

46-51 

 

48 tháng

 

17) Đu đưa sợi giây có cườm

 

64

 

46-51

 

48

 

18) Đi lên, mỗi chân 1 cấp   

 

49

 

61-65

 

63 (5 tuổi)

 

 

 

Địa hạt thứ năm :  Phối hợp Mắt và Tay

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

 1) Vẽ nguệch ngoạc tự do    

 

71

 

16-20

 

18 tháng

 

2) Lắp ráp 3 hình 3 cỡ

 

26

 

27-31

 

29

 

3) Lắp ráp 3 hình

 

20

 

27-31

 

29

 

4) Sắp lại các khối vào hộp  

 

94

 

27-31

 

 29

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

5) Chồng các khối lên nhau

 

93

 

35-38

 

36 tháng

 

6) Sắp đúng các chữ cái

 

80

 

39-42

 

40

 

7) Chép lại hình tròn   

 

74 

 

42-46 

 

44

 

8) Đồ lại trên các cạnh

 

79

 

44-51

 

47

 

9) Lắp ráp hình con mèo     

 

30

 

46-50

 

48

 

10) Chép lại đường thẳng

 

73

 

46-50

 

48

 

11) Tô màu trong giới hạn   

 

78

 

51-54

 

52

 

12) Chép lại hình vuông

 

75

 

55-59

 

57

 

13) Chép lại hình tam giác   

 

76

 

67-69

 

68

 

14) Chép lại 7 chữ cái    

 

83

 

67-69

 

68

 

15) Chép lại hình thoi    

 

77

 

72-76 

 

74 (6 tuổi)

 
 
 

Địa hạt thứ sáu : Kỹ năng Tư Duy

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

1) Tìm ra một đồ vật được giấu      

 

53

 

10-14

 

12 tháng

 

2) Tiên liệu những điều quen 

 

141

 

19-23   

 

16

 

3) Biết cho, khi có người xin

 

117

 

21-26

 

23

 

4) Phân biệt 2 đồ vật khác nhau

 

98

 

23-27

 

25

 

5) Xếp đúng đồ vật với hình ảnh

 

115

 

24-27

 

25

 

6) Chỉ các phần trên thân thể

 

17

 

25-28

 

26

 

7) Chỉ các phần trên con rối 

 

16

 

26-31

 

28

 

8) Thi hành mệnh lệnh đơn sơ

 

131

 

27-29

 

28

 

9) Dùng bộ điệu tả các đồ vật

 

118

 

28-33

 

30

 

10) Phân biệt Lớn Nhỏ  

 

28

 

31-36

 

33

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

11) Thi hành chỉ thị bằng lời

 

128

 

36-41

 

38 tháng

 

12) Thi hành mệnh lệnh 2 phần      

 

97

 

36-41

 

38

 

13) Dùng điệu bộ tả 1 hình ảnh       

 

110

 

38-42

 

40

 

14) Phân biệt 3 hình : tròn, vuông

 

22

 

40-44

 

42

 

15) Nhận biết các hình ảnh

 

121

 

42-45

 

43

 

16) Nhận biết 5 màu sắc

 

34

 

42-45

 

43

 

17) Chơi qua lại giữa 2 con rối

 

18

 

44-47

 

45

 

18) Sắp xếp theo màu và hình

 

114

 

49-52

 

50

 

19) Lắp ráp hình đưa con trai

 

89

 

49-52

 

50

 

20) Lắp ráp hình con mèo

 

29

 

49-52

 

50

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

21) Nhận biết đồ vật bằng xúc giác

 

88

 

54-56

 

   55 tháng

 

22) Phân biệt số  lượng giữa 2 và 6  

 

96

 

60-63 

 

61

 

23) Viết ra tên mình

 

85

 

60-63

 

61

 

24) Nhận biết 9 chữ cái 

 

82

 

65-67 

 

66

 

25) Ghép lại 6 phần hình con bò       

 

31

 

70-73

 

71

 

26) Thi hành chỉ thị được viết ra

 

140

 

76-81

 

78 (6 tuổi)

 

 

 

Địa hạt thứ bảy :  Kỹ Năng Ngôn Ngữ

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

1) Xin giúp đỡ

 

61

 

17-13 

 

15 tháng

 

2) Nói được những câu 2 từ

 

132

 

22-26

 

24

 

3) Gọi đúng tên những vật dụng

 

116

 

25-28 

 

26

 

4) Dùng đại danh từ Tôi, Con…

 

135

 

25-29

 

27

 

5) Biết tên và họ của mình

 

69

 

28-33

 

30

 

6) Nói những câu có 4-5 từ

 

133

 

29-33

 

31

 

7) Biết thế nào là Nhiều, Ít

 

134

 

32-35

 

33

 

8) Biết mình trai hay gái 

 

70

 

32-38

 

35

 

9) Lặp lại câu ngắn

 

125

 

33-38

 

35

 

10) Lặp lại dãy 2-3 số

 

101

 

34-38

 

36

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

11) Biết dùng từ Lớn và Nhỏ   

 

27

 

40-45

 

42 tháng

 

12) Gọi tên các hình ảnh

 

122

 

40-45

 

42

 

13) Gọi tên 5 nàu sắc

 

33

 

46-51

 

48

 

14) Lặp lại câu khá dài, đơn sơ

 

126

 

46-51

 

48

 

15) Gọi tên 3 hình : tròn vuông…

 

21

 

48-53

 

50

 

16) Đếm lớn tiếng 

 

104

 

53-55

 

54

 

17) Đếm 2-7 khối

 

95

 

56-59

 

57

 

18) Lặp lại những câu phức tạp

 

127

 

58-62

 

60

 

19) Lặp lại dãy 4-5 số

 

103

 

60-63

 

61

 

20) Đọc những con số 1 - 10

 

105

 

60-64

 

62

 

21) Gọi tên những chữ cái

 

81

 

62-66

 

64

 

 

 

Thứ tự 

 

số TM   

 

Tuổi phát triển

 

Tuổi trung bình

 

22) Tính nhẩm bài toán của mình

 

106

 

67-70

 

 68 tháng

 

23)  Đọc những từ ngắn gọn

 

136

 

68-72

 

70

 

24) Tính nhẩm bài toán khách quan 

 

107

 

68-72

 

70

 

25) Đọc câu ngắn

 

137

 

71-75

 

73

 

26) Đọc với vài ba lỗi 

 

138 

 

72-76

 

74

 

27) Đọc và hiểu

 

139

 

75-80

 

77 (6 tuổi)

 

 

Với cách xếp loại các TM theo thứ tự từ dễ đến khó, thích ứng cho mỗi lứa tuổi, chúng ta đã chuyển đổi và sử dụng Bản Lượng Giá ban đầu, với nhiều ý hướng khác nhau như sau :

- Ý hướng thứ nhất : Với 3 loại điểm (+), (+/-) và (-), trong các Bảng số 1- 7, chúng ta vẽ biểu đồ xác định ba vùng khác nhau như Vùng Tự Lập, Vùng Học Tập và Vùng Xa Lạ.

- Ý hướng thứ hai : Khảo sát những  kết quả chênh lệch giữa 7 địa hạt khác nhau, nhằm xác định vị trí hay là lý do chậm phát triển của trẻ em. Dựa vào đó, chúng ta chọn lựa và sắp xếp các ưu tiên 1, 2 và 3, trong chương trình can thiệp hay là dạy dỗ. Một cách đặc biệt, với những bài học hằng ngày, chúng ta giúp trẻ em từ từ nâng cao những địa hạt còn chậm và kém, để từ từ san bằng những chênh lệch quá lớn giữa bảy địa hạt khác nhau. Trái lại, khi trẻ em có những giai đoạn thoái hóa về mặt hành vi, chúng ta chọn lựa địa hạt và những TM nào, trong đó trẻ em có nhiều thuận lợi và dễ dàng nhất. Chúng ta can thiệp ở những vị trí ấy, để giúp trẻ em khắc phục những khó khăn hiện tại và tìm lại lòng tự tin của mình. Chúng ta sẽ trở lại khảo sát cách làm nầy, trong chương bàn về những rối loạn hành vi.

- Ý hướng thứ ba : Trong mỗi địa hạt can thiệp, chúng ta sẵn có những bước đi lên hay là những bài học cụ thể, được sắp xếp từ dưới lên trên, từ dễ đến khó.

- Ý hướng thứ bốn : Quyết định và chọn lựa mục tiêu cụ thể cho mỗi ngày hay mỗi tuần.

- Ý hướng thứ năm : Sau mỗi kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, chúng ta có những điểm mốc cụ thể, để đánh giá sự tiến bộ của trẻ em.

 

 

Bảng số 11 :

 

Tổng hợp Kết quả « Ba Vùng Sinh Hoạt »

 

Tên trẻ em : ………………………………………………

 

Ngày thực hiện công việc Lượng Giá ………….

 

Người thực hiện : ………………………………………….

 

 

Số thứ tự theo B.9

BC

NT

Vđt

VđT

PH

TD

NN

Tuổi PT

1

……

……

……

……

……

……

……

……

2

……

……

……

……

……

……

……

……

3

……

……

……

……

……

……

……

……

4

……

……

……

……

……

……

……

……

5

……

……

……

……

……

……

……

……

6

……

……

……

……

……

……

……

……

7

……

……

……

……

……

……

……

……

8

……

……

……

……

……

……

……

……

9

……

……

……

……

……

……

……

……

10

……

……

……

……

……

……

……

……

 

 

 

Số thứ tự theo B.9

 

BC

 

NT

 

Vđt

 

VđT

 

PH

 

TD

 

NN

 

Tuổi PT

 

11

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

12

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

13

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

14

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

15

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

16

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

17

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

18

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

19

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

20

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

21

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

22

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

23

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

24

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

25

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

26

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

27

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

……

 

 

 

NB.- Khi có 3 điểm (-) liên tiếp, lấy điểm (-) lớn nhất nhất.

        Khi có 3 điểm (+) liên tiếp, lấy điểm (+) nhỏ nhất.

        Ở giữa 2 đường (-) và (+), Vùng trung gian = Vùng học tập.

        Vùng (+) = Vùng tự lập, vùng vui thích, năng động.

        Vùng (-) = Vùng xa lạ, vùng bất ổn.

 

4.- Mỗi ngày chọn lựa một Tiết Mục duy nhất làm mục tiêu

Theo tinh thần và lối nhìn của tác giả Spencer JOHNSON, khi lập dự án, với ý định MUỐN dạy cho trẻ em tiến phát và khắc phục những nguy cơ tự kỷ của mình, cha mẹ, giáo viên và các chuyên viên thuộc mọi ngành nghề… dễ sa vào cạm bẫy Ý CHÍ TOÀN NĂNG. Từ đó, chúng ta có xu thế áp đặt TỪ NGOÀI và TỪ TRÊN, những điều không có liên hệ với NHU CẦU thực sự của trẻ em.

Thay vì làm như vậy, Spencer JOHNSON đề nghị chúng ta hãy QUYẾT ĐỊNH mỗi ngày chọn lựa một mục tiêu rất nhỏ. Mục tiêu của chúng ta không phải là DẠY trẻ em. Trái lại,  chúng ta bắt đầu HỌC, tìm hiểu về cách thức sinh hoạt hằng ngày của trẻ em. Một cách cụ thể, chúng ta đặt ra những câu hỏi tương tự như sau :

- Trẻ em BẮT CHƯỚC thế nào, điều gì, khi nào ?

- Trẻ em sử dựng 5 GIÁC QUAN với một tiến trình nào ? Trẻ em thích được kích thích làm sao ?

- Trẻ em bắt đầu những sinh hoạt VẬN ĐỘNG TINH và VẬN ĐỘNG THÔ như thế nào ?...

- Và cứ như vậy, chúng ta đặt ra những câu hỏi thuộc tất cả 7 địa hạt : Bắt chước, Nhận thức giác quan, Vận động tinh, Vận động thô, Phối hợp mắt và tay, Tư duy và Ngôn ngữ.

- Mỗi ngày, thay vì ôm đồm quá nhiều chuyện, chúng ta CHỈ quyết định, chọn lựa MỘT trong 131 TM trên đây làm mục tiêu, để HỌC hay là DẠY chính mình.

Dự án, theo cách đề nghị của Spencer JOHNSON, bao gồm 3 giai đoạn then chốt :

- Giai đoạn Một : Chọn lựa một mục tiêu duy nhất,

- Giai đoạn Hai : Khen thưởng chính mình, tức khắc khi thấy mình đã thực hiện và thành tựu,

- Giai đoạn Ba : Ngồi lại tìm cách sửa sai và điều chỉnh, khi thấy mình hoàn toàn không thành đạt mục tiêu.

Giai đọan QUYẾT ĐỊNH mục tiêu bao gồm 6 bước đi lên như sau :

- 1.)- Vận dụng cả hai lãnh vực tư duy và xúc động để chọn lựa mục tiêu nào có khả năng đáp ứng vừa nhu cầu thực tế vừa nhu cầu xúc động hiện tại của tôi.

- 2.)- Ghi lại mục tiêu trên một tờ giấy và niêm yết ở một nơi trang trọng, mà tôi có thể đọc lui đọc tới nhiều lần trong ngày.

- 3.)- Viết một cách vắn gọn, bắt đầu bằng :  « Hôm nay, tôi quyết định… ».

- 4.)- Ghi rõ thêm thời điểm thực hiện, một cách cụ thể như : « Vào lúc… ».

- 5.)- Chọn lựa mục tiêu nào, để mỗi lần có dịp đưa mắt nhìn qua, tôi đã cảm thấy mình hăng say, hứng thú và hạnh phúc, cơ hồ điều ấy đang được từ từ thực hiện.

- 6.)- Khảo sát hành vi : « Tôi đã làm đúng hay chưa điều mà tôi đã quyết định và chọn lựa một cách hăng say và sáng suốt » ?

Giai đoạn KHEN THƯỞNG bắt đầu lập tức vừa khi tôi thành tựu mục tiêu. Giai đoạn nầy gồm có 5 bước cụ thể sau đây :

- 1.)- Vừa khi tôi cảm thấy tôi đã thành tựu mục tiêu, một cách tốt đẹp, đúng như dự tưởng, tôi dừng lại, nhìn nhận giá trị của mình và tìm lời khen thưởng kết quả mà tôi vừa thực hiện.

- 2.)- Diễn tả một cách cụ thể và khách quan điều tôi vừa làm.

- 3.)- Trình bày ra ngoài bằng ngôn ngữ, nỗi niềm hăng say, hứng thú vã hãnh diện của mình : « Tôi đã thành công, tôi đang sung sướng, tôi đáng được khen thưởng… ».

- 4.)- Dựa vào hành vi và xúc động mà tôi vừa diễn tả, tôi khẳng định về con người của mình : « Tôi là một con người có giá trị đích thực».

- 5.)- Tôi thúc giục và khích lệ mình : « Hãy tiếp tục học như vậy, vì đó là con đường làm người… ».

Giai đoạn ĐIỀU CHỈNH cần khởi động tức khắc, khi tôi nhận thấy hành vi của tôi không đáp ứng và thỏa nguyện mục tiêu mà tôi đã quyết định. Công việc nầy bao gồm 6 động tác cụ thể :

- 1.)- Tôi tức khắc dừng lại, tìm cách ĐIỀU CHỈNH, vừa khi nhận thấy hành vi không thích hợp với mục tiêu mà tôi đã quyết định và chọn lựa.

- 2.)- Tôi ý thức một cách sáng suốt tôi đã SAI LẦM. Thêm vào đó, chính điều sai lầm ấy đã cản trở tôi học tập và tiến bộ.

- 3.)- Tôi nhìn nhận tôi đã làm những điều vụng về. Do đó, tôi cảm thấy bất an. Và càng bất an, tôi càng ước mong thay đổi hành vi hiện tại của mình.

- 4.)- Mặc dù hành vi của tôi không thể hiện điều tôi coi trọng, tôi vẫn phân biệt rõ ràng giữa hành vi và con người của tôi. Hành vi xấu không làm cho con người của tôi trở nên xấu, trong bản sắc và giá trị của mình.

- 5.)- Thay vì biện minh hành vi sai trái của mình, tôi tìm cách chuyển hóa, cải tiến.

- 6.)- Khi bắt đầu công việc chuyển hóa như vậy, tôi đã trở lại với thái độ và ý hướng học tập. Cho nên, tôi cảm thấy con người của mình vẫn an toàn và nguyên vẹn, đồng nhất và liêm chính, nghĩa là không bị giằng co và xâu xé, phân hóa giữa 2 hoặc 3 con đường mâu thuẫu với nhau.

5.- Theo Lối nhìn của Spencer JOHNSON, bao nhiêu thất bại và đổ vỡ, trong bản thân và cuộc đời, cũng như trong lòng Đất Nước và Nhân Loại… đều phát xuất từ thực trạng “thiếu nhất tâm” lan tràn khắp mọi nơi.

Lực lượng phá hoại và phản bội nằm ngay trong chính nội tâm và con người của chúng ta.

Hẳn thực, trên mặt tư duy, chúng ta thiết lập những dự án rất “oai hùng”. Nhưng đến lúc thực hiện, chúng ta không tin mình có đầy đủ hăng say và nhiệt tình, để thực hiện những điều chúng ta đã quyết định và hô hào. Hơn ai hết, chính chúng ta là “người thọc gậy bánh xe”, đối với nguyện vọng và hoài bão của chúng ta.

Một cách cụ thể, đối với trẻ em có nguy cơ tự kỷ, chúng ta biết rất rõ về một thực tế: Các em đang có những rối loạn trầm trọng, trong địa hạt quan hệ tiếp xúc và trao đổi giữa người với người, bắt đầu từ những người thân trong gia đình.

Thế nhưng, chúng ta đã HỌC thay đổi hay chưa, những quan hệ của chính chúng ta, trong cuộc sống thường ngày?

Chúng ta muốn cho trẻ em có những tiến bộ, trên bình diện quan hệ. Tuy nhiên, muốn có quan hệ, phải có ít nhất 2 người. Và bao lâu TÔI chưa thay đổi về phía mình tôi, làm sao tôi có thể đòi hỏi trẻ em thay đổi?

Trong tinh thần và lăng kính nầy, tác giả Spencer JOHNSON đề nghị chúng ta hãy đặt ra cho mình 6 câu hỏi sau đây, trước mỗi quyết định  hay là mỗi dự án của chúng ta:

- 1) Nhu cầu thực sự của tôi là gì? Phải chăng đó chỉ là một nguyện vọng, giữa muôn ngàn nguyện vọng mơ hồ và vu vơ khác mà thôi?

- 2) Phải chăng tôi đã thu lượm những tin tức cần thiết, khi quyết định về nhu cầu của tôi? Tôi đã khảo sát những con đường khác, trước khi chọn lựa không?

- 3) Để chuyển biến nhu cầu thành hiện thực, phải chăng tôi đã vận dụng tư duy, để khảo sát một cách đến nơi đến chốn những động tác cụ thể, từ A đến Z?

- 4) Ngoài ra, khi xác định nhu cầu như vậy, phải chăng tôi đã lắng nghe tâm tình và xúc động của tôi, để cố quyết sống trung thực và liêm chính? Tôi không nói một đường làm một nẻo. Tôi không ba hoa, chích chòe.

- Trực giác đang khuyến khích và thúc giục tôi hiên ngang đi tới, hay là dừng lại, khảo sát một cách nghiêm chỉnh, những nghi vấn?

- Sau cùng tôi có đủ tự tin, để can trường vượt qua mọi trở ngại hay không? Nói cách khác, khi tôi đã đồng ý về quyết định của tôi, phải chăng tôi có đủ mọi can đảm để từ chối, nói không với mọi ý kiến còn lại, nhất là những ý kiến “bàn lui” hay là “thọc gậy bánh xe”, khả dĩ chận đường và cản trở bước chân của tôi, trong chiều hướng thiết lập với trẻ em những quan hệ, năng động, tích cực, xây dựng và hài hòa?


Chương Năm: 

Những Hành Vi Rối Loạn

 

Trong các chương trước đây, tôi đã nói nhiều đến 7 địa hạt học tập và phát triển của trẻ em. Tuy nhiên, tôi không cố tình bịt tai, nhắm mắt, giả vờ như không thấy và không biết về một thực trạng khách quan: Trẻ em đang có những hành vi rối loạn, trong bản thân và cuộc đời.

Năm triệu chứng mà tôi đã nhắc lại, trong Lời Mở Đường, đang ngày ngày đe dọa một cách trầm trọng, toàn bộ con đường phát triển và học tập của trẻ em. Chính vì lý do nầy, thể thức can thiệp  của chúng ta  phải có tính cách “TOÀN DIỆN”. Chúng ta tác động, bằng cách đáp ứng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của trẻ em trong đời sống làm người. Thay vì vuốt ve những ảo vọng độc tài và độc đoán của chính chúng ta.

Hẳn thực, chúng ta nhìn CÂY, nhưng vẫn không quên RỪNG. Đàng khác, ích lợi gì những chương trình hô hào “Bảo vệ Rừng”, mà không đào tạo những người  có khả năng chăm nom, vun tưới những gốc cây còn non dại, trong suốt những ngày hè oi bức và khô hạn? Chính vì lý do nầy, trong nhiều trường hợp, khi dạy mà không có dự án và kế hoạch, nghĩa là không đáp ứng nhu cầu thực tế của trẻ em, chúng ta càng làm cho vấn đề mỗi ngày mỗi thêm trầm trọng.

Nói khác đi, như Eric SHOPLER đã nhấn mạnh, ở bên dưới mỗi hành vi rối loạn của trẻ em, chúng ta cần phát hiện và nhận thức một cách sáng suốt rằng : những xúc động lo sợ, hãi hùng đang tràn ngập và lấn chiếm toàn diện tâm hồn và cuộc đời của trẻ em. Không có những quan hệ an toàn, hài hòa và năng động, do cha mẹ và thầy cô sáng tạo… làm sao các em có khả năng vượt qua tình trạng “lo sợ và tê liệt” của mình?

Trong tinh thần và lăng kính ấy, chương nầy sẽ lần lượt khảo sát những điểm chính yếu sau đây:

- Thứ nhất, Bản Lượng Giá của Eric SHOPLER đã khảo sát thế nào những hành vi rối loạn?

- Thứ hai, chúng ta có thể làm gì để giúp trẻ em? Mục tiêu được chúng ta quyết định và đeo đuổi, phải chăng là ý chí toàn năng “chận đứng, loại thải” một thực tế đã có mặt? Hay là chúng ta khiêm tốn và can đảm “chuyển hóa” những hành vi rối loạn của trẻ em, với những bước đi lên nho nhỏ?

1.- Hành vi rối loạn trong Bản Lượng Giá

Trong 174 TM của Bản Luợng Giá, có tất cả 43 TM dành cho việc khảo sát Hành vi rối loạn của trẻ em. Một cách cụ thể, Eric SHOPLER chỉ nói đến 4 loại rối loạn sau đây:

- Thứ nhất là Rối loạn về Quan hệ tiếp xúc và trao đổi qua lại hai chiều. Hẳn thực, học làm người là học xin và cho, cũng như học nhận và học từ chối. Tôi cần người khác, nhưng người khác, bắt đầu từ người mẹ đã sinh ra tôi, cũng đang cần tôi. Sau khi nhận, phải chăng tôi biết cho? Rối loạn hành vi bắt nguồn từ lãnh vực ý thức và khả năng tạo quan hệ qua lại với những người đang sinh sống với mình. Tôi dùng lối viết tắt: RlQh.

- Thứ hai là rối loạn về Ý thích (RlYt), khi tiếp cận với các loại trò chơi, dụng cụ, hay là các vật liệu như đất sét, bọt xà phòng… Để bộc lộ ý thích của mình, trong những sinh hoạt đơn sơ, thông thường, như Nhìn, Nghe, đưa tay va chạm, khởi động những âm thanh… theo lối nhìn của tác giả Donald W. WINNICOTT, trẻ em phải biết “Sống một mình”, làm chủ tình hình, không lệ thuộc vào kẻ khác. Lối nói tiếng Anh được tác giả sử dụng là : “To be there”. To be có nghĩa là làm chủ thể, ở thế chủ động. There có nghĩa là vào lúc ấy, ở chỗ ấy. Hẳn thực, khả năng làm chủ thể của trẻ em, lúc ban đầu, chỉ hạn hẹp trong một vài giây, vài phút, với một vài đồ vật và dụng cụ. Nhờ sự có mặt đầy khích lệ và nâng đỡ của người lớn, như cha mẹ, cô thầy… trẻ em sẽ dần dần phát huy và mở rộng  khả năng làm chủ thể của mình. Không có ý thích hay là động cơ thúc đẩy từ bên trong như vậy, trẻ em chỉ có một nếp sống ù lì, bị động, lệ thuộc, chờ đợi mệnh lệnh của người lớn. Thay vì quyết định, chọn lựa và sáng tạo nhiều con đường khác nhau, khi tiếp cận một dụng cụ, một trò chơi, trẻ em chỉ phản ứng một cách máy móc và tự động, hay là lặp đi lặp lại một hành vi, cơ hồ một chiếc máy ghi âm chỉ phát ra suốt ngày, một điệp khúc duy nhất và nhàm chán.

- Thứ ba là những rối loạn về giác quan ( RlGq). Trẻ em nhìn thế nào, nghe làm sao, cho vào miệng những gì, có thể nhận ra những đồ vật thông thường, bằng xúc giác hay không? Không bắt đầu phát huy, một cách đứng đắn, những sinh hoạt cơ bản nầy, làm sao trẻ em có thể tiến xa hơn, trên con đường học tập, khám phá môi trường chung quanh, tiếp thu những cấu trúc của thực tế?

- Thứ bốn là những rối loạn về ngôn ngữ ( RlNn). Để có thể sử dụng lời nói, nhằm xúc tiến những quan hệ trao đổi qua lại hai chiều, giữa người với người, trẻ em đã đi qua những bước đầu tiên như khóc la, làm ra những tiếng động, những âm thanh hay không? Ngôn ngữ “không lời” đã dọn đường thế nào cho ngôn ngữ “có lời”?

 

Bảng số 12 :

 

Tổng hợp Kết quả về Hành vi Rối Loạn

 

Sau đây là nội dung cụ thể trong Bản Lượng Giá về Hành vi:

 

1.1.- Rối loạn về Quan Hệ:

 

 

TM số    

 

Điể m

(+)

(+/-)

(-)

 

54) Nhận ra hình của mình trong gương       

……

……..

…..

 

55) Tỏ ra vui thích khi được bồng lên

……

……..

…..

 

91) Đặt câu hỏi, chia sẻ…

……

……..

…..

 

92) Trao đổi với người lớn….

……

……..

…..

 

146) Nhìn thẳng vào mắt kẻ khác

……

……..

…..

 

152) Tỏ ra có cảm tình với người lớn

……

……..

…..

 

154) Hỏi ý kiến, xin giúp đỡ    

……

……..

…..

 

155) Tỏ ra sợ, nhưng vẫn nhận làm quen 

……

……..

…..

 

 

 

 

TM số    

Điể m

(+)

(+/-)

(-)

 

157) Lưu tâm đến sự có mặt của người lớn   

……

……..

…..

 

158) Biết hợp tác với người lớn       

……

……..

…..

 

160) Chấp nhận thái độ bất bình 

……

……..

…..

 

173) Thích được khen thưởng

……

……..

…..

 

 

 

Tổng cộng các TM : 12

 

Điểm (+)   ………….

Điểm (+/-) ………….

Điểm (-)    ………….

  

 

 

1.2.- Rối loạn về Ý Thích

 

 

TM số    

Điể m

(+)

(+/-)

(-)

 

62) Biết chơi với sợi dây

……

……..

…..

 

90) Biết chơi một mình

……

……..

…..

 

144) Biết tò mò khám phá phòng ốc

……

……..

…..

 

145) Biết khám phá trò chơi, tìm cách chơi       

……

……..

…..

 

153) Biết tổ chức, lưu tâm trước dụng cụ    

……

……..

…..

 

159) Biết chú ý, tập trung trong công việc

……

……..

…..

 

172) Có những động cơ thúc đẩy

……

……..

…..

 

174) Hãnh diện khi thành tựu      

……

……..

…..

 

 

 

Tổng cộng số TM: 8

 

Điểm (+)    …………

Điểm (+/-)  …………

Điểm (-)     ………….

 

1.3.- Rối loạn về Giác quan

 

 

TM số    

Điể m

(+)

(+/-)

(-)

 

5) Trong cách khảo sát các hình khối (xúc) 

……

……..

…..

 

36) Sau khi nghe tiếng lách gõ nhịp (thính)

……

……..

…..

 

56) Sau khi bị ghẹo (xúc)

……

……..

…..

 

58) Sau khi nghe tiếng còi (thính)

……

……..

…..

 

112) Sau khi nghe tiếng chuông (thính)

……

……..

…..

 

143) Sau khi bị nhéo (xúc)

……

……..

…..

 

147) Mức độ bén nhạy về thị giác 

……

……..

…..

 

148) Mức độ bén nhạy về thính giác

……

……..

…..

 

149) Bén nhạy về xúc giác, va chạm

……

……..

…..

 

150) Về vị giác

……

……..

…..

 

 

 

 

TM số    

Điể m

(+)

(+/-)

(-)

 

151) Về khứu giác

……

……..

…..

 

156) Hành vi máy móc, tự động, lặp lại (xúc)      

……

……..

…..

 

 

 

Tổng cộng số TM: 12

 

Điểm (+)    …………

Điểm (+/-)  …………

Điểm (-)     …………

 

 

 

1.4.- Rối loạn về Ngôn ngữ

 

 

 

TM số    

Điể m

(+)

(+/-)

(-)

 

161) Cách phát âm, cung điệu lên xuống

……

……..

…..

 

162) Chỉ bi bô, líu lo, không có phát âm?

……

……..

…..

 

163) Dùng từ có ý nghĩa?

……

……..

…..

 

164) Dùng một loại ngôn ngữ cá biệt?   

……

……..

…..

 

165) Lặp lại như tiếng vọng sau một thời gian?

……

……..

…..

 

166) Lặp lại tức thì, sau khi kẻ khác nói    

……

……..

…..

 

167) Một số từ lui tới như một điệp khúc  

……

……..

…..

 

168) Lẫn lộn đại danh từ Tôi, Con, nó, mầy… 

……

……..

…..

 

169) Ngôn ngữ có ý nghĩa trao đổi 

……

……..

…..

 

 

 

 

 

TM số    

Điể m

(+)

(+/-)

(-)

 

170) Dùng đúng văn phạm

……

……..

…..

 

171) Trao đổi một cách hồn nhiên?  

……

……..

…..

 

 

 

 

Tổng cộng số TM: 11

 

Điểm (+)    …………

Điểm (+/-)  …………

Điểm (-)     ………….

 

 

Trình bày kết quả trên một sơ đồ 

 

Trên một vòng tròn được phân chia làm 4 phần bằng nhau. Gần trung tâm, có bao nhiêu điểm Thiếu Sót (-), chúng ta vẽ bấy nhiêu vòng đen, tượng trưng vùng rối loạn. Sau đường đen, dựa vào những điểm Khởi Phát (+/-), chúng ta vẽ những vòng đỏ, tượng trưng vùng học tập. Sau hết, với những điểm Thành Tựu (+),  chúng ta vẽ những đường vàng, tượng trung vùng tự lập.

 

 

Bảng số 13

  

00005.jpg

 

 

 

Khi so sánh diện tích của 3 vùng khác nhau, chúng ta sẽ nhận thấy “mức độ và tốc độ rối loạn” của các triệu chứng đang dần dần lan tỏa và chế ngự, trong nhiều địa hạt phát triển khác nhau của trẻ em.

Trên Bảng số 13, các điểm Tiêu cực (-) được Eric SHOPLER xếp đặt gần trung tâm của vòng tròn, nhằm trình bày mức độ lấn chiếm của các hành vi rối loạn. Thay vì làm như vậy, chúng ta cũng có thể đảo ngược cách trình bày này, bằng cách cho vào gần trung tâm, các điểm Tích cực (+), và đem ra ngoại vi, những điểm Tiêu cực (-). Thể thức can thiệp của chúng ta lúc bấy giờ là tập trung nổ lực vào Vùng Phát khởi (+/-) ở giữa. Mỗi ngày hay mỗi tuần, chúng ta chọn lựa một TM trong số 43 TM, để chuyển biến điểm (+/-) thành điểm (+).  Đó là Loại Sư Phạm “CHUYỂN HÓA”, mà tôi đã nói tới trước đây, và sẽ trình bày trong các đoạn sau đây.

 

Bảng số 14

00006.jpg

2.- Những đường hướng “can thiệp” và chuyển hóa

Thể theo lối nhìn và cách trình bày của Eric SHOPLER, xuyên qua 43 TM của Bản Lượng Giá, để có thể kết dệt với trẻ em, những quan hệ xây dựng và hài hòa, các bậc cha mẹ và người giáo viên cần tôi luyện những phong thái sau đây: 

- Chấp nhận và tôn trọng quyền khác biệt “tất yếu” của trẻ em. Một cách đặc biệt, khi trẻ em từ chối, “KHÔNG” làm, chúng ta hãy thuyên giải : “Trẻ em không biết và không có khả năng, trong hoàn cảnh hiện tại”, thay vì “trẻ em cứng đầu, không muốn, thiếu thiện chí…”

- Đến gần, có mặt với trẻ em một cách tích cực và năng động. Đồng thời tạo ra mọi điều kiện thuận lợi và an toàn, khi trẻ em bắt đầu biết “sống một mình” hay là “chơi theo cách của mình”, tùy theo những giai đoạn phát triển khác nhau.

- Chính những lúc trẻ em tỏ ra không cần chúng ta, chúng ta vẫn có mặt “một cách năng động” với các em. Thay vì buồn bực và nhai đi nhai lại trong nội tâm, những lời thuyên giải có tính cách tiêu cực: “Mày không cần tao, thì tao đi làm chuyện khác”.

- Một cách đặc biệt, với những trẻ em đang gặp khó khăn trong vấn đề tạo quan hệ, chính chúng ta là người dẫn khởi, đi bước đầu tiên, đến với trẻ em, bắt chước những gì trẻ em đang phát khởi. Lặp lại những âm thanh và tiếng động của trẻ em. Phản ảnh những gì đang diễn biến trên bề mặt, và nhất là trong địa hạt xúc động. Hãy bắt đầu “đi theo” trẻ em, pacing. Sau đó, chúng ta mới có điều kiện leading, điều hướng và can thiệp.

- Ví dụ: Mẹ thấy con sợ, mẹ lại gần với con. Con đang thét la. Theo cách mẹ hiểu, con bực bội, tức giận. Con hãy đánh mạnh vào bao gối nầy như Mẹ làm, để hết tức giận đi…Khi thuyên giải một cách tích cực như vậy, chúng ta dựa vào một vài dấu hiệu khách quan nho nhỏ. Ngoài ra, chúng ta đừng nêu lên vấn đề lý thuyết mơ hồ: “Cách thuyên giải của tôi Đúng hay Sai?”. Giữa trẻ em với chúng ta, “Tất cả đều là quan hệ”. Tất cả là nhịp cầu trao đổi và chia sẻ qua lại.

- Từ những điều mà trẻ em tỏ ra yêu thích và biết làm, chúng ta dần dần đề nghị thêm những trò chơi có chức năng thúc giục,  vận dụng các giác quan, nhất là Thị, Thính và Xúc giác.

- Sau cùng, để chuẩn bị khả năng sử dụng ngôn ngữ “có lời” hay là “không lời”, chúng ta bắt chước trẻ em, lặp lại khi trẻ em bắt đầu líu lo, bặp bẹ, phát âm. Đồng thời, nếu trẻ em thích thú đón nhận, chúng ta trình bày thêm những cách làm, những cấu trúc, những mẫu thức, hay là những những thứ tự như: Từ trên xuống dưới, từ trước ra sau, từ trong ra ngoài, từ lớn đến nhỏ, từ bên trái đi qua bên mặt. Nói một cách đơn sơ và vắn gọn, chúng ta đề nghị “những qui luật”, những “thể thức”  chuẩn bị các em sống trong xã hội. Tuy nhiên, điều quan trọng số một là chúng ta cần bén nhạy, không bao giờ vượt quá “ngưỡng chịu đựng” hay là tạo ra khổ đau cho trẻ em.

- Nói tóm lại, trong tất cả những điều chúng ta làm với trẻ em và cho trẻ em, sáng tạo hay là phát huy QUAN HỆ tích cực và xây dựng có nghĩa là thực thi 4 động tác “XIN, CHO, NHẬN và TỪ CHỐI”, theo lối định nghĩa của tác giả Jacques SALOMÉ. Trong số ấy, TỪ CHỐI là cách làm quan trọng nhất, nhưng khó hơn tất cả. Chúng ta học tập NÓI KHÔNG, một cách cương nghị và rõ ràng, chỉ khi nào trẻ em vi phạm những qui luật xã hội như đập đánh, tấn công các em khác, hủy hoại thân xác của chính mình hay là xé nát, đập bể các vật liệu và học cụ…Ngoài ra, như tôi đã nói lui nói tới nhiều lần trong các chương trước đây, chỉ có quan hệ thực sự và xây dựng, khi chúng ta “làm người”, và đãi ngộ trẻ em như những con người thực sự và trọn vẹn, ngang hàng chúng ta, có quyền lợi và giá trị như chúng ta. Không có điều kiện cơ bản nầy, trong lối nhìn và hành động của chúng ta, tất cả những gì chúng ta nói và làm chỉ là “tuyên truyền và láo khoét”. 

Khi thiết lập những quan hệ “Xin, Cho, Nhận và Từ chối” như vậy, cha mẹ và người giáo viên đang đáp ứng hai nhu cầu cơ bản của trẻ em:

- Nhu cầu thứ nhất là Tình Thương. Hẳn thực, khi cảm thấy mình được thương, trẻ em sẽ ý thức đến giá trị của mình. Thêm vào đó, khi được thương, trẻ em sống trong bầu khí an toàn, thanh thản, vui tươi và hạnh phúc. Dựa vào tình thương và cảm thức an toàn nầy, trẻ em sẽ dần dần phát huy khả năng “sống một mình”, chơi một mình, khám phá môi trường chung quanh, bằng cách vận dụng mọi giác quan của mình.

- Nhu cầu thứ hai là Thực tế, còn được gọi là Cấu trúc hay là Qui luật. Nhờ học tập, trẻ em dần dần tiếp thu và hội nhập những cấu trúc của thực tế. Và khi có những cấu trúc trong nội tâm, trẻ em sẽ biết mình đang ở đâu, đi đến đâu, chọn con đường nào, cần tránh những cạm bẫy nào…Nhờ vào những cấu trúc ấy, trẻ em biết sống tự lập và tổ chức cuộc đời của mình.

Trong những giai đoạn phát triển và tăng trưởng, từ 0 đến 6 tuổi, nếu thấm nhuần được hai bài học nầy, trẻ em sẽ khẳng định về mình: “Tôi được thương và tôi có khả năng cấu trúc hóa thực tế, tôi là người có giá trị”.  Ý thức ấy là một loại “kháng thể” trong nội tâm, hay là  một “khả năng miễn nhiễm”, giúp trẻ em đứng vững trước mọi bão bùng giông tố của cuộc đời.

Nói cách khác, khi cha mẹ hay là người giáo viên tìm cách dạy cho con em bao nhiêu bài học, mà không dạy được hai bài học nầy, tất cả công trình của các vị ấy chỉ là “nước rơi đầu vịt”.

Trái lại, cho dù  Nguy cơ Tự kỷ  đang đe dọa và khống chế, đến độ nào chăng nữa, nếu trẻ em vẫn học được hai bài học nầy một cách vui tươi và nhuần nhuyễn, trẻ em ấy sẽ có nội lực để “VÙNG ĐỨNG LÊN”. 

Phải chăng đó là một THÁCH ĐỐ lớn lao và kỳ vĩ đang đợi chờ tất cả cha mẹ và người giáo viên, trong mọi dự án can thiệp và dạy dỗ hằng ngày? 


Chương Sáu:

Định Lý của Douglas M. ARONE về Hội chúng Tự Kỷ

 

Trong Chương Tám của Cuốn sách “Trẻ em Tự kỷ” (Hè 2005), tôi đã khảo sát vai trò quan trọng của Não bộ Hệ Viền, trong đời sống của con người,  với ba cấu trúc chính yếu là Đồi Thị, Hạnh Nhân và Hải Mã.

- Hải Mã (Hippocampus) là cấu trúc có chức năng tàng trử mọi tin tức đã được thu nhận trong quá khứ, bây giờ trở thành những hoài niệm.

- Đồi Thị (Thalamus) là cấu trúc đầu tiên của Hệ Viền (Limbic), có chức năng tiếp thu và phân phối mọi tin tức hiện tại, do các vùng ngoại vi của cơ thể gửi về, để Tân Võ Não (Neocortex)  phân tích, cứu xét nhằm đề nghị những cách đáp ứng thích hợp và có ý thức.

- Trong số những tin tức do ngoại vi gửi về, những tin tức có tính khẩn trương được Đồi Thị gửi thẳng đến HẠNH NHÂN (Amygdala) thuộc cùng một Hệ Viền. Phần vụ của cấu trúc nầy là tham cứu kho hoài niệm thuộc Cấu trúc Hải Mã, ở sát bên cạnh, và tức thì phát ra những mệnh lệnh cấp tốc, để các bộ phận có liên hệ, phải chấp hành, không trì hoản.

- Đồng thời với mệnh lệnh cấp tốc được phát đi, Hạnh nhân phong tỏa mọi con đường đưa tin còn lại, bằng cách ra lệnh nhả ra trong đường máu những hóa chất như Adrénaline, nhằm nâng cao mức độ canh thức, đề phòng và phấn đấu.

- Khi làm những công việc khẩn trương nầy, Hạnh Nhân không cần phải tham khảo ý kiến của Tân Võ Não. Cấu trúc nầy là trung tâm của Tư duy có phần vụ đề xuất những chương trình quan trọng, dài hạn thuộc đời sống có ý thức.

- Một cách cụ thể và rõ ràng hơn, Hạnh Nhân thuộc Não bộ Hệ viền, có phần vụ chính yếu là điều hợp và quản lý đời sống xúc động. Chính vì lý do nầy, khi xúc động trở thành vấn đề khẩn trương, mọi con đường của Tư duy phải bị phong tỏa, tê liệt và vô hiệu hóa. Nói khác đi, bao lâu những xúc động như lo sợ, buồn phiền, tức giận đang tràn ngập nội tâm, chúng ta có mắt nhưng không còn thấy. Có tai nhưng không còn nghe. Tư duy có mặt, nhưng bị khống chế  và vô hiệu hóa hoàn toàn. 

Vừa rồi đây, trong tuần lễ đầu tiên của năm 2006, với tác phẩm “The Theorem”, (Nhà Xuất Bản O Books, tại Winchester UK), tác giả người Anh, Douglas M. ARONE cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng và chức năng của Não bộ Hệ Viền, nhất là của cấu trúc Hạnh Nhân, trong toàn thể đời sống tiềm thức hay là vô thức của con người.

Thực ra, tác giả đã đưa ra một “Nguyên Lý”, với những chứng minh khoa học và khách quan, nhằm giải thích một cách rất rõ ràng nguồn gốc của mọi loại hành vi rối loạn nơi con người. Trong khuôn khổ của chương sách này, tôi chỉ chọn lựa khảo sát quan điểm khoa học của Douglas M. ARONE về Hội chứng Tự kỷ mà thôi. Sau đây là 4 trọng điểm sẽ được lần lượt trình bày:

- 1) Hai chu kỳ sinh hoạt và phát triển của bào thai trong tử cung của bà mẹ,

- 2) Nét khác biệt chủ yếu giữa một thai nhi thông thường và một thai nhi có “mầm móng” nguy cơ tự kỷ, vào cuối tam cá nguyệt đầu tiên, sau khi tinh trùng của người cha và noãn bào của người mẹ đã kết hợp với nhau.

- 3) Những dấu hiệu báo động đầu tiên của một hài nhi có mầm mống tự kỷ, từ 0 đến 6 tuổi.

- 4) Những chuyển biến có thể xảy ra, trước khi Hội Chứng Tự kỷ trở thành cố định.

 

Phần thứ Nhất : Hai chu kỳ phát triển 

Từ ngày hai tác giả Leo KANNER và Hans ASPERGER, vào những năm 1943-1944, đã phát hiện Hội chúng Tự kỷ, hai vấn nạn thường được nêu lên trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu:

- Vấn nạn thứ nhất: Hội chứng Tự kỷ xuất hiện vào giai đọan phát triển nào, trong đời sống của một trẻ em?

- Vấn nạn thứ hai: Nguyên nhân nào đã phát sinh Hội chứng Tự kỷ? Nguyên nhân ấy thuộc Bẩm sinh hay là xuất phát từ Môi Trường sinh thái như gia đình và xã hội?

Trong vòng hơn một nửa thế kỷ, bao nhiêu chủ thuyết đã đề xuất nhiều lối giải thích, nhiều cách thuyên giải mâu thuẫn và đối kháng lẫn nhau. Tất cả mọi quan điểm ấy đều còn là giả thuyết chưa bao giờ được chứng minh, một cách khoa học, với những sự kiện cụ thể và khách quan, mà mỗi người có thể kiểm nghiệm một cách dễ dàng, trong cuộc sống hằng ngày.

Douglas M. ARONE, trái lại, sau hơn 10 năm nghiên cứu, đã xuất bản công trình của mình, chung quanh cuối năm 2005 và đầu năm 2006. Tác giả đặt tên cho tác phẩm vừa ra đời, là “ĐỊNH LÝ”, có khả năng trả lời một cách rốt ráo và đầy đủ nguyên nhân nào phát sinh và giải thích hành vi của con nguời. Nói khác đi, Định Lý hay là “The Theorem” trong tiếng Anh, theo cách định nghĩa của Tự Điển Learner’s Dictionary- Collins COBUILD là “a statement in mathematics or logic that can be proved to be true by reasoning”. Hẳn thực tác giả đã chứng minh (proving) luận đề, với rất nhiều dữ kiện cụ thể và khách quan. Cách lý luận (reasoning) của tác phẩm “Định Lý”có giá trị thuyết phục rất cao, so với tất cả mọi công trình đã có mặt, từ trước cho tới nay.

Tác phẩm của Douglas M. ARONE bắt đầu từ những sự kiện quan trọng  sau đây:

 Trong tử cung của bà mẹ, thai nhi  –  hay là đứa con trong bào thai  -  mỗi ngày phải đưa thoi qua lại giữa hai chu kỳ sinh hoạt và phát triển khác nhau:

o Chu kỳ thứ nhất được gọi là “Chu kỳ phát triển đầy lo sợ và kinh hoàng”,

o Chu kỳ thứ hai mang tên là “Chu kỳ phát triển  đầy hưng phấn, thoải mái và thú vị”.

Chu kỳ thứ nhất khởi sự vào ban đêm, lúc bà mẹ vào giường, nằm xuống và đón chờ giấc ngủ. Thai sinh, trong chu kỳ nầy, có mức độ thức tỉnh và hoạt động cao. Trên bình diện xúc động trái lại, thai sinh cảm thấy lo âu, khắc khoải, khó chịu, bực bội và bất ổn. 

Chu kỳ thứ hai, khởi sự vào lúc ban ngày, khi người mẹ thức dậy, bắt tay vào công việc, vận động và di chuyển từ nơi nầy qua nơi khác. Thai sinh trong chu kỳ nầy có những cảm nghiệm an toàn, thư giản, thoải mái và sung sướng. Trên bình diện sinh hoạt, trái lại, trong suốt chu kỳ phát triển nầy, thai sinh có một tư thế hoàn toàn bất động, nghỉ ngơi và dần dần chìm đắm vào giấc ngủ bình lặng.

 

Với những phương tiện tân kỳ ngày nay như máy đo điện não đồ, tia sáng laser, chụp hình những tầng lớp khác nhau của Hệ thần kinh trung ương, đo lường những tiếng vọng chạy qua các tầng lớp tế bào khác nhau… tác giả Douglas M. ARONE, cũng như những ai có các phương tiện và chuyên môn tương tự, có thể ghi nhận và quan sát những sự kiện hoàn toàn khách quan có liên hệ đến Não Bộ của thai nhi, khi còn ở trong tử cung của bà mẹ.

Tuy nhiên sự kiện không phải là ý nghĩa. Cho nên dù muốn dù không, khi trình bày quan điểm và lối nhìn của mình, tác giả ARONE cũng giống như tất cả mọi nhà nghiên cứu có tầm cỡ quốc tế, đều phải đi qua con đường THUYÊN GIẢI. 

Thuyên giải là rút tỉa và đề xuất Ý nghĩa, sau khi quan sát và ghi nhận Sự kiện một cách khách quan, từ một khía cạnh, một gốc độ được chọn lựa. Thêm vào đó, khi trình bày những nhận định và lối nhìn của mình, ai ai cũng phải sử dụng tư duy có ý thức và ngôn ngữ chính qui, với những cơ chế hạn hẹp nhưng cần thiết và tất yếu, như:  tổng quát hóa, chọn lọc và chủ quan hóa.

Không trang bị mình với tất cả những nhận xét và hiểu biết quan trọng ấy, chúng ta sẽ thiếu khả năng lắng nghe và theo dõi lý luận khoa học của ARONE. Tác giả không thể không chọn lọc. Lúc khác, tác giả cần phải làm công việc tổng quát hóa, để rút tỉa những qui luật. Biết lắng nghe, đánh giá và kiểm chứng những gì mà tác giả chia sẻ và đóng góp, chúng ta mới có khả năng sở hữu hóa – nghĩa là chọn làm của mình -  “Định Lý” của tác giả.

Trở lại với hai chu kỳ sinh hoạt và phát triển của thai nhi, trong lòng của bà mẹ, chúng ta cần thấy rõ: đó là một qui luật của thiên nhiên nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cuộc sống.

- Nhu cầu thứ nhất: Để hai cuộc sống của hai mẹ con có thể phát triển và tăng trưởng, trong cùng một cơ thể duy nhất, hai mẹ con phải bổ túc cho nhau và phối hợp với nhau, trong những sinh hoạt hằng ngày của mình. Khi mẹ hoạt động, thai sinh đi vào chu kỳ nghỉ và ngủ. Trái lại, khi bà mẹ nằm ngủ và giảm hạ mức độ hoạt động, thai sinh lại đi vào chu kỳ gia tăng hoạt động và phát triển, trong nhiều lãnh vực khác nhau như giác quan, hô hấp, thần kinh và tâm lý…

- Nhu cầu thứ hai: Thai nhi phát triển trong mọi địa hạt, để chuẩn bị ngày đi ra khỏi tử cung của mẹ, với những cử động và phản xạ cần thiết của mình. Ngoài ra, cuộc sống trong tử cung của bà mẹ có phần vụ chuẩn bị cho cuộc sống sau này của đứa bé, trong vùng ánh sáng và không khí. Không  phát triển hệ thần kinh, không tập luyện bằng cách này hay cách khác những giác quan như thính, xúc và khứu giác…làm sao đứa bé sẵn sàng tiếp tục con đường phát triển của mình?

- Nhu cầu thứ ba: Khi sống và phát triển trong chu kỳ thứ nhất, thai nhi có những cảm nghiệm về khổ đau và lo sợ. Trái lại, khi chuyển qua chu kỳ thứ hai, lập tức thai sinh biết thụ hưởng những giờ phút vui suớng, hạnh phúc, an bình và thoải mái. Nhờ những cảm nghiệm và kinh nghiệm quí hóa nầy, thai nhi thiết lập những quan hệ gắn bó với bà mẹ của mình. Ngoài ra, Hệ thần kinh trung ương của thai nhi, trong vòng chín tháng, cơ hồ một chiếc máy vi tính, sẽ dần dần ghi lại và lưu giữ trong các tế bào của mình, hai loại kinh nghiệm hoàn toàn khác biệt và đối kháng lẫn nhau ấy. Nhờ vào những tầng lớp tế bào thần kinh có khả năng lưu giữ những tin tức như vậy, cả mẹ lẫn con được chuẩn bị để đối phó với bao nhiêu trắc trở trong lòng cuộc đời.

- Trong khuôn khổn của cuốn sách này, tôi muốn nhấn mạnh một điều sau đây: Nếu cha mẹ, người giáo viên, cũng như những người có trách nhiệm trong lòng xã hội, Quê Hương và nhân loại có khả năng mở mắt nhận ra, giống như tác giả ARONE, khi nào và vì sao trẻ em đau khổ, khi nào và nhờ vào đâu trẻ em hạnh phúc, họ đã bắt đầu có đáp số cho vấn nạn Hành Vi Rối Loạn, hay là cho Hội Chứng Tự kỷ. Từ đó, họ sẽ trang bị mình hay là học tập, để TĂNG CƯỜNG những gì cần tăng cường, HÓA GIẢI những gì cần chuyển biến, LOẠI THẢI bằng phương thức nào, những gì cần loại thải. Phải chăng họ là MẢNH ĐẤT, là môi trường đang đón nhận những hạt giống, những Gên, những vấn đề bẩm sinh? Nếu không có môi trường trông nom, tưới tẩm, nuôi dưỡng, làm sao Gên có thể mọc lên? Nếu môi trường biết củng cố và tăng cường, hạt giống tươi tốt sẽ lớn lên đâm chồi nảy lộc, kết sinh hoa trái. Nếu môi trường biết chuyển hóa, thể theo văn hào người Brésil (Ba Tây) Paulo CUELHO, đồng chì sắt thép trong địa hạt bẩm sinh cũng sẽ có khả năng trở thành Vàng nguyên chất, nhờ sức tác động hữu hiệu của môi trường.

- Cũng theo cách nhận định của ARONE, trong suốt thời gian cưu mang con, nếu có những nguy cơ về sinh mạng cho cả hai mẹ con, Thiên Nhiên luôn luôn đặt người mẹ lên hàng ưu tiên số một. Ngoài ra, người mẹ còn được Thiên Nhiên nâng đỡ, trong vai trò làm mẹ của mình. Ví dụ, với cơ chế “Phong tỏa trí nhớ ngắn hạn”, Thiên Nhiên thay thế người mẹ, tạo điều kiện thuận lợi cho thai nhi, ngay từ những giờ phút đầu tiên, chỉ biết “sống trong giờ phút hiện tại ở đây và bây giờ”. Chẳng hạn, khi sống trong chu kỳ hưng phấn, thai nhi tràn ngập hạnh phúc và bình an. Cuộc sống của thai nhi trong lòng mẹ, lúc bấy giờ, là Niết bàn, là Thiên đàng, là Cõi bồng lai. Cũng giống như vậy, khi sống trong chu kỳ lo sợ, thai nhi đang băn khoăn về số kiếp của mẹ mình. Hẵn thực, mẹ đang im lìm, bất động trong giấc ngủ, sau một ngày bận rộn công việc.  Thế nhưng trong cách thuyên giải, thai nhi đang tin tưởng rằng mẹ lâm nguy và đang trải qua những giờ phút hấp hối. Cũng nhờ cách thuyên giải lệch lạc ấy, thai nhi đặt trọng tâm vào mẹ, hướng đến mẹ, tìm cách khám phá hiện tình của mẹ. Phải chăng Thiên nhiên đang sử dụng hai chu kỳ sinh hoạt và phát triển khác nhau như vậy, để thiết lập trong các tế bào thuộc não bộ hệ viền của đứa con, những quan hệ xúc động gắn bó giữa hai mẹ con?

- Thai nhi không những chỉ lo sợ cho mẹ, về mẹ. Thai nhi còn vận dụng những giác quan của mình để đánh thức mẹ,  thu lượm tin tức về mẹ… nghe tim của mẹ đập nhịp thế nào…Bao nhiêu cách làm ấy của thai nhi chỉ là những phản ứng vô thức và tự động, chứ không phải là những hoạt động có ý thức. Sở dĩ như vậy, bởi vì cơ quan có phần vụ ghi nhớ ngắn hạn thuộc Não bộ Hệ Viền, bị phong tỏa hoàn toàn, không thể hoạt động.

- Theo cách giải thích của tác giả ARONE, giữa Cơ quan Trí Nhớ ngắn hạn, thuộc Não Bộ Hệ Viền của thai nhi và Hệ Miễn Nhiễm của người mẹ,  có những quan hệ tác động qua lại. Chính vì tình huống và điều kiện mang thai,  Hệ Miễn Nhiễm  của người mẹ bị tê liệt, không hoạt động. Và do đó, cơ quan Trí Nhớ ngắn hạn của thai nhi cũng bị phong tỏa và trở nên vô hiệu hóa hoàn toàn. Trái lại, như sau nầy chúng ta sẽ thấy, vì lý do sức khỏe nếu tính mạng của bà mẹ bị đe dọa trầm trọng, bằng cách nầy hay cách khác, Hệ Miễn Nhiễm của bà cần phải được tái lập. Lúc bấy giờ, cơ quan Trí Nhớ ngắn hạn của thai nhi tức thì được giải tỏa. Thai nhi sẽ có khả năng ghi nhớ tất cả những gì xảy ra cả trong hai chu kỳ Lo Sợ và Sảng Khoái. Đó là lý do cơ bản giải thích sự khác biệt nguyên thủy giữa một thai nhi thông thường, thông lệ vả một thai nhi bắt đầu có mầm mống và nguy cơ tự kỷ, vào cuối tam cá nguyệt đầu tiên của cuộc sống trong bào thai của mẹ.

 

Phần thứ Hai : Nét khác biệt đầu tiên giữa thai nhi thông thường và thai nhi có nguy cơ tự kỷ.

Nét khác biệt đầu tiên và cơ bản, giữa thai nhi thông thường và thai nhi có mầm mống và nguy cơ tự kỷ, xuất phát từ sự có mặt hay vắng mặt của một cơ quan thuộc Hệ Viền, nằm ở chính giữa đầu não của mỗi người. Cơ quan nầy có chức năng phong tỏa Trí Nhớ ngắn hạn. Và khi bị phong tỏa như vậy, Trí nhớ ngắn hạn không thể ghi nhận những gì đang xãy ra. Thai nhi lúc bấy giờ chỉ sống hoàn toàn và trọn vẹn trong giờ phút hiện tại. Sở dĩ Trí Nhớ của thai nhi bị phong tỏa, vô hiệu hóa hay là không hoạt động, là vì Hệ Miễn Nhiễm của người mẹ, từ khi mang thai, bị cấm cản, không thể hoạt động.

Trong vài trường hợp khẩn trương, vì lý do sức khỏe của người mẹ bị đe dọa trầm trọng,  bằng cách này hay cách khác, Hệ Miễn Nhiễm phải được tái lập, để cứu sống cả hai mẹ con. Lúc bấy giờ, Trí Nhớ ngắn hạn của thai nhi không còn bị ngăn cản, và trở lại hoạt động bình thường. Nguy cơ tự kỷ bắt đầu xuất hiện và phát triển, với sự cố quan trọng nầy đang xảy ra trong Não Bộ Hệ Viền của thai nhi, ước chừng vào cuối tam cá nguyệt đầu tiên 

Phát xuất từ sự cố nguyên thủy nầy, nhiều sự cố đặc biệt khác sẽ từ từ xảy ra cho thai nhi có mầm mống tự kỷ:

- Trước hết, thai nhi, lúc bấy giờ, có khả năng ghi nhớ tất cả những gì xảy ra, trong chu kỳ Lo Sợ cũng như trong chu Kỳ Sảng Khoái và Thư Giản.

- Cùng với khả năng ghi nhớ, thai nhi có khả năng học tập, tiên đoán và tiên liệu, khám phá và rút tỉa những sự cố có tính qui luật, nghĩa là lặp đi lặp lại một cách đều đặn, từ ngày này qua ngày khác.

- Nhờ vào khả năng học tập và ghi nhớ như vậy, thai nhi có nguy cơ tự kỷ, không thuyên giải một cách lệch lạc, nhất là không bao giờ tin tưởng rằng mẹ sắp hấp hối, mẹ sắp biến mất khỏi cuộc đời.

- Cũng vì biết rõ mọi đường đi nẻo về của mẹ như vậy, thai nhi  không có gì để lo sợ về mẹ và về số phận của mình. Nói một cách đơn sơ và rõ ràng hơn, thai nhi không cột chặt vận mệnh của mình vào vấn đề sống còn của mẹ. Mẹ chỉ là một biến số trong một phương trình, mà mình có thể tìm ra đáp số. Cho nên giữa mẹ và con, không có những ràng buộc, những quan hệ gắn bó mật thiết, trên bình diện xúc động.

- Với một thai nhi thông thường, mỗi lần mẹ vào giường, nằm xuống, chờ giấc ngủ… là có vấn đề thuyên giải hay là tưởng lầm rằng mẹ có thể sắp chết. Cho nên thai nhi vận dụng mọi giác quan của mình, họa may sẽ có những tin tức về mẹ, chẳng hạn như đưa tai nghe ngóng những nhịp tim của mẹ. Hay là đưa tay đập mạnh, đưa chân chọi vào thành bụng của mẹ. Họa may, một vài tiếng động trở mình của mẹ sẽ mang đến một tia hy vọng. Một cách gián tiếp, nhờ vào bao nhiêu cố gắng tìm kiếm về mẹ như vậy, thai nhi càng ngày càng phát huy những khả năng hoạt động của các giác quan, nhất là thính và xúc giác. Hệ thần kinh trung ương, còn được gọi là Não Bộ, với ba tầng khác nhau là Thân Não, Hệ Viền và Tân Võ Não, cũng càng ngày càng phát huy những hoạt động của mình. Các tế bào càng ngày càng nhân ra thêm nhiều và bắt đầu tiến trình bao bọc các đường giây bằng chất my-ê-lin có tính chất dẫn điện một cách rất nhanh chóng.

- Đối với thai nhi có mầm mống tự kỷ, ngược lại, tiếng động, âm thanh, nhịp tim, tiếng nói… không mang ý nghĩa là những tin vui, những nguồn hy vọng. Cho nên, như chúng ta sẽ thấy sau này, ngôn ngữ không phải là một nhu cầu quan trọng hay là tất yếu. Ngôn ngữ không phải là nhịp cầu, có khả năng  nối kết hai mẹ con lại, đồng cảm với nhau.

- Tất cả những nhận định vừa rồi cho phép chúng ta kết luận một cách rõ ràng: Khi một thai nhi không kết dệt những quan hệ ràng buộc, gắn bó và đồng cảm với mẹ, cũng như không lưu tâm nghe ngóng, tìm kiếm những tiếng động của mẹ và có liên hệ đến mẹ…làm sao hài nhi sau này, khi sinh ra, có thể phát huy những quan hệ tiếp xúc và trao đổi với những người khác có mặt trong môi trường sinh thái? Làm sao đi vào lãnh vực ngôn ngữ, để có thể chia sẽ và đồng hành với bao nhiêu ưu tư và hy vọng của người khác, trong lòng Quê Hương và Nhân Loại.

- Trong khuôn khổ của một chương sách, tôi không thể nói thêm nhiều hơn nữa về cách thức giải quyết của thai nhi, khi  phải đối diện với sự cố ngưng thở và ngột thở, do cuộc sống chật chội trong bào thai. Bằng cách nào thai nhi giải quyết vấn đề khan hiếm  và giảm hạ của những hóa chất có hiệu năng nâng cao sinh lực, như Adrenaline, Dopamine, trong chu kỳ Lo sợ, khi người mẹ im lìm, bất động trong giấc ngủ? Sau cùng, làm sao một thai nhi có nguy cơ tự kỷ, phát huy một cách đặc biệt khứu giác của mình, bằng cách dựa vào những mùi nồng, mùi thối của các phế liệu trong tư cung, để phát hiện và đề phòng vấn đề ngưng thở của mình? Độc giả nào muốn có thêm những tin tức đầy đủ và chi tiết hơn, tôi đề nghị họ hãy tiếp cận với chính tác phẩm của tác giả Douglas M. ARONE.

 

Phần thứ Ba: Những dấu hiệu đầu tiên về Hội Chứng Tự kỷ  

Hài nhi có mầm móng tự kỷ, sau khi thoát ra khỏi cung lòng của người mẹ, đã từ từ trình bày những dấu hiệu đáng lo ngại sau đây.

- Thứ nhất, hài nhi không đưa mắt nhìn thẳng vào đôi mắt của mẹ,

- Thứ hai, khi được mẹ bồng, hài nhi có tư thế co quắp, cong lưng lại thành vòng cung, thay vì vui thích, thoải mái, sung sướng và hớn hở,

- Thứ ba, khi có những đồ vật hay trò chơi quay tròn một cách liên tục, hài nhi có thái độ sững sờ, như bị thôi miên và chìm dần vào giấc ngủ. Phải chăng những cử động ấy gợi lại chu kỳ sảng khoái, với dư thừa liều lượng của hóa chất Dopamine hay Adrenaline, được các cơ quan tiết ra trong đường máu?

Tuy nhiên, với đôi mắt của người không có kinh nghiệm chuyên môn về trẻ em có nguy cơ tự kỷ, những dấu hiệu trên đây thường không được quan sát và ghi nhận, một cách dễ dàng, trong năm đầu tiên.

Ngược lại, vào cuối năm thứ hai trở lên, những triệu chứng càng ngày càng xuất hiện một cách rõ ràng hơn. Ở đây, tôi không lặp lại những gì được trình bày trong cuốn sách “Trẻ Em Tự kỷ” (Hè 2005), và được nhắc lại một cách súc tích, trong lời mở đường của cuốn sách này. Thay vào đó, tôi chỉ nhấn mạnh một vài triệu chứng có liên hệ mật thiết với hai chu kỳ phát triển trong bào thai, và bao nhiêu cảm nghiệm đã được khắc sâu vào từng tế bào thần kinh thuộc Não Bộ Hệ Viền, suốt thời gian sống trong tử cung của bà mẹ.

1) Triệu chứng thứ nhất có liên hệ đến quan hệ xã hội.

Từ những ngày đầu tiên, thai nhi có mầm mống tự kỷ, có khả năng ghi nhớ và ghi nhận mọi hoạt động của bà mẹ, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi ngủ nghĩ… Điều tạo nên cho thai nhi nỗi bận tâm lớn lao nhất là sự cố ngưng thở và ngột thở, chứ không phải là bà mẹ.

Nhưng rốt cùng thai nhi cũng khám phá được một vài thông số quan trong. Thứ nhất, sự cố tạo khổ đau nầy chỉ xảy ra trong chu kỳ Lo Sợ và Kinh Hoàng. Thứ hai, sự cố nầy đạt cao điểm vào lúc ban đêm. Thứ ba, sự cố nầy được báo trước bằng những loại mùi nồng cay và khó chịu của các phế liệu thuộc đường tiêu hóa. Thứ bốn, sự cố nầy xảy ra khi liều lượng của hóa chất tạo ra hưng phấn, như Adrenaline, bị giảm hạ. Thứ năm, sự cố nầy thay đổi, trong chiều hướng thuận lợi, mỗi lần bà mẹ bị đánh thức, đứng dậy và  di chuyển từ chỗ nầy qua chỗ khác.

Xuyên qua bao nhiêu nhận xét ấy, bà mẹ chỉ là một biến số trong một phương trình mà thai nhi cần giải quyết. Ngoài ra, hoàn toàn khác với thai nhi “thông thường, thuộc số đông”, thai nhi có mầm mống tự kỷ không có những xúc động lo âu và khắc khoải về sức khoẻ và vận mệnh của bà mẹ.

Sau khi ra khỏi tử cung của bà mẹ, hài nhi cũng chỉ lặp lại một thói tục đã được thai nhi học đi học lại, trong suốt thời gian chín tháng mười ngày.

2) Triệu chúng thứ hai  là những điệu bộ và cử động đu đưa qua lại, từ trước ra sau, từ bên phía nầy qua phía bên kia, hay là cúi xuống và ngẩng lên, một cách liên tục và đều đặn.

Phải chăng khi làm những điều ấy, hài nhi đang tạo lại cho mình những cảm nghiệm thanh nhàn, vui sướng đã xảy ra cho thai nhi, trong suốt chu kỳ hưng phấn và sảng khoái. 

3) Triệu chứng thứ ba là cắn mạnh vào lưng bàn tay và gây ra những thương tích.

Trong những lúc bị ngột ngạt và ngưng thở, thai nhi đã có thói quen dùng hai bàn tay làm những cử động múa máy, vẫy qua vẫy lại, hay là cho vào miệng bú mút… Càng bú và mút mạnh, thai nhi càng có thêm liều lượng Adrenaline. Lúc bấy giờ, thai nhi chưa có răng. Những cử động ấy không làm thiệt hại bao nhiêu, ngoài những cái lợi thực tiển, có khả năng làm giảm hạ những xúc động căng thẳng. Trái lại, khi hài nhi đã có một vài cái răng, những cử chỉ và bộ điệu bú mút với vận tốc nhanh và mạnh có thể tạo nên những vết thương lở lói và bị nhiễm trùng.

4) Triệu chứng thứ bốn là bám chặt vào những thói quen, những nghi thức, những chương trình. Hệ quả là trẻ em có nguy cơ tự kỷ, dễ bùng nổ, tức giận, khóc la om sòm… khi có những thay đổi nhỏ nhặt xảy ra trong cuộc sống thường ngày.

Để hiểu rõ nguồn gốc của triệu chúng nầy, chúng ta hãy đi theo trẻ em, trở lui với cuộc sống trong bào thai, vào những ngày đầu tiên, khi cơ quan trí nhớ ngắn hạn không còn bị phong tỏa và vô hiệu hóa. Sở dĩ như vậy, vì Hệ Miễn Nhiễm của bà mẹ cần phải được tái lập, với bất cứ giá nào, do yêu cầu của tình trạng sức khoẻ của cả hai mẹ con.

Sau khi trí nhớ trở lại tình trạng bình thường, thai nhi có mầm mống tự kỷ có thể nhớ tất cả những gì xảy ra, trong cuộc sống hằng ngày của hai mẹ con. Thai nhi có thể tiên liệu, tiên phòng tất cả. Không có gì có thể xảy ra, ngoài thứ tự và chương trình mà thai nhi có thể dự liệu. Chính khả năng ấy tạo ra cho thai nhi một cảm nghiệm “an toàn tuyệt đối, bất khả xâm phạm”. Trẻ em có nguy cơ tự kỷ, khi thoát ra khỏi lòng mẹ, vẫn mang theo những nhu cầu an toàn, ấy được ghi khắc vào sâu trong các tế bào của Não Bộ Hệ Viền.

5) Triệu chứng thứ năm có những liên hệ mật thiết với Khứu và Thính giác. Thứ nhất trẻ em có nguy cơ tự kỷ, thường có xu thế “NGỬI, HÍT”, để tìm lại những dấu vết quen thuộc của mình hay là để kiểm chứng tính chất bất biến và thương hằng thường trụ của người và vật dụng được yêu chuộng. Phải chăng đó là vết tích trong cách làm của thai nhi : dựa vào mùi nồng cay và khó chịu , để tiên liệu sự cố ngột thở và ngưng thở và tìm cách đối phó.

Ngoài ra, trẻ em tự kỷ cũng thường có thói quen bịt tai lại, khi nghe những âm thanh thuộc tấn số trầm và thấp, vì đây là những tần số không được ghi nhận trong não bộ đặc trách về thính giác của thai nhi trong tử cung. Vì mới lạ, những tần số nầy bị trẻ em từ chối và loại thải, bằng cách bịt tai lại.

 

Phần thứ Tư : Phương thức Chuyển Hóa

Nhằm kết thúc Chương thứ Sáu nầy, tôi cố gắng nối dài lối nhìn của tác giả Douglas M. ARONE, bằng cách sơ phác một vài phương hướng chuyển hóa, nhằm giúp trẻ em có nguy cơ tự kỷ vượt qua những khó khăn của mình, trước khi đi vào giai đoạn 7 tuổi. 

Suốt thời gian 9 tháng của thai nhi, trong tử cung của bà mẹ, nguy cơ tự kỷ đã được ghi nhận và khắc sâu vào các tế bào thần kinh, thuộc não bộ hệ viền, như những chương trình, trong máy vi tính.

Trong lứa tuổi từ 0 dến 7 năm, khi mọi tế bào thuộc hệ thần kinh trung ương còn ở trong tình trạng uyển chuyển, dễ uốn nắn, một số lớn tế bào bị loại thải, vì không còn thích ứng với cuộc sống và nhu cầu hiện tại, do môi trường đòi hỏi. Một số khác, vì thực tế của môi trường, cần đổi mới hay là điều chỉnh lại những chương trình của mình. Một số sau cùng được củng cố và tăng cường, để thực hiện chức năng của mình, một cách hữu hiệu hơn. 

Một cách đặc biệt, những tế bào thần kinh có chương trình tự kỷ đã được ghi khắc, trong thời gian thai nhi ở trong tử cung, bây giờ cũng phải được tái điều hướng và điều hợp, trong 3 chiều hướng vừa được trình bày. Nếu biết can thiệp một cách hữu hiệu, đúng lúc và đúng với nhu cầu cơ bản của trẻ em, môi trường có thể sáng tạo điều kiện thuận lợi, nhằm giúp trẻ em vượt qua hay là chuyển hóa những nguy cơ tự kỷ của mình.

 

Chúng ta có 3 cách làm:

Thứ nhất, chúng ta KHÔNG củng cố và tăng cường những chương trình lo sợ và bất ổn, thuộc chu kỳ phát triển thứ nhất của thai nhi. Tự khắc, một số tế bào sẽ dần dần bị loại thải. Chúng ta không cũng cố, bằng cách loại trừ trong quan hệ giữa chúng ta và trẻ em những lời nói và thái độ tố cáo, kết án, trừng phạt, đánh đập, bôi nhọ, đàn áp...

Thứ hai, chúng ta cũng cố và tăng cường tối đa những yếu tố tích cực và năng động, có mặt trong chu kỳ hứng khởi và vui sướng của thai nhi. Nói cách khác, chúng ta có mặt với trẻ em, tạo an toàn cho trẻ em, biết khen thưởng trẻ em, phản ảnh, gọi ra ngoài những xúc động vừa hiện hình trong nội tâm của trẻ em. Ngoài ra, với những sinh hoạt Tâm Vận Động bình thường, chúng ta cho phép trẻ em thực thi những động tác nhảy vọt, quay tròn, leo lên, tuột xuống. Những trò chơi như chiếc đu, chiếc võng, con ngựa gỗ để cưỡi và nhún lui nhún tới… cần được trang bị đầy đủ, bằng số lượng cho mỗi lớp học. Những điệu vũ, điệu múa cũng cần được phát huy cho từng nhóm nhỏ. Nói tóm lại, chúng ta thỏa mãn những nhu cầu vận động của trẻ em. Cho phép trẻ em trở lui với chu kỳ hưng phấn và sảng khoái của thai nhi.

Sau cùng, chúng ta chuyển hóa những gì là tự động và máy móc, trong mỗi hành vi của trẻ em, bằng cách trở thành một đối tượng vui thích cho trẻ em, có mặt với trẻ em, phản ảnh trẻ em, lặp lại cách phát âm của trẻ em.

Nói tóm lại, chúng ta sáng tạo cho trẻ em, vì trẻ em và với trẻ em. Lời nói của Simone Weil đáng được chúng ta chọn làm của mình : « Không phải con đường chúng ta đi đầy tràn khó khăn. Nhưng chính khó khăn phải trở thành con đường đi của chúng ta ». Nói cách khác, chúng ta biến khó khăn thành một tiếng nói thân thương gọi mời chúng ta vươn lên, mở rộng chân trời cho chính mình và cho trẻ em đang có nguy cơ tự kỷ.

 

 

Sách Tham Khảo :

 

1- Arone, Douglas M.  -  The Theorem  - 

O Books 2005, Winchester UK

 

2- Sách của Schopler, Eric

 

- Profil Psycho-éducatif (PEP-R)  - 

De Boeck et Larcier 1994, Bruxelles Belgique

 

- Stratégies éducatives de l’autisme  - Masson, Paris 2002

 

- Activités d’enseignement pour enfants autistes  - Masson, Paris 2001

 

- L’autisme  -  P.U. F. Paris 1991

 

3- Sách của Jonhson, Spencer

 

- Yes or No, the guide to better decisions    HarperCollins, New York 1993

 

- The one minute teacher  -  HarperCollins, London 2005

4- Sách về Hội Chứng Tự kỷ:

 

- Amy, Marie-Dominique  -  Comment aider l’enfant autiste  - Dunod, Paris 2004

 

- Aussilloux, Charles  -  Comment vivre avec une personne autiste  -  Ed. Josette Lyon, Paris 2005

 

- Barthelemy, Catherine  -  L’autisme de l’enfant – La thérapie d’échange et de développement  -  Expansion S.F. Paris 1995

 

- Golse, Bernard  -  Autisme, état des lieux et horizons  -  Érès, Paris 2005

 

- Fatherty, Catherine  -  Asperger, qu’est-ce c’est pour moi  - AFD 2005

 

- Jordan, Rita  -  Les enfants autistes  -  Masson, Paris 1997

 

- Lenoir, Pascal  -  L’autisme et les troubles du développement psychologique  -  Masson, Paris 2003

 

-  Nguyễn văn Thành – Trẻ em Tự kỷ  - Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2006

 

- Tardif, Carole  -  L’autisme  -  Armand Colin, Barcelone 2005

 

 

5- Sách về Tâm Vận Động :

- Aucouturier, Bernard  -  La méthode Aucouturier  - De Boeck, Bruxelles 2005

 

- Defontaine, Joel  - La Psychomotricité en bandes dessinées  - Maloine, Paris 1979

 

- DE Lièvre, Bruno  -  La psychomotricité au service de l’enfant  -  De Boeck, Bruxelles 1993

 

- Gassier, Jacqueline  -  A guide to the Psycho-Motor Development of the Child  C.Livingstone, New York 1984

 

- Herren, H  -  La stimulation psychomotrice du nourrisson  -  Masson, Paris 1980

 

- Juhel, Jean-Charles  - Favoriser le développement de l’enfant, Psychomotricité et Action éducative

 

- De Meur,  A  -  Psychomotricité, éducation et rééducation  -  De Boeck, Bruxelles 1991

 

6- Sách về sư phạm và giáo dục :

- Bonnet, Yannik  -  Les neuf fondamentaux de l’éducation  - Presses de La Renaissance, Paris 2002

 

- Biddulph, Steve  -  The secret of happy children  -  Thorsons, London 1984

 

- Bidduloh, Steveve  -  More secrets of happy children  -  Marlowe, New York 2003 

 

- Froehlich, Andreas  -  La stimulation basale - I.L. Suisse 1987

 

- Mainardi, Michèle  -  Relation éducative et handicap mental  -  Ed. Secrétariat Suisse de Pédagogie Curative, Lucerne 1984

 

Cùng một tác giả

 

Trong Tủ Sách Tình Người,

Lausanne Thụy Sĩ :

 

  1. Đường vào Nội Tâm với Phân Tâm Học, 1997

 

  2. Phát huy Nhân Lực, 1998

 

  3. Đối Thoại : Quê Hương Tình Người, 1999

 

  4. Lắng Nghe, 1999

 

  5. Quan hệ Mẹ-Con, 2000

 

  6. Tự Tin, 2000

 

  7. Khung Trời Mở Rộng, 2000

 

  8. Nguyễn Trãi và vấn đề giáo dục con cái, 2001

 

  9. Bản đồ Tâm Lý và Tư Duy sáu màu, 2002

 

10. Tư Duy và Hành Động, 2002

 

11. Đồng Cảm để Đồng Hành, 2003

 

12. Sơn Tinh và Thủy Tinh : Hai con đường một Nước Non,   2003

 

13. Le projet pédago-éducatif, 1997

 

 

Trong Định Hướng Tùng Thư,

Strasbourg Pháp :

 

14. Đối Thoại với các Tôn Giáo, 1998

 

15. Nguyễn Trãi : Một Tấm Lòng, 2001.

 

Tất cả mọi tác phẩm trên đây đều được nộp lưu chiếu tại hai thư viện Thụy Sĩ :

 

o        Bibliothèque Nationale Suisse, Hallwyuistrasse 15,  3003 Berne.

 

o         Bibliothèque Cantonale et Universitaire - Lausanne, Place de la Riponne 6, 1000 Lausanne 17.

 


Lời Nói Cuối :

YÊU THƯƠNG là một Động Từ  

 

« Bất kỳ một câu hỏi nào được nêu lên, Thương yêu là câu trả lời,

« Bất kỳ một vấn đề gì xuất hiện, Thương yêu là câu trả lời,

« Bất kỳ một cơn bệnh nào đang đe dọa và hoành hành, Thương yêu là câu trả lời,

« Bất kỳ một nỗi đớn đau nào đang tiến lại, Thương yêu là câu trả lời,

« Bất kỳ một xúc động sợ hãi nào đang trào dâng, Thương yêu là câu trả lời,

« Thương yêu luôn luôn là câu trả lời, trong mọi tình hưống, vì chỉ có Thương yêu là Tất Cả ».

Tôi xin mượn câu nói của tác giả G. G. JAMPOLSKY để kết thúc cuốn sách bàn về « Nguy Cơ Tự kỷ ». Và câu nói ấy cũng có thể tóm gọn một cách khéo léo, tất cả mọi dự án can thiệp và dạy dỗ, mà tôi đã trình bày, từ trang đầu tiên đến đọan cuối cùng.

Thế nhưng, Thương yêu có nghĩa là gì, trong toàn bộ tác phẩm nầy ?

Chắc hẳn, đó không phải là một ý niệm thuần đơn, hoàn toàn lý thuyết và trừu tượng. Đó cũng không phải là một câu nói ở đầu môi chót lưỡi mà thôi. Phải chăng đó chỉ là một « ý đồ », mà tôi muốn áp đặt cho kẻ khác, khi chính con người đích thực của tôi đang tràn đầy chất liệu bạo động và kết án, tố cáo và ức chế ?

Để cảm nghiệm trong từng tế bào và thớ thịt, thế nào là Thương yêu, chúng ta hãy ngày ngày trở lại với cách làm của Tổ Tiên và Cha Ông : Thương yêu là Trời có khả năng mang ánh sáng và hơi ấm cho con cái. Thương yêu cũng là Đất, có khả năng ấp ủ và vun trồng tình người và tính người đang có mặt trong cõi lòng của trẻ em, mà chúng ta giáo dục và dạy dỗ. Chúng ta hãy làm Trời, để cho trẻ em sống lại chu kỳ hạnh phúc của mình, trong cuộc sống của bào thai. Chúng ta hãy làm Đất, để tạo an toàn tối đa cho trẻ em, khi chu kỳ Lo Sợ đang nổi sóng gió, bão bùng và tràn ngập nội tâm của trẻ em. Thương yêu đích thực và trọn vẹn là một Động Từ, chứ không phải là một ý niệm thuần đơn, một nhãn hiệu khô cằn. Động từ trong Anh ngữ, Pháp ngữ, cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác, thay hình đổi dạng, tùy vào vị trí và thời gian, cũng như  tùy vào cảm tình và ý định của mỗi chủ thể. Thương yêu của chúng ta cũng có khả năng chuyển hóa giống như vậy, nếu Thương yêu có mặt trong mọi quan hệ tiếp xúc và trao đổi của chúng ta với trẻ em. Cho dù trẻ em có nguy cơ tự kỷ, đến cấp độ nào chăng nữa, nếu nhận đủ liều luợng  và chất lượng Thương yêu của chúng ta, trẻ em sẽ chuyển hóa, trong chiều hướng thành người.

Chất lượng Thương yêu có mã lực chuyển hóa, nếu Thương yêu ấy không kết án, trừng phạt, đe dọa, cưỡng chế và loại trừ. Về mặt tích cực, Thương yêu trước hết là XIN chứ không phải là đòi hỏi, đặt điều kiện. Thứ hai Thương yêu là CHO, một cách hồn nhiên và hạnh phúc, những gì đang có mặt trong điều kiện thực tế và thực tại của chúng ta. Thứ ba, Thương yêu là NHẬN những gì trẻ em đang cho, thuộc cây nhà lá vườn của mình. Thậm chí trong tình huống hiện tại, những quà tặng mà trẻ em mang đến cho chúng ta, đang chỉ là những bức họa nguệch ngoạc, những bộ mặt méo xèo hay là những triệu chứng đáng lo ngại. Trong lòng biển mặn bao la của Thương yêu, mọi phế liệu sẽ dần dần được chuyển hóa, bằng cách này hay cách khác. Ngoài ra, quà tặng mà trẻ em mang đến, cũng có thể là những xúc động lo sợ, buồn phiền, tức giận, trầm cảm. Tuy nhiên, đằng sau những xúc động tê liệt và tiêu cực ấy, đang thấp thoáng những lời xin, những thú nhận :  « Mẹ ơi, Ba ơi, con đang cần… nhưng con không biết con đang cần gì, con không biết gọi tên làm sao. Cách con nói là những tiếng thét la, những điệu bộ, những cử chỉ lắc qua lắc lại ».

Sau cùng Thương yêu cũng có nghĩa là Từ Chối, nói Không, khi trẻ em có những hành vi bạo động, đập đánh, hủy hại, hoặc trên chính bản thân mình, hoặc trên một em bé khác. Theo lối nói của Steve BIDDULPH, Thương yêu vừa Cương, vừa Nhu. Vừa biết cho. Nhưng đồng thời, Thương yêu cũng là qui luật, giới hạn hay là cấu trúc, như lối nói thời trang thường được sử dụng, trong lãnh vực giáo dục và sư phạm đương đại.

Trong tinh thần và ý hướng ấy, nhằm kết thúc cuốn sách này, sau khi đã khẳng định lối nhìn của mình, tôi xin nghiêm cung và cẩn trọng lắng nghe lời dạy bảo của Tổ Tiên và Cha Ông, trong truyền thống Lạc Hồng :

« Con hãy lấy Hạnh của Đất mà sống :

Đất bị người người khạc nhổ, nhưng vẫn kết sinh hoa lợi cho người người ấm no.

« Con hãy lấy Hạnh của Nước mà sống :

 

Nước chấp nhận mang vào mình vết nhơ của bao nhiêu bàn tay, để đem về tẩy luyện trong lòng Biển Mặn.

« Con hãy lấy Hạnh của Khí mà sống :

 

Khí đi vào bên trong lòng mỗi người, để mang dưỡng sinh cho từng tế bào, từng hạt máu, không quên sót một ai.

« Con hãy lấy Hạnh của Trời mà sống :

 

Trời ở trên cao thật cao. Nhưng đồng thời, Trời ở dưới thấp thật thấp. Không có Trời, con không có chi hết. Nhưng chính Trời cũng không có chi hết. Trời trống không, để gọi mời con trở thành Diệu Hữu.

« Con hãy lấy Hạnh của Lữa mà sống :

 

Ai ấm áp cho bằng Lữa ? Nhưng ai khinh thường Lữa, tự khắc người ấy rước họa vào mình. Lữa không phải là Trời. Nhưng Lữa thay thế Trời, khi con ở trong đêm tối và trải qua những ngày đông lạnh lẽo.

« Con hãy lấy Hạnh của Đêm mà sống :

 

Nhờ đêm, một ngày mới bắt đầu trở lại, sau khi nhọc lụy được giấc mơ ủi an, ấp ủ và chuyển hóa. Nhờ Đêm, mắt con mới thấy được rằng : Tên con đã được viết sẵn bằng ánh sao lấp lánh, giữa Đại Duơng Ngân Hà của Vũ Trụ.

« Con hãy lấy Hạnh của Mẹ mà sống :

 

Mẹ là người để cho con học thương và học ghét. Thương mà không bị mất mát và bó buộc. Ghét mà không sợ bị loại thải và bỏ rơi. Thương Mẹ, không phải vì Mẹ vô tì tích. Ghét Mẹ, không phải vì Mẹ là tinh yêu ma quái. Trong người Mẹ dễ thương, còn nhiều chỗ, để cho con học ghét. Trong người Mẹ dễ ghét, còn vô số điểm, để cho con học thương. Nhờ biết thương và biết ghét, con mới học được bài học làm người ».

Lausanne, Mùa Xuân, tháng hai 2006

Nguyễn Văn Thành

 


DỤNG CỤ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG BẢNG LƯỢNG GIÁ

 

 

STT

 

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

 

Tiết mục sử dụng số

 

Tìm mua tại 

 
 

1.      

Chai nước xà phòng thổi bóng

 

1 - 2 - 3 - 4

Cửa hàng đồ chơi

 

2.      

 

Khối logic hình vuông, tròn, tam giác

 

5 - 19

20 - 21 - 22

Cửa hàng đồ dùng dạy học

(ĐDDH)

 

3.      

Ống nhìn vạn hoa, vạn sắc

 

6 - 7

Cửa hàng đồ chơi

 

4.      

 

Chuông

 

8

Cửa hàng đồ chơi

 

5.      

Đất sét công nghiệp

 

9 - 11 - 12

Cửa hàng ĐDDH

 

6.      

Que tính bằng gỗ hay nhựa

 

10

Cửa hàng ĐDDH

 

7.      

Rối “găng tay“ mèo hay chó

13 - 14 - 16

18

Cửa hàng đồ chơi

 

8.      

Muỗng, cốc nước, bàn chải răng, khăn giấy

 

15

 

Cửa hàng tạp hóa

 

9.      

Bảng lắp ráp khung lõm 4 hình : gà, dù, bướm, trái lê

 

23 - 24

 

Cửa hàng đồ chơi

 

 

 

 

STT

 

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

 

Tiết mục sử dụng số

 

Tìm mua tại 

 
 

10.     

Hình lắp ráp con mèo 4 mảnh

 

29 - 30

Cửa hàng đồ chơi

 

11.     

Hình lắp ráp con bò 6 mảnh

 

31

Cửa hàng đồ chơi

 

12.  

5 hình khối và 5 dĩa nhựa có màu khác nhau: đỏ -xanh da trời - xanh lá  vàng - trắng

32 - 33 - 34

 

Cửa hàng ĐDDH. Cửa hàng tạp hóa

13.     

“Phách” gõ nhịp

35 - 36

Cửa hàng ĐDDH Cửa hàng dụng cụ âm nhạc

 

14.     

Quả banh nhựa

d = 25cm

43 - 44 - 45 46 - 47 - 48

Cửa hàng đồ chơi

 

15.     

 

Cầu thang không tay vịn

 

49

Tìm bậc thang bất cứ nơi nào

 

16.     

Ghế dựa có chiều cao phù hợp

 

50

Cửa hàng đồ nhựa

 

17.     

Chiếc khăn lớn chơi trốn tìm

 

52

Cửa hàng tạp hóa

 

18.     

Ly nhựa đục, hay chiếc khăn dầy.  Một đồ chơi cất dấu

 

53 - 60

 

Cửa hàng tạp hóa

 

 

STT

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

Tiết mục sử dụng số

Tìm mua tại 

 

19.     

 

Tấm gương soi

 

54

Cửa hàng tạp hóa

 

20.     

 

Còi

 

57 - 58

Cửa hàng đồ chơi

 

21.     

Kẹo để trong hộp nhựa trong suốt

 

61

Cửa hàng tạp hóa

 

22.     

 

Dây dù

 

62

Cửa hàng tạp hóa

 

23.     

Xâu hạt cườm có trụ xỏ hay que gỗ. Giấy vẽ. Bút chì màu

 

63 - 64 - 65 66 - 67 - 68

 

Cửa hàng ĐDDH

 

24.     

Giấy và bút nỉ màu Vẽ sẵn hình con Thỏ – 4 hình cơ bản: tròn, vuông, tam giác, chữ nhật

 

71 - 72 - 73  74 - 75 - 76  77 - 78 - 79  84  - 85

 

Cửa hàng ĐDDH

 

25.     

 

Dùng 9 chữ cái – Chữ hoa H I V D U E Y S

 

80 - 81 - 82 83

Cửa hàng đồ chơi Bitis  

Cửa hàng đồ chơi bằng gỗ

 

26.     

 

Giấy và kéo cắt

 

86

Cửa hàng tạp hóa

 

 

 

 

STT

 

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

 

Tiết mục sử dụng số

 

Tìm mua tại 

 
 

27.     

Một bao vải khá rộng + 5 vật dụng: bút chì, khối vuông, quả banh nhỏ, bút nỉ có nắp đậy, tách

 

87 - 88

 

Cửa hàng ĐDDH

Cửa hàng đồ chơi

 

28.     

Tấm khung

8 phần thân thể của bé trai: tóc thân, đầu, mình, tay…

 

89

 

 

Cửa hàng ĐDDH

 

29.     

12 khối vuông nhỏ bằng gỗ hay nhựa

93 - 94 - 95 96 - 97

Cửa hàng ĐDDH

 

30.     

8 khối vuông cùng màu – 6 con cờ màu đen – 2 hộp nhựa trong suốt

 

98 - 99

134

 

Cửa hàng ĐDDH

 

31.     

Một chiếc kẹo

3 tấm khăn dầy hay 3 chiếc ly  nhựa màu xám đục

 

108 - 109

 

Cửa hàng ĐDDH

 

32.     

Còi, banh, trống, chìa khóa, cái lược

 

110

Cửa hàng đồ chơi

 

33.     

 

Một chuông nhỏ

 

111 - 112

Cửa hàng đồ chơi

 

 

 

STT

Tên dụng cụ

I- Dụng cụ mua

Tiết mục sử dụng số

Tìm mua tại 

34.     

Phách gõ nhịp, chuông, muỗng

113

Cửa hàng dụng cụ âm nhạc

35.     

Cuốn tập hay cuốn sách có hình ảnh

120 - 121 122 - 133

Cửa hàng sách

36.     

Một trái banh, 1 ly nhựa, chó múa rối, hộp lớn đựng ly

128 - 135

Cửa hàng đồ chơi

37.     

Thức uống, 2 ly , bánh ngọt, một cái lượt, bọt xà phòng

132

Cửa hàng tạp hoá

38.     

Chiếc khay hay hộp lớn

141

Cửa hàng tạp hoá

 

  

STT

Tên dụng cụ

II- Dụng cụ sáng tạo

Tiết mục sử dụng số

Cách

làm  

1.      

10 tấm giấy ghi từ sô 1 đến số 10

105

Sáng tạo

2.      

10 hình ảnh của 5  vật: còi – banh  trống –  chìa khóa   – lược

110

Chụp ảnh vật dụng

3.      

12 tấm hình với 4 hình thể khác nhau: vuông - tròn tam giác - thoi

Các tấm hình có 3  màu sắc khác nhau: xanh lục đỏ vàng

114

Chụp ảnh các khối đủ màu

4.      

7 hình ảnh của 7 vật dụng: chiếc giày, ly nhựa, bàn chảy răng, bút chì, kéo lược

115 - 116 117 - 118

Chụp ảnh 7 vật dụng

5.      

Sáng tạo 4 từ trên giấy: BÁNH – MỘT BA – ÁO

136

Tự thực hiện

6.      

Sáng tạo những câu ngắn:

Tuyết có áo đẹp

Tuyết đã chơi banh

Mai ở nhà với cha mẹ và đứa em

Mai nhặt trái banh và bỏ vào hộp

137 - 138 139 - 140

Tự thực hiện viết câu trên giấy

 

 

STT

Tên dụng cụ

III- Dụng cụ đặt làm

Tiết mục sử dụng số

Cách

làm  

1.      

Mảnh gỗ lắp ráp hình 3 bao  tay

Trên đó có 3 kích cỡ hình chữ nhật : lớn nhỏ- trung bình

25 - 26

27 - 28

 

Đặt cửa hàng đồ gỗ

2.      

Ghế trệt có 4 bánh xe di chuyển (ngồi và di chuyển bằng chân)

51

Đặt làm nơi thợ mộc